Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH SÁN LÁ PHỔI.

(PARAGONIMIASIS).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

CHỨNG BỆNH CHÂN MADURA

(MADURA FOOT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

MỘT BỘ PHẬN NGỰC GIẢ BIẾN MẤT TRONG KHI TẬP MÔN THỂ DỤC PILATES.

(DISAPPEARANCE OF A BREAST PROSTHESIS DURING PILATES).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK).

MỘT VIÊN ĐẠN NẰM TRONG ĐẦU.

(A HEAD SHOT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

TÌNH TRẠNG MÙ SAU KHI TIÊM MỠ

(BLINDNESS AFTER FAT INJECTION)

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH GÚT CÓ SỎI.

(TOPHACEOUS GOUT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH PHÌNH TRƯỚNG XƯƠNG KHỚP

(HYPERTROPHIC PULMONARY OSTEOARTHROPATHY) .

Nguồn (Source): www.nejm.org

About

Tuesday, April 4, 2017

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN - Do LQT Biên Dịch



BỆNH UNG THƯ KAPOSI Ở KHOANG MIỆNG

Một người đàn ông 33 tuổi xuất hiện tại khoa cấp cứu với tình trạng mệt mỏi và những thương tổn ở khoang miệng và ở da. Kiểm tra tổng quát tiết lộ nhiều mảng màu tím, cứng, chạm vào không đau ở vòm miệng và nướu răng. Bệnh nhân có những thương tổn tương tự ở mặt, thành ngực, và hai chân.


Các kiểm tra xét nghiệm cho thấy bệnh nhân bị chứng giảm bạch cầu (leukopenia) (số đo bạch cầu: 2900/mm3, phạm vi bình thường: 4000 đến 11000) và số đo tế bào CD4 là 76/mm3 (phạm vi bình thường: 430 đến 1276). Bệnh nhân được chẩn đoán bị nhiễm HIV. Sinh thiết da và các thương tổn ở miệng tiết lộ bị ung thư tế bào con thoi (spindle-cell neoplasm), dương tính với CD34 và HPV 8 khi tiến hành xét nghiệm hóa mô miễn dịch (immunohistochemical test) – các kết quả phù hợp với bệnh ung thư Kaposi (Kaposi’s sarcoma).

Bệnh nhân đã được trị liệu kháng retrovirut (antiretroviral therapy) và hóa trị. Bệnh ung thư Kaposi, một bệnh ung thư chỉ ra tình trạng suy giảm miễn dịch, là do virut HPV 8 gây ra. Các thương tổn ở da có thể xuất hiện đơn lẻ hoặc đi kèm với các thương tổn nội tạng ở khoang miệng, đường tiêu hóa, và hệ hô hấp. Sự xuất hiện bệnh ung thư Kaposi nghiêm trọng ở miệng, như trong trường hợp bệnh nhân này, được xem có tiên lượng kém.

Sau nhiều tháng điều trị, các khối u ở bệnh nhân này đã giảm kích thước. Vài tháng sau khi hoàn tất hóa trị, bệnh nhân tiếp tục tiếp nhận trị liệu ART, với số lượng CD4 tăng lên và các thương tổn ở da cũng như ở miệng không tiến triển thêm.


Bác sĩ y khoa Elizabeth Kennedy-LeJeune
Bác sĩ y khoa Vince D. Cataldo
Louisiana State University Health Sciences Center, Baton Rouge, LA




VIÊM HỆ BẠCH HUYẾT Ở BỤNG

Một phụ nữ 52 tuổi xuất hiện với một thương tổn ở bụng, chạm vào đau và nổi ban đỏ; kết quả kiểm tra cho thấy một mảng cứng, ấm lan đến vú bên trái (Hình A). Một người đàn ông xuất hiện với thương tổn tương tự ở bụng; khi kiểm tra, một mảng ban đỏ ấm với chỗ loét nhỏ ở trung tâm được lưu ý, mảng ban đỏ này kéo dài đến nách phải (Hình B). Cả hai bệnh nhân trước đây khỏe mạnh, không có tiền sử bị ung thư hoặc suy giảm khả năng miễn dịch. Cả hai bệnh nhân đều nhớ rằng gần đây không bị côn trùng cắn, bị sốt, hoặc có các triệu chứng hệ thống (systemic symptom).


Ở cả hai bệnh nhân, kết quả xét nghiệm cho thấy bị tăng bạch cầu (leukocytosis) với bạch cầu trung tính chiếm đa số. Bệnh nhân đã được chẩn đoán lâm sàng bị viêm mô bào (cellulitis) đi kèm viêm hệ bạch huyết (lymphangitis). Viêm hệ bạch huyết bị gây ra bởi một sự nhiễm khuẩn bắt đầu bằng việc tiêm khuẩn (inoculation of bacteria) qua da. Các biểu hiện lâm sàng tương tự có thể được nhìn thấy ở trường hợp viêm hạch bạch huyết (nodular lymphangitis: do các sinh vật Sporothrix schenckii và các loài nocardia gây ra), viêm hệ bạch huyết do u ác tính (neoplastic lymphangitis hoặc lymphangitis carcinomatosa), hoặc phản ứng quá mức khi bị động vật chân đốt cắn, đặc biệt ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch hoặc bị ung thư. Một phác đồ dẫn lưu bạch huyết thành bụng được mô tả trong Hình C.

Cả hai bệnh nhân đã được điều trị bằng thuốc kháng sinh và thuốc kháng viêm không steroid uống bằng miệng cho tình trạng viêm hệ bạch huyết được cho rằng có liên quan đến sự nhiễm khuẩn. Trong vòng một tuần, các thương tổn ở cả hai bệnh nhân đã hoàn toàn biến mất, và không để lại sẹo.


Bác sĩ y khoa Claudia Bernárdez
Hospital Fundación Jiménez Díaz, Madrid, Tây Ban Nha
Bác sĩ y khoa David Saceda-Corralo
Hospital Ramón y Cajal, Madrid, Tây Ban Nha



PHÌNH MẠCH NỘI SỌ KHỔNG LỒ DO HUYẾT KHỐI

Một người phụ nữ 79 tuổi xuất hiện với tiền sử 1 năm bị suy giảm thần kinh từng bước, bao gồm bị lẫn lộn, giảm trí nhớ, mất thăng bằng, và mất khả năng kiểm soát các chức năng bài tiết (incontinence). Khi kiểm tra, bệnh nhân chỉ biết bản thân mình là ai, và bị rối loạn ngôn ngữ không lưu loát (nonfluent aphasia) ở cấp độ nhẹ.

Hình chụp CT không sử dụng chất cản quang cho thấy một khối lớn ở thùy trán và thùy thái dương bên trái với các khu vực bị vôi hóa (Hình A). Hình chụp CT mạch (Hình S1) và MRI (Hình B và C) cũng cho thấy một khối u (với kích thước 3,8 cm × 6,2 cm × 3,9 cm) mà không tăng độ tương phản (contrast enhancement: tăng sự phân phối giá trị hình ảnh để bao phủ một phạm vi rộng) hoặc chất cản quang chảy vào khoang trong, điều này làm tăng nghi ngờ bị phình mạch do huyết khối (thrombosed aneurysm), mà xem ra bắt nguồn từ sự phân 2 nhánh của động mạch não giữa.


Các băng tín hiệu T2 được điều chỉnh (T2-weighted signal) (Hình C) khác nhau cho thấy các đợt sếp tầng của các sản phẩm máu. Chụp X-quang mạch truyền thống và tái cấu trúc 3D không cho thấy hiện tượng phình mạch còn sót lại và tắc nghẽn chỗ phân nhánh phía trước của động mạch não giữa do tác động đè nén của khối u, cùng với hiện tượng chảy ngược (retrograde filling) từ các nhánh bên màng não tủy mềm của động mạch não trước (xem hình).

Sau khi thảo luận với gia đình của bệnh nhân, quyết định đã được đưa ra để quản lý một cách thận trọng tình trạng phình mạch và để đối phó với tình trạng não úng thủy (hydrocephalus: tràn dịch não tủy trong não) bằng cách dẫn lưu não thất màng bụng (ventriculoperitoneal shunt) và phẫu thuật mở vách qua thùy trán nội soi (endoscopic transfrontal septostomy). Tình trạng thần kinh của bệnh nhân đã được cải thiện sau lần thăm khám theo dõi tại bệnh viện.


Bác sĩ Yasunori Nagahama
Bác sĩ Matthew A. Howard, III
University of Iowa Hospitals and Clinics, Iowa City, IA, Hoa Kỳ



NHIỄM KHUẨN BORRELIA RECURRENTIS

Sau khi bị té ngã ở Munich, nước Đức, một trẻ nam tị nạn người Xômali 16 tuổi đã được đưa đến một bệnh viện địa phương với tình trạng bị nhức đầu và đau bụng nghiêm trọng. Các dấu hiệu sinh tồn nổi bật với thân nhiệt là 41°C, số lần tim đập mỗi phút (heart rate) là 105, huyết áp 95/50 mm Hg, và độ bão hòa oxy là 98% khi bệnh nhân đang hít thở không khí ở môi trường xung quanh.

Khi kiểm tra, bệnh nhân có biểu hiện bị giảm nhận thức và đau bụng khi chạm vào. Xét nghiệm có các kết quả đáng chú ý với chứng tăng bạch cầu (>17×109 bạch cầu/lít), tăng mức protein C-reactive 250 mg/L, mức procalcitone là 17,6 ng/mL, và giảm tiểu cầu (47×109 tiểu cầu/lít).


Kết quả xét nghiệm máu (blood smear) không thấy có sự hiện diện của các ký sinh trùng bệnh sốt rét, nhưng có thể nhìn thấy các vi khuẩn spirochetes (các mũi tên), phát hiện này cho thấy bệnh nhân bị sốt tái phát do rận/ve cắn (louse-borne relapsing fever). Chẩn đoán này đã được chứng thực bằng kiểm tra phản ứng chuỗi plymerase (polymerase-chain-reaction assay). Bệnh nhân đã được điều trị bằng thuốc doxycycline. Hiện tượng sốt và giảm huyết áp (hypotension) nhẹ phát triển ngay sau khi tiến hành điều trị, phù hợp với phản ứng Jarisch–Herxheimer, và đã giảm bớt sau khi được truyền dịch qua tĩnh mạch. Bệnh nhân đã hồi phục hoàn toàn.

Vi khuẩn Borrelia recurrentis là do rận (body lice) lây truyền. Con người là chủ thể duy nhất bị lây truyền. Sau một thời gian ủ bệnh khoảng 7 ngày, căn bệnh này có các đặc điểm là, các đợt sốt tái phát, nhức đầu, đau cơ và khớp, buồn nôn, và nôn mửa, mỗi đợt kéo dài khoảng vài ngày. Khi tình trạng bệnh này không được điều trị, thì tỷ lệ tử vong có thể lên đến 70%.


Bác sĩ y khoa Ulrich von Both
Bác sĩ y khoa Martin Alberer
Ludwig Maximilian University, Munich, Đức




HỘI CHỨNG DUBIN–JOHNSON

Một phụ nữ 48 tuổi, có cuộc hẹn làm phẫu thuật cắt bỏ túi mật bằng phương pháp soi ổ bụng (laparoscopic cholecystectomy), đã tiến hành kiểm tra đánh giá trước khi phẫu thuật và đã được phát hiện bị tăng bilirubin huyết liên hợp (conjugated hyperbilirubinemia).

Hàm lượng bilirubin tổng cộng trong máu là 4,6 mg/dL (79 μmol/L; phạm vi tham khảo: 0,2 – 1,2 mg/L [3 – 21 μmol/L]), và mức phản ứng trực tiếp là 2,4 mg/dL (41 μmol/L; phạm vi tham khảo là 0 – 0,3 mg/dL [0 – 5 μmol/L]). Các kết quả kiểm tra tổng quát, thời gian đông máu (prothrombin time) và chỉ số bình thường hóa quốc tế (international normalized ratio – INR), hàm lượng alanine aminotransferase và aspartate aminotransferase, alkaline phosphatase, và albumin trong máu là bình thường. Bệnh nhân đã báo cáo bị vàng da trong nhiều thập niên, nhưng không có các triệu chứng liên quan. Kiểm tra soi ổ bụng cho thấy bệnh nhân có gan trơn láng với độ cứng và các đặc điểm hình thái học bình thường nhưng có màu đen rất dễ nhận thấy (Hình A và video).


Mẫu sinh thiết gan cho thấy những hạt sắc tố, màu nâu đậm và thô khi nhuộm bằng phương pháp PAS (periodic acid–Schiff) (Hình B), chủ yếu ở tiểu quản mật (canalicular pole) của các tế bào gan và đặc biệt ở những vùng quanh khu vực trung tâm, với cấu trúc tiểu thùy được bảo quản tốt. Protein MRP2 (multidrug-resistance–associated protein 2) không thể hiện trong phân tích mô hóa miễn dịch kháng MRP2 (Hình C).

Bệnh nhân đã được chẩn đoán bị hội chứng Dubin-Johnson (Dubin–Johnson syndrome). Hội chứng này là một chứng rối loạn lặn nhiễm sắc thể thường (autosomal recessive disorder), do một sự đột biến ở protein MRP2 gây ra, từ đó dẫn đến hiện tượng MRP2 không thể hiện ở tiểu quản và suy giảm quá trình phóng thích bilirubin liên hợp vào mật. Những đột biến này làm tăng cục bộ mức bilirubin liên hợp trong máu và làm cho gan có màu đen, nhưng không có các di chứng (sequela) liên quan.


Bác sĩ, tiến sĩ Kazuhiko Morii
Bác sĩ Takeharu Yamamoto
Japanese Red Cross Society Himeji Hospital, Himeji, Nhật Bản



BỆNH GAI ĐEN VÀ TÌNH TRẠNG KHÁNG INSULIN

Một người phụ nữ 27 tuổi xuất hiện với tiền sử 2 năm bị bệnh gai đen (acanthosis nigricans) (Hình A và B), chứng rậm lông (hirsutism), và mất kinh nguyệt (amenorrhea).
































Các kết quả xét nghiệm cho thấy mức insulin (>200 μU/mL [1389 pmol/L]) (phạm vi bình thường, 2 – 13 μU/mL [14 – 90 pmol/L]) và mức testosterone tăng (649 ng/dL [22,5 nmol/L]) (phạm vi bình thường: 9 – 63 ng/dL [0,3 – 2,2 nmol/L]), có sự hiện diện của các kháng thể thyropeoxidase, và độ chuẩn kháng thể kháng nhân là 1:64 (độ chuẩn bình thường: <1:32). Mức đường huyết và hemoglobin A1C thì bình thường, và kết quả kiểm tra sàng lọc ung thư là âm tính.

Khi kiểm tra theo dõi sau 6 tháng, bệnh nhân đã bị xuống cân và tăng đường huyết (hyperglycemia) (mức đường lúc đói: 174 mg/dL [9,7 nmol/L], và mức hemoglobin A1C: 11,2%) (phạm vi bình thường: 60 – 100 mg/dL [3,3 – 5,6 mmol/L] và 4 – 6%, theo thứ tự trước sau). C-peptit tăng ở mức 7,3 ng/mL (phạm vi bình thường: 1,1 – 5,0), nhưng các xét nghiệm tìm kiếm các kháng thể anti–glutamic acid decarboxylase, các kháng thể anti–tyrosine phosphatase-related insulinoma-associated–2 (IA-2), và các kháng thể kháng insulin đều có kết quả âm tính.

Thuốc metformin đã được cho bệnh nhân sử dụng, và 6 tháng sau thì các cơn giảm đường huyết phát sinh. Các độ chuẩn kháng thể thụ thể kháng insulin (anti-insulin-receptor antibody) đã tăng (1:1280), và bệnh nhân đã được chẩn đoán bị hội chứng kháng insulin loại B. Việc điều trị bằng thuốc prednisoneazathioprine đã được tiến hành, và sau 6 tuần, mức đường huyết, testosterone, và insulin đã trở lại bình thường, cũng như có sự cải thiện lâm sàng về bệnh gai đen (Hình C và D).

Bệnh gai đen có thể do các tình trạng bệnh ở tuyến nội tiết, chuyển hóa, di truyền, và cận ung thư gây ra. Hội chứng kháng insulin loại B là một rối loạn tự miễn dịch, đặc thù bởi sự sản sinh các kháng thể chống lại thụ thể insulin, điều này dẫn đến các rối loạn trong quá trình chuyển hóa glucoza (từ tăng đường huyết đến hạ đường huyết), kháng insulin nghiêm trọng, bệnh gai đen, và tăng androgen (hyperandrogenism).


Bác sĩ, tiến sĩ Marcio W. Lauria
Faculdade de Medicina da Universidade Federal de Minas Gerais, Belo Horizonte-MG, Brazil
Bác sĩ, tiến sĩ Mario J. Saad
Universidade Estadual de Campinas, Campinas-SP, Brazil


Nguồn (Sources):


Friday, March 31, 2017

TIN TỨC THẢO DƯỢC – THỰC PHẨM CHỨC NĂNG – Do LQT Biên Dịch


THẢO DƯỢC BLACK COHOSH

Giới Thiệu

Black cohosh (tên khoa học: Actaea racemosa hoặc Cimicifuga racemosa), thuộc họ mao hương hoa vàng (buttercup), là một loại thảo mộc sống lâu năm có nguồn gốc từ vùng Bắc Mỹ. Loại thảo mộc này còn được gọi, mang tính lịch sử, là rễ rắn (snakeroot), black bugbane, rattleweed, cacrotys, và cỏ thấp khớp (rheumatism weed). Black cohosh đã được sử dụng cách đây rất lâu. Người Mỹ Da Đỏ (Native American) đã sử dụng loại thảo mộc này để trị đau cơ xương, sốt, ho, viêm phổi, chậm đau đẻ, và kinh nguyệt không ổn định. Những người Châu Âu đến định cư trước đây đã sử dụng black cohosh như một loại thuốc bổ giúp phụ nữ sinh sản.


Hiện nay, black cohosh được dùng phổ biến nhất để điều trị các triệu chứng mãn kinh, bao gồm bốc hỏa (hot flash hoặc hot flush) và toát mồ hôi đêm (cả hai được gọi là các triệu chứng vận mạch [vasomotor symptom]), khô âm đạo (vaginal dryness), đánh trống ngực, ù tai (tinnitus), chóng mặt, rối loạn giấc ngủ, bồn chồn, và khó chịu. Mãn kinh, thường xảy ra ở những phụ nữ ở độ tuổi khoảng 51, là tình trạng ngưng hành kinh và là thời điểm kết thúc khả năng sinh sản.

Báo cáo này cung cấp tổng quan về việc sử dụng thảo dược black cohosh để làm giảm các triệu chứng trong thời kỳ mãn kinh.

Thực Phẩm Chức Năng Black Cohosh

Các sản phẩm black cohosh được bào chế từ rễ và thân rễ của nó. Các sản phẩm này được bán dưới dạng các loại thực phẩm chức năng chẳng hạn như thảo dược dạng bột, các chiết xuất dạng lỏng, và chiết xuất khô dạng viên.

Các sản phẩm được lưu hành có thành phần hóa học khác nhau, một phần bởi vì các chuyên gia vẫn chưa biết các hợp chất trong thảo mộc black cohosh có tác dụng làm giảm các triệu chứng mãn kinh. Các chất trong black cohosh cung cấp hoạt tính cho loại thảo mộc này bao gồm triterpene glycosides chẳng hạn như actein, 23-epi-26-deoxyactein, và cimicifugoside; chất nhựa (resin) chẳng hạn như cimicifugin; và các chất dẫn xuất axit vòng thơm (aromatic acid derivative) chẳng hạn như axit caffeic, axit isoferulic, và axit fukinolic.

Các sản phẩm chứa chất chiết xuất black cohosh thường được tiêu chuẩn hóa để cung cấp ít nhất 1 mg triterpene glycoside trong mỗi liều sử dụng hằng ngày. Remifemin, một sản phẩm black cohosh trên thị trường được sử dụng trong một số nghiên cứu bao gồm trong kiểm tra Cochrane 2012 được mô tả bên dưới, là một chất chiết xuất hiện được tiêu chuẩn hóa tương đương với 40 mg rễ/thân rễ black cohosh (được chiết xuất với isopropyl alcohol) trong mỗi liều sử dụng hằng ngày với 2 viên nén, nhưng nó không được tiêu chuẩn hóa với triterpene glycoside. Sản phẩm này đã được bán trên thị trường trong nhiều năm và đã được thay đổi công thức bào chế theo thời gian.

Black Cohosh và Các Triệu Chứng Mãn Kinh

Các nghiên cứu sử dụng những thiết kế khác nhau từ những năm 1950 đã cố gắng xác định tác dụng của thảo dược black cohosh đối với các triệu chứng mãn kinh. Các nỗ lực để hiểu rõ tính hiệu quả của thảo dược black cohosh trong việc điều trị các triệu chứng mãn kinh là những thay đổi về thành phần hóa học của các sản phẩm. Các chuyên gia vẫn chưa rõ các thành phần hoạt tính của black cohosh và (các) cơ chế hoạt động tiềm tàng. Các nghiên cứu đã tìm thấy những kết quả khác nhau về các tác động của loại thảo dược này lên chức năng sinh lý của con người liên quan đến khả năng làm tăng mức estrogen, LH hooc môn, hoặc FSH hooc môn trong cơ thể, mà các hooc môn này có mức thấp hơn ở những phụ nữ mãn kinh so với những phụ nữ tiền mãn kinh. Người ta vẫn chưa rõ black cohosh có ảnh hưởng đến cấu trúc và hoạt động của các mô ở âm đạo và tử cung không. Một số nhà nghiên cứu tin rằng black cohosh có thể sử dụng các dược tính của nó thông qua một hoạt động liên quan đến não, chẳng hạn như điều biến các lộ trình dẫn truyền serotonin, hoặc thông qua khả năng hoạt động của nó như một chất oxy hóa, kháng viêm, hoặc chất điều biến thụ thể estrogen chọn lọc (selective estrogen receptor modulator).

Hai thử nghiệm kiểm soát ngẫu nhiên chất lượng cao điều tra black cohosh về tác dụng điều trị các triệu chứng mãn kinh được mô tả trong báo cáo này. Một thử nghiệm, được công bố năm 2006, chia 351 phụ nữ tuổi từ 45 – 55 bị những cơn bốc hỏa (hot flash) vào ban ngày và toát mồ hôi vào ban đêm thành 5 nhóm, mỗi nhóm tiến hành một trong số các trị liệu sau đây:

-       160 mg black cohosh mỗi ngày (70% chiết xuất ethanol được tiêu chuẩn hóa để chứa 2,5% triterpene glycosides)
-       Một sản phẩm đa thảo dược chứa 200 mg black cohosh cùng với nhân sâm Siberi, đương quy (dong quai), và các thành phần khác
-       Cùng sản phẩm đa thảo dược đó cộng với 2 khẩu phần thực phẩm từ đậu nành cung cấp 12 – 20 g soy protein mỗi ngày
-       Trị liệu hooc môn (estrogen đi kèm/không đi kèm progesterone)
-       Giả dược

Sau 3, 6, và 12 tháng sử dụng thực phẩm chức năng hoặc giả dược, số lần và cường độ những cơn bốc hỏa và toát mồ hôi đêm không khác nhau giữa các nhóm can thiệp bằng dược thảo và nhóm sử dụng giả dược, với một ngoại lệ. Vào tháng thứ 12, những tình nguyện viên tham gia nghiên cứu tiêu thụ sản phẩm đa thảo dược cộng với các thực phẩm làm từ đậu nành có cường độ triệu chứng nghiêm trọng hơn so với những người sử dụng giả dược.

Một thử nghiệm được kiểm soát ngẫu nhiên khác, được công bố năm 2009, đã chia 88 phụ nữ tiền mãn kinh và hậu mãn kinh (tuổi trung bình là 53; 55% từ các nhóm thiểu số có ít đại diện) gặp phải ít nhất 35 cơn bốc hỏa và toát mồ hôi đêm mỗi tuần thành 4 nhóm, mỗi nhóm tiến hành một trong các trị liệu sau đây:

-       128 mg black cohosh mỗi ngày (75% chiết xuất ethanol được tiêu chuẩn hóa để chứa 5,7% triterpene glycosides)
-       398 mg red clover mỗi ngày (chiết xuất ethanol của các phần phát triển trên mặt đất [aerial part] được tiêu chuẩn hóa thành 120 mg isoflavones)
-       Trị liệu hooc môn (estrogen và progesterone)
-       Giả dược

Sau 3, 6, 9, và 12 tháng sử dụng thực phẩm chức năng hoặc giả dược, số triệu chứng vận mạch giảm xuống đáng kể trong tất cả các nhóm. Tuy nhiên, không có những khác biệt đáng kể về thống kê nào giữa các nhóm black cohosh và red clover so với nhóm sử dụng giả được, với một ngoại lệ. Nhóm sử dụng black cohosh cho thấy cường độ triệu chứng nghiêm trọng hơn ở tháng thứ 6 và thứ 9. Nghiên cứu này cũng điều tra các điểm kết thúc thứ hai (secondary endpoint) chẳng hạn như các triệu chứng thể lý (somatic symptom: chẳng hạn như mất ngủ và mệt mỏi), thay đổi tâm trạng (chẳng hạn như trầm cảm và lo âu), và rối loạn chức năng tình dục (chẳng hạn như khô âm đạo). Đối với đa số các kết quả này, không có những khác biệt đáng kể nào được quan sát thấy giữa bất kỳ các nhóm điều trị nào vào bất kỳ thời điểm nào.

Kiểm tra Cochrane năm 2012 đã đánh giá 16 thử nghiệm lâm sàng về tính hiệu quả của thảo dược black cohosh trong khả năng làm giảm các triệu chứng mãn kinh, bao gồm bốc hỏa, toát mồ hôi đêm, khô âm đạo, và tổ hợp các triệu chứng được đo lường bằng các thang đánh giá được kiểm nhận. (Hai thử nghiệm được thảo luận ở trên được bao gồm trong kiểm tra Cochrane). Mười sáu thử nghiệm trong kiểm tra Cochrane đã chọn ngẫu nhiên tổng cộng 2027 phụ nữ (tuổi trung bình từ 50,5 đến 56,4), và số người được chọn là từ 23 đến 351 người. Thời gian nghiên cứu là 8 đến 54 tuần, với thời gian trung bình là 22,8 tuần. Những người tham gia đã tiếp nhận một liều từ 8 đến 160 mg chất chiết xuất black cohosh từ các sản phẩm khác nhau, với liều trung bình là 40 mg mỗi ngày. Trong một số trường hợp, các tác giả của các báo cáo nghiên cứu gốc đã chỉ ra rằng chất chiết xuất họ sử dụng bắt nguồn từ rễ/thân rễ, họ đã chiết xuất sản phẩm này sử dụng isopropyl alcohol hoặc ethanol, và/hoặc họ đã tiêu chuẩn hóa chất chiết xuất để chứa một lượng cụ thể chất triterpene glycosides. Các nghiên cứu này sử dụng không đồng nhất các yếu tố như thiết kế, khoảng thời gian, loại và số lượng black cohosh, và các phát hiện chính. Các tác giả của kiểm tra này đã kết luận rằng không có “đủ chứng cứ” từ các thử nghiệm này “để ủng hộ hoặc phản đối việc sử dụng thảo dược black cohosh cho các triệu chứng mãn kinh”.

Một kiểm tra xem duyệt hệ thống năm 2016 và phân tích tổng hợp (meta-analysis) đã kiểm tra 4 nghiên cứu về các trị liệu thảo dược và trị liệu dựa vào thảo mộc mà chúng bao gồm black cohosh (3 trong số các thử nghiệm này được xem xét trong kiểm tra Cochrane được mô tả ở trên) để điều trị các triệu chứng mãn kinh. Các thử nghiệm đã chọn ngẫu nhiên tổng cộng 511 phụ nữ để sử dụng một liều mỗi ngày từ 6,5 đến 160 mg chất chiết xuất black cohosh từ các sản phẩm khác nhau hoặc giả dược. Không có mối liên hệ quan trọng nào giữa việc sử dụng thực phẩm chức năng black cohosh và khả năng giảm bớt số lượng triệu chứng vận mạch, chẳng hạn như bốc hỏa (hot flash). Hơn nữa, không có những mối liên hệ có lợi nào giữa việc sử dụng black cohosh và khả năng giảm bớt các triệu chứng mãn kinh sử dụng các thang đánh giá tự báo cáo.

Hiệp Hội Các Bác Sĩ Sản Khoa và Phụ Khoa Hoa Kỳ (The American College of Obstetricians and Gynecologists), trong các hướng dẫn lâm sàng năm 2015 của hiệp hội cho việc quản lý các triệu chứng mãn kinh, đã kết luận rằng “các dữ liệu không cho thấy rằng”các thực phẩm chức năng thảo dược như black cohosh “tỏ ra có hiệu quả trong việc điều trị các triệu chứng vận mạch”. Hiệp Hội Mãn Kinh Bắc Mỹ (The North American Menopause Society) khuyên các bác sĩ lâm sàng không nên đề xuất các trị liệu bằng thảo dược chẳng hạn như black cohosh bởi vì “chúng có thể không có ích” trong việc làm giảm các triệu chứng vận mạch.

Kiểm tra Cochrane đã tìm thấy đủ lý do để tiến hành thêm các nghiên cứu về việc sử dụng black cohosh để điều trị các triệu chứng mãn kinh. Các tác giả đề xuất rằng các nhà nghiên cứu nên tiến hành các thử nghiệm chất lượng cao hơn, với các mẫu nghiên cứu lớn hơn, và cung cấp nhiều chi tiết hơn về các kế hoạch chi tiết trong thử nghiệm của họ. Các tác giả khác đã đề xuất rằng các nhà nghiên cứu nên mô tả một cách đầy đủ và toàn diện về sản phẩm black cohosh họ sử dụng để các nhà nghiên cứu khác có thể sử dụng cùng loại sản phẩm hoặc các sản phẩm tương tự. Phân tích độc lập và xác minh thành phẩm của sản phẩm để đảm bảo sự nhận dạng và chất lượng của sản phẩm cũng là một yếu tố quan trọng.

Các Nguy Cơ về Sức Khỏe

Các thử nghiêm lâm sàng sử dụng các sản phẩm black cohosh khác nhau để điều trị các triệu chứng mãn kinh đã cho thấy rằng việc sử dụng loại thảo dược này có tỷ lệ xuất hiện các tác dụng gây hại thấp. Các tác dụng phụ được báo cáo nhiều nhất là khó tiêu (gastrointestinal upset) và phát ban, cả hai đều nhẹ và mang tính tạm thời. Các tác dụng phụ khác được báo cáo trong các thử nghiêm lâm sàng bao gồm đau/sưng vú, nhiễm trùng, chảy máu âm đạo, và các than phiền về cơ xương, mặc dù tỷ lệ xảy ra ở các phụ nữ sử dụng black cohosh và những người sử dụng giả dược là tương đương. Đa số các nghiên cứu đã kiểm tra việc sử dụng black cohosh trong thời gian ngắn, khoảng 6 tháng hoặc ít hơn, do đó không có nghiên cứu được công bố nào đã xác định được tính an toàn dài hạn của black cohosh ở người.

Các báo cáo trên khắp thế giới đã mô tả ít nhất 83 trường hợp bị tổn thương gan – bao gồm viêm gan, suy gan, tăng men gan, và nhiều tổn thương gan khác – có liên quan đến việc sử dụng black cohosh. Tuy nhiên không có chứng cứ chỉ ra mối liên hệ nhân quả. Có thể rằng ít nhất một số các trường hợp được báo cáo bị nhiễm độc gan là do các chất bẩn (impurities), chất giả mạo, hoặc không đúng loại Acteae trong các sản phẩm black cohosh được sử dụng. Tuy nhiên, chưa có ai phân tích một cách độc lập các sản phẩm này để chứng thực sự tồn tại của các vấn đề này.

Vào năm 2007, Bộ Y Tế Úc yêu cầu rằng các sản phẩm chứa black cohosh phải kèm theo nhãn cảnh báo sau đây: “Cảnh báo: Thảo dược black cohosh có thể làm tổn hại đến gan ở một số cá nhân. Hãy sử dụng dưới sự giám sát của một chuyên gia y tế”. Vào năm 2008, tổ chức Pharmacopeia Hoa Kỳ (một tổ chức phi lợi nhuận xác định tiêu chuẩn thực phẩm và dược phẩm) đề xuất dán nhãn các sản phẩm black cohosh với lời cảnh báo sau đây: “Hãy ngưng sử dụng và tham khảo ý kiến với một chuyên gia y tế nếu bạn mắc phải một chứng rối loạn ở gan hoặc phát sinh các triệu chứng của bệnh gan, chẳng hạn như đau vùng bụng, nước tiểu đen, hoặc vàng da”. Tuy nhiên, Cơ Quan Quản Lý Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) không đòi hỏi lời cảnh báo đó trên các nhãn sản phẩm chứa black cohosh.

Hiệp Hội Các Sản Phẩm Thảo Dược Hoa Kỳ (The American Herbal Products Association) đề xuất rằng những phụ nữ mang theo không nên sử dụng thảo dược black cohosh ngoại trừ được sự giám sát của chuyên gia y tế bởi vì các nghiên cứu chưa đánh giá triệt để việc sử dụng black cohosh trong lúc mang thai. Tổ chức Pharmacopeia Hoa Kỳ khuyên rằng những cá nhân có các rối loạn gan cũng nên tránh sử dụng black cohosh. Tổ chức này nói thêm rằng những người sử dụng phát sinh các triệu chứng của bệnh gan, chẳng hạn như đau vùng bụng, nước tiểu đen, hoặc vàng da trong lúc đang sử dụng thực phẩm chức năng này nên ngưng sử dụng và báo cáo với bác sĩ của họ.

Tương Tác với Các Loại Thuốc

Thảo dược black cohosh cho đến nay vẫn chưa có bất kỳ tương tác lâm sàng nào với các loại thuốc, mặc dù vấn đề này vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống.


Nguồn (Source):



Sunday, March 19, 2017

TIN TỨC Y HỌC - Do LQT Biên Dịch


THIẾU NGỦ VÀO THỜI THƠ ẤU VÀ CÁC TÁC HẠI SAU NÀY

Một nghiên cứu được dẫn đầu bởi một bác sĩ khoa nhi tại Bệnh Viện Đa Khoa Massachusetts (Massachusetts General Hospital) Hoa Kỳ tìm thấy rằng trẻ em ở độ tuổi từ 3 đến 7 nếu không ngủ đủ giấc sẽ có nhiều khả năng xuất hiện những vấn đề về tập trung, kiểm soát cảm xúc và các mối quan hệ với bạn bè vào giai đoạn từ 9 – 11 tuổi. Được báo cáo trên trang tạp chí điện tử Academic Pediatrics, nghiên cứu này đã tìm thấy những sự khác biệt đáng kể trong những câu trả lời của các phụ huynh và các thầy cô giáo cho các khảo sát liên quan đến chức năng điều hành (executive function) – bao gồm khả năng tập trung, trí nhớ ngắn hạn (working memory), kỹ năng lý luận và giải quyết vấn đề - và các vấn đề về hành vi ở những trẻ 7 tuổi phụ thuộc vào số giờ ngủ mà chúng thường tiếp nhận vào những năm thơ ấu.


“Chúng tôi đã tìm thấy rằng những trẻ thiếu ngủ trong giai đoạn từ 3 – 4 tuổi và từ 5 - 6 tuổi sẽ có nguy cơ cao bị suy giảm chức năng hành vi thần kinh (neurobehavioral function) vào thời điểm khoảng 7 tuổi”, theo lời của bác sĩ y khoa Elsie Taveras, trưởng Khoa Nhi Tổng Quát tại Bệnh Viện Đa Khoa Massachusetts cho Trẻ Em (Mass General Hospital for Children), và là người dẫn đầu cuộc nghiên cứu này. “Mối tương quan giữa thiếu ngủ và chức năng thần kinh hành vi kém vẫn tiếp tục ngay cả sau khi đã điều chỉnh một số yếu tố mà chúng có thể ảnh hưởng đến mối tương quan này”.

Giống như trong các nghiên cứu trước đây của nhóm này với mục đích kiểm tra vai trò của giấc ngủ trong một số lĩnh vực sức khỏe của trẻ em, nghiên cứu hiện tại đã phân tích các dữ liệu từ Dự Án Viva (Project Viva), một cuộc điều tra dài hạn về các tác động lên sức khỏe của một vài yếu tố trong thời gian mang thai và sau khi sinh. Các thông tin được sử dụng trong nghiên cứu này được thu thập trong các cuộc phỏng vấn những bà mẹ khi con trẻ của họ được khoảng 6 tháng, 3 tuổi và 7 tuổi, và được thu thập từ những bản câu hỏi thăm dò được hoàn tất khi các trẻ lên 1, 2, 4, 5 và 6 tuổi. Ngoài ra, các bà mẹ và thầy cô được gửi đến những dụng cụ khảo sát để đánh giá chức năng điều hành và các vấn đề về hành vi của mỗi đứa trẻ - bao gồm các triệu chứng về cảm xúc và các vấn đề về hạnh kiểm hoặc các mối quan hệ bạn bè, khi các trẻ được 7 tuổi.

Trong số 1046 trẻ ghi danh vào dự án Viva, nhóm nghiên cứu đã xác định những trẻ không tiếp nhận số giờ ngủ được đề xuất ở những nhóm tuổi cụ thể – 12 giờ (tiếng đồng hồ) hoặc lâu hơn ở độ tuổi từ 6 tháng đến 2 tuổi, 11 giờ hoặc lâu hơn ở độ tuổi từ 3-4 tuổi, và 10 giờ hoặc lâu hơn ở độ tuổi từ 5-7 tuổi. Những trẻ sống ở những gia đình có thu nhập thấp và có mẹ có trình độ học vấn thấp có nhiều khả năng ngủ ít hơn 9 giờ (tiếng đồng hồ) ở độ tuổi từ 5 – 7 tuổi. Các yếu tố khác liên quan đến thiếu ngủ bao gồm xem truyền hình nhiều, chỉ số trọng lượng cơ thể (body mass index - BMI) cao, và là người người Mỹ gốc Châu Phi.

Các báo cáo, từ các bà mẹ và các thầy cô liên quan đến chức năng thần kinh hành vi của các trẻ được ghi danh, đã tiết lộ các mối liên hệ giữa chức năng thần kinh hành vi kém và thiếu ngủ, trong đó các thầy cô báo cáo những vấn đề còn nghiêm trọng hơn. Mặc dù không có sự liên đới được quan sát thấy giữa tình trạng thiếu ngủ trong thời kỳ sơ sinh – từ 6 tháng đến 2 tuổi – và hiện tượng suy giảm chức năng thần kinh hành vi vào độ tuổi từ 9 – 11 (mid-childhood), nhưng bác sĩ Taveras lưu ý rằng mức ngủ trong thời kỳ sơ sinh thường tiên đoán mức ngủ ở các độ tuổi sau này, điều này chứng minh cho tính chất quan trọng của việc đề xướng chất lượng và số lượng ngủ ở các trẻ nhỏ.

“Các nghiên cứu trước đây đã kiểm tra vai trò của vấn đề thiếu ngủ đối với những vấn đề sức khỏe mãn tính – bao gồm bệnh béo phì - ở cả các bà mẹ và các trẻ”, theo giải thích của bác sĩ Taveras, giáo sư Khoa Nhi tại trường Đại Học Y Khoa Havard. “Các kết quả của nghiên cứu mới này chỉ ra rằng một cách trong đó tình trạng thiếu ngủ có thể dẫn đến những hậu quả bệnh mãn tính là những tác động của nó lên sự ức chế, tính hấp tấp và các hành vi khác mà chúng có thể làm cho người thiếu ngủ tiêu thụ quá nhiều thực phẩm giàu calorie. Việc nghiên cứu các tác hại lâu dài của tình trạng thiếu ngủ lên sức khỏe và sự phát triển khi các trẻ bước vào giai đoạn vị thành niên sẽ là một vấn đề quan trọng.



XÁC ĐỊNH CÁC RỐI LOẠN KỸ NĂNG HỌC

Đọc, viết, và toán là những yếu tố nền tảng của việc học. Nắm vững các môn này trong những năm đầu đến trường có thể ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực của cuộc sống, bao gồm học đường, công sở, và thậm chí sức khỏe toàn diện. Mắc phải những lỗi lầm và thậm chí gặp khó khăn đôi chút khi học những thứ mới mẻ là điều bình thường. Nhưng các vấn đề cứ bị lặp lại và kéo dài có thể là một dấu hiệu của chứng rối loạn kỹ năng học (learning disability).


Các trường hợp bị rối loạn kỹ năng học không liên quan đến mức độ thông minh của một đứa trẻ. Những rối loạn này là do các khác biệt trong não được hình thành bẩm sinh hoặc sau đó không lâu gây ra. Những sự khác biệt này ảnh hưởng đến cách thức não xử lý các thông tin và có thể tạo ra những vấn đề về kỹ năng đọc, viết, và làm toán.

“Điển hình là, trong vài năm đầu học tiểu học, một số trẻ, mặc dù được hướng dẫn đầy đủ, nhưng vẫn gặp khó khăn trong học tập và không thể nắm vững các kỹ năng đọc và viết một cách hiệu quả như các bạn học khác”, theo lời của bác sĩ y khoa Benedetto Vitiello, một chuyên gia sức khỏe tâm thần trẻ em tại Viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ (NIH). “Vì thế vấn đề này thường được xem là một rối loạn về kỹ năng học”.

Thông thường, rối loạn kỹ năng học được phát hiện và được báo cáo càng sớm, thì khả năng thành công tại học đường và sau này trong cuộc sống càng cao. “Kiểm tra sàng lọc ban đầu, sau đó tiếp tục theo dõi biểu hiện học tập của trẻ em là yếu tố quan trọng để có thể kịp thời cho biết khi nào các trẻ gặp khó khăn trong học tập”, theo lời giải thích của bác sĩ Brett Miller, một chuyên gia về rối loạn kỹ năng đọc và viết tại Viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ. “Nếu bạn không tích cực tìm kiếm nó, thì bạn có thể mất cơ hội can thiệp sớm hơn”.

Mỗi trường hợp rối loạn kỹ năng học có những dấu hiệu riêng. Một đứa trẻ bị rối loạn kỹ năng đọc có thể đánh vần kém và gặp trở ngại trong việc đọc nhanh hoặc trong việc nhận ra những từ thông thường. Một đứa trẻ bị rối loạn kỹ năng viết có thể viết rất chậm, có chữ viết xấu, hoặc gặp trở ngại trong việc diễn tả những ý tưởng trong cách hành văn. Rối loạn kỹ năng làm toán có thể làm cho đứa trẻ khó hiểu được những kiến thức toán cơ bản (chẳng hạn như tính nhân), đổi tiền, hoặc những bài toán đố.

Các rối loạn kỹ năng học có thể ảnh hưởng đến những vấn đề bên ngoài học đường. Nếu không được đề cập đến, thì chúng còn có thể ảnh hưởng đến sức khỏe. Một dạng rối loạn kỹ năng học có thể làm cho người bị ảnh hưởng khó hiểu được những thông tin sức khỏe được viết ra, những chỉ dẫn của bác sĩ, hoặc gặp khó khăn trong việc sử dụng đúng liều lượng thuốc vào đúng thời điểm. Các rối loạn kỹ năng học cũng có thể dẫn đến việc hiểu biết kém về lợi ích của những hành vi khỏe mạnh, chẳng như tập thể dục, và các nguy cơ sức khỏe, chẳng hạn như bệnh béo phì. Thiếu những kiến thức này có thể dẫn đến những hành vi không lành mạnh và làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

Không phải tất cả những người gặp trở ngại trong việc học đều bị rối loạn kỹ năng học. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng học của một người. Một số học sinh có thể học hiểu chậm hơn và cần thực hành nhiều hơn so với những bạn cùng lớp. Thị lực hoặc thính lực kém có thể làm cho một đứa trẻ bỏ sót những gì đã được dạy. Thiếu dinh dưỡng hoặc tiếp xúc với các chất độc hại thời thơ ấu cũng có thể góp phần gây nên những trở ngại trong việc học.

Nếu một đứa trẻ có thành tích không tốt tại học đường, thì cha mẹ hoặc thầy/cô giáo có thể yêu cầu kiểm tra đánh giá đứa trẻ để phát hiện chứng rối loạn kỹ năng học. Đạo Luật Cải Thiện Giáo Dục Những Cá Nhân bị Khuyết Tật của Hoa Kỳ (The U.S. Individuals with Disabilities Education Improvement Act) quy định rằng các trường công lập cung cấp chương trình giáo dục đặc biệt miễn phí cho các trẻ em, bao gồm các trẻ em bị các rối loạn kỹ năng học riêng biệt, mà những trẻ này cần đến những dịch vụ này. Để hội đủ điều kiện cho những dịch vụ này, một đứa trẻ phải được kiểm tra đánh giá bởi trường học và phải đáp ứng những yêu cầu của tiểu bang và liên bang. Việc kiểm tra đánh giá có thể bao gồm kiểm tra sức khỏe, thảo luận về tiền sử bệnh của gia đình, và kiểm tra thành tích học cũng như trí thông minh.

Nhiều người bị rối loạn kỹ năng học có thể phát triển những phương án để đối phó với tình trạng của họ. Thầy/cô giáo hoặc những chuyên gia giáo dục khác có thể giúp các trẻ học những kỹ năng dựa trên sức học của các cháu để cân bằng những khuyết điểm của mình. Các nhà giáo dục có thể cung cấp những phương pháp dạy đặc biệt, tạo những thay đổi trong lớp học, hoặc sử dụng các công nghệ hiện đại có thể giúp cho những nhu cầu học tập của các trẻ.

Trẻ bị rối loạn kỹ năng học cũng có thể gặp vấn đề với lòng tự trọng thấp, thiếu tự tin, và thất vọng. Trong trường hợp bị rối loạn khả năng học toán, những sự lo lắng về môn toán có thể góp phần làm cho các kỹ năng làm toán trở nên yếu kém hơn. Chuyên gia tư vấn có thể giúp trẻ sử dụng những kỹ năng đối phó và xây dựng những thái độ lành mạnh về khả năng học của chúng.

“Nếu có những phương pháp can thiệp thích hợp, thì những thách thức này có thể được giảm thiểu”, theo lời giải thích của bác sĩ Kathy Mann Koepke, một chuyên gia về rối loạn kỹ năng học toán tại Viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ. “Các bậc phụ huynh và thầy/cô giáo phải lưu ý rằng những lời nói và hành vi của họ xung quanh việc học và làm toán sẽ được các trẻ ngấm ngầm học theo và có thể làm giảm hoặc làm tăng tâm trạng lo lắng về môn toán”.

“Chúng ta thường cho rằng các tình trạng này xảy ra một cách độc lập, nhưng có một số người bị nhiều rối loạn xuất hiện cùng lúc”, bác sĩ Miller nói. Thỉnh thoảng, trẻ em bị các rối loạn kỹ năng học cũng mắc phải một rối loạn kỹ năng học khác hoặc các bệnh lý khác, chẳng hạn như rối loạn tăng động thiếu tập trung (attention deficit hyperactivity disorder - ADHD).

“Rối loạn ADHD có thể bị lầm lẫn với rối loạn kỹ năng học”, bác sĩ Vitiello nói. Rối loạn tăng động thiếu tập trung (ADHD) làm cho trẻ khó tập trung chú ý, sắp xếp thông tin, và hoàn thành các nhiệm vụ. Điều này có thể ảnh hưởng đến vấn đề học tập, đời sống trong gia đình và các mối quan hệ bạn bè. Nhưng rối loạn ADHD không được xem là rối loạn kỹ năng học. Tình trạng này đòi hỏi những phương pháp trị liệu riêng, có thể bao gồm trị liệu hành vi (behavior therapy) và sử dụng thuốc.

“Cha mẹ đóng một vai trò quan trọng trong việc điều trị, đặc biệt là các trẻ ở độ tuổi học tiểu học”, bác sĩ Vitiello nói. Sử dụng thuốc và các phương pháp can thiệp hành vi (behavioral intervention) thường được tiến hành tại nhà. Thầy/cô giáo thường có thể tư vấn cho phụ huynh về cách thức giúp các trẻ tại nhà, chẳng hạn như lên thời khóa biểu hợp lý cho những hoạt động liên quan đến việc học. Cha mẹ cũng có thể giúp ích bằng cách giảm thiểu những trò giải trí và khuyến khích các trẻ thực hiện các nhiệm vụ, chẳng hạn như làm bài tập về nhà. Sự can thiệp hiệu quả đòi hỏi tính nhất quán (consistency) và sự điều phối giữa học đường và gia đình.

Nhiều yếu tố phức tạp có thể góp phần gây ra những rối loạn kỹ năng học. Các rối loạn kỹ năng học có khuynh hướng di truyền. Gia đình và cuộc sống hằng ngày cũng có một tác động rất lớn đến khả năng học của đứa trẻ bắt đầu từ độ tuổi rất sớm. Cha mẹ có thể giúp con trẻ của họ phát triển những kỹ năng và trau dồi kiến thức trong những năm đầu của cuộc sống, nhờ đó có thể hỗ trợ cho việc học sau này.

“Tiếp cận sớm với một môi trường học tập phong phú là yếu tố quan trọng cho sự phát triển về trí não”, bác sĩ Mann Koepke nói. Hãy cho con trẻ của bạn tham gia vào các loại hình học tập khác nhau từ lúc bắt đầu. Ngay cả trước khi các trẻ có thể nói, thì chúng đã biết học hỏi khám phá rồi. “Cho dù đó chỉ là lắng nghe và quan sát khi bạn nói về những gì bạn làm trong sinh hoạt hằng ngày”, bà nói.

Chỉ ra và nói với con trẻ về các tên, màu sắc, hình thể, kích cỡ, và số lượng các vật thể trong môi trường xung quanh chúng. Hãy cố gắng sử dụng những từ so sánh chắng hạn như “nhiều hơn” hoặc “ít hơn”. Điều này sẽ giúp hướng dẫn cho con trẻ của bạn về những mối liên hệ giữa các sự vật, mà điều đó rất quan trọng cho việc học những khái niệm toán học, bác sĩ Mann Koepke nói. Thậm chí những điều cơ bản, chẳng hạn như ngủ đủ giấc và ăn uống lành mạnh, cũng có thể giúp cho sự phát triển trí não và khả năng học của các trẻ.

Viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ (NIH) đang tiếp tục đầu tư vào những trung tâm nghiên cứu những rối loạn về kỹ năng học và các phương pháp điều trị chúng, với sự chú ý đặc biệt đến các nhóm học kém và có nguy cơ cao.

Mặc dù chưa có cách “chữa khỏi”, nhưng các phương pháp can thiệp sớm có thể cung cấp những công cụ học và phương án cần thiết để giúp giảm bớt các tác động của những rối loạn kỹ năng học. Với sự hỗ trợ từ những người bảo mẫu, các nhà giáo dục, và các chuyên gia y tế, thì những người bị các rối loạn kỹ năng học có thể thành công tại học đường, công sở, và trong đời sống cá nhân của họ.


7 LÝ DO CÓ THỂ LÀM CHO BẠN BỊ NỔI BAN ĐỎ (MỀ ĐAY)

Những chấm đỏ có hình thù kỳ quặc có thể biến mất hoặc tái xuất hiện rất nhanh. Hóa ra, các chấm nhỏ tạm thời gây khó chịu này lại rất là phổ biến – chúng ảnh hưởng đến khoảng 20% dân số, theo lời của bác sĩ Whitney Bowe, một bác sĩ chuyên khoa da liễu (dermatologist) tại New York, Hoa Kỳ. Do đó, sẽ có nhiều cơ hội bạn có thể gặp phải tình trạng phát ban xảy ra trong suốt thời gian sống của mình.


Mặc dù thỉnh thoảng nguyên nhân gây ra có thể dễ nhận thấy (nếu bạn bị dị ứng với đậu phộng và vô tình bạn ăn phải nó, thì da của bạn sẽ nổi ban đỏ ngay tức khắc), nhưng thông thường thì thật khó để tìm ra lý do chính xác tại sao bạn bị phát ban. Điều đáng mừng là, chúng thường không kéo dài quá 24 giờ và dễ dàng chữa trị bằng các loại thuốc kháng histamin, theo Hiệp Hội Dị Ứng, Bệnh Xuyễn, và Miễn Dịch Học Hoa Kỳ (American College of Allergy, Asthma, and Immunology).

Sau đây là một số lý do tại sao bạn có thể nhận thấy cơ thể mình bị bao phủ bởi những chấm đỏ:

1. Bạn Sử Dụng Một Số Loại Thuốc

Các loại thuốc kháng viêm không steroid (NSAID: chẳng hạn như aspirin và ibuprofen), các loại opioid (chẳng hạn như morphine và oxycodone), và các loại thuốc kháng sinh (chẳng hạn như penicillin), tất cả các loại thuốc này có thể làm cho bạn bị nổi ban đỏ, theo lời của bác sĩ Bruce Brod, giáo sư lâm sàng khoa da liễu tại trường Y Khoa Perleman thuộc Đại Học Pennsylvania. Theo Học Viện Dị Ứng, Bệnh Xuyễn, và Miễn Dịch Học Hoa Kỳ (American Academy of Allergy, Asthma, and Immunology), các ban đỏ thường sẽ xuất hiện trong vòng một giờ sau khi sử dụng thuốc.

2. Bạn Bị Stress

Một lý do khác để bạn hít thở sâu: Xúc động mạnh có thể gây phát ban. Đó là vì stress làm cho hệ miễn dịch bị suy yếu, làm cho bạn dễ mắc phải những rối loạn ở da. Thông thường, phát ban do stress chỉ xảy ra ngắn hạn (nghĩa là chỉ kéo dài chưa đến một ngày), bác sĩ Brod nói.

3. Bạn Bị Chảy Mồ Hôi Nhiều

Theo Tổ Chức Dị Ứng Thế Giới (World Allergy Organization), các trường hợp phát ban do nhiệt gây ra (có thể do tập thể dục, tắm nước nóng, chảy mồ hôi, và lo âu), thường bắt đầu ở cổ và ngực trên rồi lan đến mặt, lưng, và các chi. Nếu điều này xảy đến với bạn thường xuyên, thì bác sĩ Bowe đề xuất bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ của bạn, họ có thể cho bạn sử dụng thuốc kháng histamin.

4. Bạn Tiếp Xúc với một Chất Gây Dị Ứng trong Môi Trường

Các yếu tố môi trường mà có thể gây phát ban bao gồm ánh nắng mặt trời, sức nóng, cảm lạnh, cỏ, phấn hoa, và ve bụi nhà (dust mite: mạt bụi nhà), theo lời của bác sĩ Lauren Ploch, một bác sĩ chuyên khoa da liễu ở thành phố Augusta, tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ.

5. Bạn Mặc Quần Áo Quá Chật

“Một số người sẽ bị phát ban ở những khu vực da bị đè nén, chẳng hạn như ở lòng bàn chân và bên dưới quần lót hoặc quần áo quá chật”, bác sĩ Brod nói. Ông đề xuất bạn nên hạn chế gãi – và mặc những loại quần áo rộng.

6. Bạn Bị một Chứng Bệnh Tự Miễn Dịch

Nếu bạn vẫn bị nổi ban đỏ sau một thời gian dài (một tháng hoặc hơn), thì nguyên nhân gây ra có thể là một chứng bệnh tự miễn dịch. “Luput hoặc bệnh tuyến giáp có thể gây phát ban”, bác sĩ Ploch nói, ông bổ sung rằng bệnh tiểu đường (đái tháo đường) loại 1, hội chứng Sjogren, và bệnh Celiac cũng có thể là nguyên nhân gây ra. Tuy nhiên, việc cho rằng bệnh tự miễn dịch gây phát ban thường là một quá trình đào thải, bà nói, do đó điều quan trọng là phải kiểm tra với bác sĩ của bạn.

7. Bạn Ăn hoặc Uống Những Thứ Khác Thường

Rượu bia và một số loại thực phẩm có thể gây phát ban. “Chúng tôi nhìn thấy rất nhiều phản ứng dị ứng do thực phẩm và những chất phụ gia trong thực phẩm (food additive), do đó mọi thứ trở nên khó hiểu bởi vì không nhất thiết là do thực phẩm”, bác sĩ Ploch nói. Các thủ phạm thường thấy bao gồm động vật biển có vỏ (shellfish), trứng, và các loại quả hạch, nhưng bác sĩ Ploch lưu ý các loại phẩm màu azo (azo food dye) trong kẹo (màu đỏ, vàng, và cam) và các chất sunfit (sulfite) trong rượu và thịt nguội (deli meat) cũng có thể gây phát ban. Nếu bạn bị phát ban, thì điều quan trọng là cẩn thận ghi lại những gì bạn đã ăn để bạn có thể tránh tiêu thụ những thực phẩm gây phát ban trong tương lai, bác sĩ Ploch nói.



RÁY TAI CÓ MÙI HÔI KỲ LẠ NÓI GÌ VỀ BẠN

Bạn có thể biết được nhiều về điều gì đang xảy ra bên trong cơ thể của bạn bằng cách chú ý đến những thứ nó sản sinh... miễn là bạn không cảm thấy gớm.


Màu sắc và độ đặc của nước tiểu, phân, nước bọt (saliva), và nước mũi (snot) có thể báo hiệu những vấn đề sức khỏe tiềm ẩn – hoặc tái khẳng định bạn hoàn toàn khỏe mạnh. Và điều tương tự cũng áp dụng cho những gì rỉ ra từ tai bạn.

Ráy tai (earwax hoặc cerumen) giúp ngăn cản những chất dơ bẩn và vi khuẩn đi vào quá sâu bên trong ống tai (ear canal) của bạn, nhưng nó còn có thể nói cho bạn biết một số điều gây kinh ngạc về sức khỏe của bạn. 

Ráy tai có nước, và có màu xanh dương

Nếu bạn đang chảy mồ hôi, thì chất có nước tiết ra từ tai có thể là do mồ hôi của bạn chảy vào tai và trộn lẫn với ráy tai, theo lời bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng (otolaryngologist) Brett Comer, phó giáo sư tại trường Đại Học Kentucky (University of Kentucky), Hoa Kỳ.

Nhưng nếu bạn không chảy mồ hôi, và ráy tai ướt có màu xanh lá cây hoặc vàng đậm, thì điều đó có thể báo hiệu bạn bị nhiễm trùng tai, ông nói.

Ráy tai ướt hoặc khô

Đối với mọi người chúng ta, có thể là một trong hai. Và loại ráy tai của bạn có thể cung cấp những manh mối về nguồn gốc di truyền của bạn. Nghiên cứu được đăng trên tạp chí Di Truyền Học Tự Nhiên (Nature Genetics) tìm thấy đa số những người gốc Châu Á có ráy tai khô, trong khi đó những người gốc Châu Phi hoặc Châu Âu thì có ráy tai ướt.

Các tác giả nghiên cứu nói đây là một sự thích ứng di truyền đối với những miền khí hậu trong đó tổ tiên của chúng ta đã tiến hóa.

Ráy tai có mùi khó chịu

Bạn có thể bị nhiễm trùng hoặc bị tổn thương tai giữa. Điều này có thể dẫn đến một loạt các triệu chứng, mà các bác sĩ gọi là “viêm tai giữa mãn tínhchronic otitis media”.

Một trong số các triệu chứng: “Bạn có thể bị chảy dịch tai có mùi hôi”, bác sĩ Comer nói. Nếu tai giữa của bạn bị rối loạn, bạn cũng có thể cảm thấy bị vấn đề về thăng bằng, tiếng kêu trong tai, hoặc cảm giác tai bạn bị đầy hoặc bị nghẽn. Hãy đi khám bác sĩ.

Bạn lưu ý khi nó rỉ ra

Các trường hợp nhiễm trùng hoặc rách bên trong màng nhĩ (eardrum) có thể dẫn đến hiện tượng mọc da bất thường được gọi là “u sừngcholesteatoma”, bác sĩ Comer giải thích. “Đây là một cấu trúc giống nang, dẫn đến các cặn bẩn trong tai tích lũy làm nghẽn ống tai”.

Thay vì chất tiết ra không thể nhận thấy mà bạn đã quen thuộc, ráy tai có thể xuất hiện dưới dạng nước hoặc dạng cục. Áp lực và hiện tượng đau trong tai bạn cũng là các triệu chứng của u sừng cholesteatoma”.

4 BƯỚC ĐỂ LẤY RÁY TAI

Ráy tai bảo vệ màng nhĩ của bạn khỏi bụi và chất bẩn. Bình thường, ráy tai hoàn thành nhiệm vụ rất tốt, di chuyển an toàn đến tai ngoài khi nó khô lại, và được thay thế bởi ráy tai mới hình thành ở ống tai. Thỉnh thoảng, ráy tai hình thành một nút cứng gần màng nhĩ, và phải được bác sĩ lấy ra, bác sĩ David Edelstein nói. Sau đây là cách để ngăn ngừa ráy tai phát triển và cách lấy ráy tai ra.

Đừng Đưa Gì Vào Tai Bạn

Câu nói quen thuộc, “Đừng bao giờ đưa bất cứ thứ gì nhỏ hơn khuỷu tay vào tai của bạn”, là một câu mà các bác sĩ tai đã thề hứa. Đừng bao giờ đưa bất kỳ thứ gì nhọn – như đinh ghim, đầu viết chì, hoặc cái kẹp giấy – vào tai của bạn, bởi vì chúng có thể làm rách màng nhĩ. Cũng đừng sử dụng tăm bông (cotton swab) hoặc ngón tay, bác sĩ George W. Facer nói. Có thể bạn nghĩ rằng bạn đang làm sạch tai và lấy được ráy tai, nhưng thực ra bạn đang chèn ráy tai vào sâu hơn và biến nó thành cái nắp bít kín màng nhĩ.

Nhỏ Vào Tai Một Dung Dịch Làm Mềm Ráy Tai

Một vài giọt dung dịch mà có lẽ bạn đã có sẵn ở nhà có thể làm mềm ráy tai. Hãy thử dùng nước oxy già (hydrogen peroxide), dầu khoáng (mineral oil), hoặc glycerin, đây là những chất rửa tai với giá phải chăng, bác sĩ Facer nói. Hoặc mua một loại nước rửa không cần toa bác sĩ, chẳng hạn như các loại dung dịch nhỏ tai Debrox Ear Drop hoặc Murine Ear Drop, bác sĩ Edelstein đề xuất. Nhỏ một hoặc hai giọt của một trong hai dung dịch này vào mỗi bên tai. Để cho dung dịch trào ra khỏi tai bạn. Phần dung dịch còn lại bên trong tai bạn sẽ xủi bọt và làm mềm ráy tai. Hãy nhỏ tai trong khoảng 2 – 3 ngày. Sau khi ráy tai đã mềm, bạn có thể chuẩn bị để rửa tai. Đổ đầy nước ấm (khoảng 37o C) vào một cái tô/bát. Sau đó bơm đầy nước vào bóng tiêm phun cao su (rubber bulb syringe), để một cái thau/chậu ở dưới đầu bạn, rồi phun nhẹ nước vào ống tai của bạn. Sau đó nghiêng đầu sang một bên rồi để nước chảy xuống thau/chậu.

Sấy Khô Tai Bạn

Đừng chà khô tai bạn, các bác sĩ dặn dò. Thay vào đó, thổi khô tai bạn bằng máy sấy tóc hoặc nhỏ một ít cồn vào mỗi bên tai để hoàn tất tiến trình làm khô. Hãy làm việc này sau khi bạn đã rửa tai để làm sạch ráy tai, như đã đề cập ở trên, cũng như sau khi bạn tắm xong.

Hãy Để Tự Nhiên Làm Công Việc Của Nó

Rửa tai mỗi tháng một lần là quá nhiều đối với mọi người, bác sĩ Edelstein nói. Nếu nhiều hơn thế thì bạn đang rửa sạch lớp ráy tai bảo vệ mà đáng lý ra nó phải nằm ở đó.

Bạn nghĩ rằng mình không có ráy tai

Nếu ráy tai của bạn đột nhiên biến mất, chẳng hạn như bạn không còn sản sinh ra nó nữa, thì có một cơ hội rất nhỏ bạn mắc phải một tình trạng bệnh lý hiếm và không rõ nguyên nhân có tên là “keratosis obturans – tích tụ keratin ở ống tai”, bác sĩ Comer nói.

“Thay vì tự đi ra từ từ, ráy tai tích lũy bên trong tai cho đến khi tai bạn có cái “nút” rất cứng này”, ông giải thích. Chỉ trong trường hợp bạn bị tình trạng này, thì bạn mới có khả năng gặp phải các triệu chứng như đau nhức hoặc bị đầy tai, ông nói thêm.

Ráy tai có dạng vảy

Bạn không phải bị bệnh. Bạn chỉ là đang già đi. “Khi người ta trở nên có tuổi, ráy tai có xu hướng trở thành dạng vảy thay vì có dạng bơ đậu phộng”, bác sĩ Comer nói. 

Đừng lo lắng. “Thông thường, khi chúng ta trở nên có tuổi, thì các tuyến có xu hướng bị khô đi”, ông giải thích.



PHẢI CHĂNG CON NGƯỜI CHỈ SỬ DỤNG 10 PHẦN TRĂM NÃO CỦA HỌ

Bộ não của con người rất phức tạp. Cùng với việc tiến hành hàng triệu hoạt động mỗi ngày, nó còn biên soạn các bản hòa tấu, đưa ra những chính sách và nghĩ ra các đáp án cho những phương trình. Đây là nguồn tạo ra cảm giác, hành vi và những trải nghiệm của con người cũng như kho lưu trữ ký ức và tự ý thức. Vì thế, không có gì phải ngạc nhiên rằng bản thân bộ não vẫn là một điều bí ẩn.

Đóng góp vào điều bí ẩn đó là sự tranh cãi cho rằng con người chỉ sử dụng 10 phần trăm bộ não của họ. Nếu một người bình thường có thể kết nối với 90 phần trăm còn lại, thì họ cũng có thể trở thành một nhà bác học và nhớ được số π đến 20 ngàn chữ số thập phân hoặc thậm chí có những công năng đặc biệt có thể di chuyển đồ vật mà không cần tiếp xúc trực tiếp.

Tuổi thọ của huyền thoại này, bác sĩ Gordon nói, bắt nguồn từ quan niệm của con người về bộ não của họ: họ xem những thiếu sót của bản thân như những bằng chứng về sự tồn tại của phần chất xám chưa được sử dụng. Đây là một giả thuyết sai lầm. Tuy nhiên, cần phải hiểu một cách đúng đắn rằng vào những thời điểm nào đó trong cuộc đời, chẳng hạn khi chúng ta đang nghỉ ngơi đồng thời cũng nghĩ về điều gì đó, thì chúng ta có thể chỉ sử dụng 10 phần trăm bộ não của chúng ta.

“Nhưng trên thực tế, chúng ta sử dụng hầu như tất cả các phần của não, và toàn bộ các vùng não hoạt động hầu như liên tục”, bác sĩ Gordon nói thêm. “Chúng ta hãy nói thế này: não chiếm 3 phần trăm cân nặng của cơ thể và sử dụng 20 phần trăm năng lượng của cơ thể”.


Bộ não của con người có cân nặng trung bình khoảng 3 lbs (khoảng 1,4 kg) và bao gồm phần não trước (cerebrum) đồ sộ, đây là phần não lớn nhất và thực hiện tất cả những chức năng nhận thức cao hơn; tiểu não (cerebellum), kiểm soát các chức năng vận động (motor function), chẳng hạn như phối hợp chuyển động và thăng bằng; và phần thân não (brain stem), kiểm soát các chức năng tự động chẳng hạn như hít thở. Phần lớn năng lượng mà não tiêu thụ được dùng cho quá trình phóng điện của hàng triệu tế bào thần kinh truyền thông tin cho nhau. Các nhà khoa học cho rằng quá trình phóng điện và kết nối của các tế bào thần kinh này tạo ra tất cả các chức năng não phức tạp. Phần năng lượng còn lại của não được dùng để kiểm soát các hoạt động khác – bao gồm các hoạt động không chủ động, chẳng hạn như nhịp tim đập, và những hoạt động chủ động, chẳng hạn như lái xe.

Mặc dù vào một thời điểm nào đó tất cả các vùng não không cùng phóng điện là điều có thật, nhưng các nhà nghiên cứu về não bằng cách sử dụng các phương pháp tạo hình đã chứng minh rằng, giống như các tổ chức cơ của cơ thể, đa số các vùng não hoạt động liên tục trong suốt 24 giờ. “Chứng cứ cho thấy rằng trong một ngày bạn sử dụng 100% não bộ”, theo lời John Henley, một bác sĩ chuyên khoa thần kinh tại Chẩn Y Viện Mayo (Mayo Clinic) ở Rochester, bang Minnesota, Hoa Kỳ. Ngay cả trong lúc ngủ, các khu vực như v não trước (frontal cortex), khu vực này kiểm soát những chức năng như suy nghĩ ở mức cao hơn và tự ý thức (self-awareness), hoặc các khu vực nhận cảm xúc giác (somatosensory area), giúp con người cảm nhận môi trường xung quanh, cũng hoạt động, bác sĩ Henley giải thích.

Lấy ví dụ về hành động đổ cà phê vào ly vào buổi sáng: Khi đi đến bình cà phê, với tay lấy nó, đổ cà phê vào ly, thậm chí chừa chỗ cho sữa hoặc kem, thì các thùy chẩm (occipital lobe) và thùy đỉnh (parietal lobe), các v não kiểm soát vận động cảm giác (sensory motor) và cảm giác vận động (motor sensory), hạch nền (basal ganglia), tiểu não và thùy trán (frontal lobe) tất cả đều hoạt động. Một quá trình phóng điện của hoạt động thần kinh xảy ra trên hầu như toàn bộ các khu vực não chỉ trong thời gian vài giây.

“Điều này không nói rằng nếu não bị hủy hoại thì bạn sẽ không thể thực hiện những công việc hằng ngày”, bác sĩ Henely nói tiếp. “Có những người bị tổn thương não hoặc có những phần não bị cắt bỏ vẫn sống tương đối bình thường, đó là bởi vì bộ não có cách để bù lại và đảm bảo rằng những phần còn lại của não sẽ tiếp quản hoạt động này”.

Có thể vẽ chi tiết các khu vực và các chức năng não khác nhau là một yếu tố cần thiết (part and parcel) trong việc hiểu được các tác dụng phụ tiềm tàng nếu một khu vực não nào đó bắt đầu bị trục trặc. Các chuyên gia biết rằng các tế bào thần kinh thực hiện các chức năng giống nhau sẽ có khuynh hướng tập họp lại với nhau. Ví dụ, các tế bào thần kinh có chức năng kiểm soát chuyển động của ngón tay cái (thumb) được sắp xếp gần với những tế bào thần kinh kiểm soát chuyển động của ngón tay trỏ (forefinger). Do đó, khi tiến hành phẫu thuật não, các bác sĩ giải phẫu thần kinh (neurosurgeon) luôn hết sức thận trọng để tránh các bó thần kinh liên quan đến thị giác, thính giác và chuyển động, giúp não giữ lại càng nhiều chức năng của nó càng tốt.

Điều mà các chuyên gia không hiểu được là bằng cách nào các đám tế bào thần kinh từ những khu vực não khác nhau cộng tác để hình thành ý thức. Cho đến nay, vẫn chưa có chứng cứ cho thấy rằng có một khu vực kiểm soát ý thức, điều này làm cho các chuyên gia tin rằng đó là một nỗ lực chung của tập thể các tế bào thần kinh. Một điều bí ẩn khác ẩn náu bên trong các v não có nếp nhăn của chúng ta là, trong số tất cả các tế bào não, chỉ có 10% là các tế bào thần kinh; 90% còn lại là các tế bào thần kinh đệm (glial cell), giúp bảo vệ và hỗ trợ các tế bào thần kinh, nhưng chức năng của chúng vẫn chưa được hiểu rõ. Cuối cùng, không phải là chúng ta chỉ sử dụng 10% não của mình, nhưng chúng ta chỉ hiểu được 10% cách chúng hoạt động.




CƠ CHẾ VIÊM THẤP KHỚP CÓ THỂ THAY ĐỔI THEO TỪNG KHỚP

Các Ý Chính

-      Một phân tích về những thay đổi ngoài di truyền lên các hợp chất hóa học của bộ gen (epigenomic analysis) về chứng viêm thấp khớp (rheumatoid arthiritis: viêm khớp dạng thấp) ở đầu gối và các khớp hông đã tiết lộ những kiểu đặc thù cho thấy các cơ chế bệnh có thể khác nhau ở mỗi khớp.
-      Những phát hiện này có thể mở ra cánh cửa cho việc phát triển những phương pháp trị liệu hiệu quả hơn cho từng cá nhân bị viêm thấp khớp (viêm khớp dạng thấp).

Viêm thấp khớp (viêm khớp dạng thấp) là một chứng bệnh tự miễn dịch, trong đó hệ miễn dịch tấn công lầm chính cơ thể mình, chẳng hạn như màng lót các khớp. Điều này có thể gây đau nhức, sưng, đơ cứng, và mất chức năng hoạt động ở các khớp trên khắp cơ thể. Vì những lý do nào đó, các khớp khác nhau bị ảnh hưởng một cách khác biệt ở những người bị viêm thấp khớp (viêm khớp dạng thấp).


Người ta vẫn chưa hiểu rõ các nguyên nhân gây viêm thấp khớp (viêm khớp dạng thấp). Một vài gen gắn liền với hệ miễn dịch được xem có liên quan đến nguy cơ phát sinh chứng viêm thấp khớp (viêm khớp dạng thấp). Các yếu tố môi trường – chẳng hạn như hút thuốc lá, chế độ ăn uống, và stress – cũng có thể góp phần kích thích gây ra căn bệnh này. Hiểu rõ hơn về các cơ chế phân tử hoạt động ở căn bệnh này có thể dẫn đến những phương pháp tiếp cận hiệu quả hơn cho việc điều trị.

Một nhóm nghiên cứu do tiến sĩ Gary S. Firestein và tiến sĩ Wei Wang tại trường Đại Học California San Diego, Hoa Kỳ, dẫn đầu, đang nghiên cứu các tế bào hoạt dịch dạng nguyên bào sợi (fibroblast-like synoviocyte – FLS), một dạng tế bào lót các khớp góp phần vào quá trình hủy hoại khớp ở trường hợp bệnh viêm thấp khớp (viêm khớp dạng thấp). Trong nghiên cứu trước đây, nhóm nghiên cứu này đã thu thập được những kiến thức về cách hoạt động của các tế bào này nhờ sử dụng các yếu tố làm thay đổi cách thức các gen đọc, hoặc thể hiện, mà không làm thay đổi chuỗi ADN (DNA) (epigenetics). Họ đã xác định các kiểu metyl hóa ADN (DNA) - một phương pháp thay đổi yếu tố di truyền ảnh hưởng đến cách thể hiện gen (gene expression) - ở tế bào hoạt dịch dạng nguyên bào sợi mà nó cho thấy sự khác biệt giữa bệnh viêm thấp khớp (viêm khớp dạng thấp) và viêm xương khớp (osteoarthritis).

Trong nghiên cứu mới của họ, nhóm này đã tiến hành nghiên cứu tế bào hoạt dịch dạng nguyên bào sợi (FLS) lấy được từ các cuộc giải phẫu thay khớp hoàn toàn ở 30 người bị viêm thấp khớp và 16 người bị viêm xương khớp. Nghiên cứu này đã được đăng trên tạp chí Nature Communications số ra ngày 10 tháng Sáu năm 2016.

Các nhà khoa học đã sử dụng những phương pháp phân tích bằng máy vi tính để phân nhóm các mẫu tùy theo hàng ngàn khác biệt về quá trình metyl hóa mà họ tìm thấy trên bộ gen. Giống như kỳ vọng, kiểu metyl hóa tế bào hoạt dịch dạng nguyên bào sợi (FLS) trong trường hợp viêm thấp khớp (viêm khớp dạng thấp) khác với kiểu metyl hóa tế bào FLS trong trường hợp viêm xương khớp.

Tiếp theo các nhà nghiên cứu đã kiểm tra các chuỗi phản ứng sinh học bị ảnh hưởng đồng thời xác định một số các tế bào FLS mà chúng được metyl hóa một cách khác nhau trong trường hợp viêm thấp khớp đầu gối và viêm thấp khớp hông. Kết quả phân tích sự thể hiện gen đã xác nhận rằng các vị trí khớp khác nhau có các gen và các chuỗi phản ứng sinh học khác nhau. Nhiều chuỗi phản ứng trong số này có liên quan đến chức năng miễn dịch và quá trình viêm.

Sau đó nhóm nghiên cứu đã kiểm tra các loại thuốc được phát triển để điều trị bệnh viêm thấp khớp (viêm khớp dạng thấp). Họ đã so sánh các mục tiêu của thuốc nhắm đến các chuỗi phản ứng sinh học dành riêng cho khớp mà họ đã khám phá ra. Phân tích này cho thấy rằng một số loại thuốc tiềm năng có thể được đánh giá khác đi nếu như các chuỗi phản ứng sinh học này được xem xét. Phương pháp phân tích này có thể tạo ra nền tảng cho việc phát triển những phương pháp tiếp cận y học chính xác để điều trị bệnh viêm thấp khớp (viêm khớp dạng thấp).

“Chúng tôi đã cho thấy rằng các dấu hiệu ngoài di truyền (epigenetic mark) thay đổi theo từng khớp trong trường hợp bệnh viêm thấp khớp”, tiến sĩ Firestein nói. “Điều còn quan trọng hơn, đó là, những sự khác biệt này bao gồm các gen quan trọng và các chuỗi phản ứng sinh học mà chúng được ngăn chặn bởi những phương pháp điều trị viêm thấp khớp (viêm khớp dạng thấp) mới. Điều này có thể giúp giải thích lý do tại sao có một số khớp được cải thiện trong khi những khớp khác không có dấu hiệu được cải thiện, cho dù chúng được trị liệu với cùng loại thuốc”.



CÁC CƠN NHỒI MÁU CƠ TIM ÂM THẦM

Không phải tất cả các cơn nhồi máu cơ tim đều tạo ra hiện tượng đau ngực hoặc các triệu chứng phổ biến khác. Tuy nhiên, cái gọi là nhồi máu cơ tim âm thầm (silent heart attack) cũng có thể gây chết người. Nghiên cứu mới, được đăng trên tạp chí Tuần Hoàn (Circulation), đã nghiên cứu tác động của những sự kiện tim âm thầm nhưng không kém phần nghiêm trọng này.

Các triệu chứng điển hình của một cơn nhồi máu cơ tim bao gồm cảm giác bị đè nén, đau, và ép ngực.


Bệnh nhân cũng bị đau ở cánh tay, vai, cổ, lưng, răng, hoặc quai hàm. Đau bụng, khó thở, chóng mặt, chảy mồ hôi, buồn nôn và lo âu cũng thường xảy ra.

Đây có thể được xem là những triệu chứng kinh điển, nhưng các cơn nhồi máu cơ tim không luôn luôn xuất hiện theo cách này.

Trên thực tế, khoảng một nửa các cơn nhồi máu cơ tim không xuất hiện phần lớn các triệu chứng đó. Tuy nhiên, máu chảy đến cơ tim vẫn bị giảm xuống hoặc bị cắt đứt hoàn toàn; hiện tượng này được gọi là thiếu máu cục bộ (ischemia).

Sự Nguy Hiểm của Các Cơn Nhồi Máu Cơ Tim Âm Thầm

Vì sự vắng mặt của các triệu chứng, cho nên các cơn nhồi máu cơ tim âm thầm hiếm khi được phát hiện vào thời điểm nó xảy ra. Thông thường các dấu hiệu cho biết tình trạng bệnh nhân sẽ được bác sĩ lưu ý sau khi xem điện tâm đồ của bệnh nhân.

Mặc dù các cơn nhồi máu cơ tim này không xuất hiện các triệu chứng, nhưng điều đó không có nghĩa rằng chúng không gây tổn hại. Các nhà nghiên cứu từ Trung Tâm Y Tế Wake Forest Baptist (Wake Forest Baptist Medical Center), ở Winston-Salem, tiểu bang North Carolina, Hoa Kỳ, được dẫn đầu bởi bác sĩ Elsayed Z. Soliman, đã quyết định điều tra hậu quả của các sự kiện này một cách chi tiết hơn. Tính phổ biến và mức độ nguy hiểm của các cơn nhồi máu cơ tim là như thế nào?

“Hậu quả của một cơn nhồi máu cơ tim âm thầm cũng tồi tệ như một cơn nhồi máu cơ tim bình thường được nhận biết khi nó xảy ra. Chính vì bệnh nhân không biết họ đã bị một cơn nhồi máu cơ tim âm thầm, cho nên có thể họ không tiếp nhận sự điều trị cần thiết để ngăn ngừa một cơn nhồi máu cơ tim khác”, bác sĩ Soliman nói.

Nhóm nghiên cứu đã kết hợp các dữ liệu của khoảng 9498 người ở độ tuổi trung niên, những người này đã tham gia vào nghiên cứu Nguy Cơ Xơ Vữa Động Mạch trong Cộng Đồng (Atherosclerosis Risk in Communities - ARIC study) . Nghiên cứu này bắt đầu tuyển chọn tình nguyện viên vào năm 1987.

Họ đã ghi danh những cá nhân khỏe mạnh, không bị bệnh tim, đến từ tiểu bang Minnesota, Maryland, Mississippi, và North Carolina. Mục tiêu ban đầu của nghiên cứu ARIC này là điều tra các yếu tố nguy cơ gây bệnh tim và các tác động lên sức khỏe của chứng xơ vữa động mạch.

Đối với nghiên cứu hiện tại, nhóm này đã theo dõi con số những trường hợp nhồi máu cơ tim và các hệ quả của chúng trong tương lai. Họ cũng tìm kiếm sự khác biệt giữa người Mỹ gốc Châu Phi và người Mỹ gốc Châu Âu, giữa nam và nữ.

Các nhà nghiên cứu đã xem xét đánh giá dữ liệu của từng cá nhân trong khoảng 9 năm. Trong suốt thời gian đó, 386 cá nhân đã bị một cơn nhồi máu cơ tim với các triệu chứng điển hình, và 317 cá nhân có các cơn nhồi máu cơ tim âm thầm.

Sau đó, mỗi cá nhân tham gia nghiên cứu đã được theo dõi trong hơn 20 năm, để quan sát bệnh liên quan đến tim, tử vong do nhồi máu cơ tim, và các kết quả về sức khỏe ...

Các Số Liệu Phía Sau Các Cơn Nhồi Máu Cơ Tim

Bác sĩ Soliman và nhóm nghiên cứu của ông đã tìm thấy rằng các cơn nhồi máu cơ tim âm thầm chiếm khoảng 45% trong tổng số các cơn nhồi máu cơ tim. Họ đã khám phá ra rằng các cơn nhồi máu cơ tim âm thầm làm tăng gấp ba cơ hội tử vong do bệnh tim trong tương lai. Nhóm nghiên cứu cũng lưu ý rằng các cơn nhồi máu cơ tim âm thầm thường xảy ra ở nam giới hơn, tuy nhiên chúng lại thường gây tử vong ở phụ nữ hơn.

Điều đáng lo ngại là, các cơn nhồi máu cơ tim âm thầm được xem có thể làm tăng cơ hội tử vong từ mọi nguyên nhân khoảng 34%.

Ngoài ra, những người Mỹ gốc Châu Phi xem ra hồi phục kém hơn sau một cơn nhồi máu cơ tim âm thầm so với những người Mỹ gốc Châu Âu. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu cho rằng kết quả này có thể không đáng tin cậy bởi vì có rất ít người Mỹ gốc Châu Phi tham gia vào cuộc nghiên cứu.

Các kết quả đã được điều chỉnh cho phù hợp với những tham số tạo sự sai biệt tiềm tàng, chẳng hạn như hút thuốc lá, bệnh tiểu đường (đái tháo đường), cân nặng, mức cholesterol, cao huyết áp, thu nhập, và trình độ giáo dục.

Bác sĩ Soliman hy vọng rằng chứng cứ mới này, cho thấy mức độ phổ biến và nghiêm trọng của các cơn nhồi máu cơ tim âm thầm, có thể thúc đẩy những thay đổi trong các nguyên tắc hướng dẫn về chăm sóc sức khỏe. Các phát hiện họ tìm thấy đã chứng minh rằng những cá nhân bị các cơn nhồi máu cơ tim cần đến mức độ chăm sóc và hỗ trợ tương tự.

“Các bác sĩ cần giúp những bệnh nhân đã từng bị một cơn nhồi máu cơ tim âm thầm bỏ hút thuốc lá, giảm cân, kiểm soát cholesterol và huyết áp, và tập thể dục nhiều hơn”, bác sĩ Soliman nói.

Khi cộng đồng y tế và cộng đồng chung ngày càng trở nên nhận thức hơn về mối đe dọa âm thầm này, thì bác sĩ Soliman hy vọng rằng các cơn nhồi máu cơ tim âm thầm sẽ được điều trị một cách cẩn thận và nghiêm túc như các cơn nhồi máu cơ tim thông thường khác.


THỂ DỤC CÓ THỂ TĂNG CƯỜNG TRÍ NHỚ VÀ KỸ NĂNG SUY NGHĨ

Có lẽ bạn đã biết rằng tập thể dục là yếu tố cần thiết cho việc duy trì sức mạnh cơ bắp, giúp cho tim khỏe mạnh, duy trì cân nặng lành mạnh, và ngăn chặn các chứng bệnh mãn tính, chẳng hạn như bệnh tiểu đường (đái tháo đường).  Nhưng thể dục còn có thể giúp tăng cường các kỹ năng suy nghĩ.  “Có rất nhiều yếu tố khoa học hỗ trợ cho luận điểm này”, theo lời của bác sĩ Scott McGinnis, giảng viên khoa thần kinh tại Trường Y Khoa Harvard (Harvard Medical School).


Thể dục giúp tăng cường trí nhớ và kỹ năng tư duy của bạn một cách trực tiếp và gián tiếp. Nó tác động trực tiếp lên cơ thể bằng cách kích thích những thay đổi về chức năng cơ thể, chẳng hạn như giảm kháng insulin và giảm viêm, cùng với việc thúc đẩy quá trình sản sinh các yếu tố tăng trưởng (growth factor) – đây là các chất hóa học ảnh hưởng đến sự phát triển của các mạch máu ở não, và thậm chí ảnh hưởng đến sự phong phú, khả năng sống còn, và sức khỏe chung của các tế bào não mới hình thành.

Nó cũng tác động trực tiếp đến bản thân não bộ. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng những khu vực não có chức năng kiểm soát suy nghĩ và trí nhớ ở những người tập thể dục cũng có thể tích lớn hơn so với những người không tập thể dục. “Thậm chí điều đáng chú ý là các nghiên cứu đã phát hiện rằng tham gia vào một chương trình thể dục thường xuyên với mức độ vừa phải trong vòng 6 tháng hoặc một năm sẽ làm tăng thể tích não ở những khu vực được lựa chọn”, bác sĩ McGinnis nói.

Thể dục cũng có thể tăng cường trí nhớ và khả năng suy nghĩ một cách gián tiếp bằng cách cải thiện tâm trạng và giấc ngủ, cũng như bằng cách giảm stress và lo âu.  Những rối loạn trong các khu vực này thường góp phần gây ra tình trạng suy giảm nhận thức (cognitive impairment).

Về mặt sức khỏe não bộ, có sự khác biệt giữa các bộ môn thể dục không? Chúng tôi không có câu trả lời cho câu hỏi này, bởi vì hầu như đa số các nghiên cứu cho đến nay chỉ tập trung vào môn đi bộ. “Nhưng có khả năng rằng các hình thức thể dục lợi khí (aerobic exercise) khác giúp tim bơm máu cũng có thể tạo ra những lợi ích tương tự”, bác sĩ McGinnis giải thích.

Một nghiên cứu được đăng trên Tạp Chí Hội Lão Khoa Hoa Kỳ (Journal of the American Geriatrics Society) đã tìm thấy rằng thái cực quyền được chứng minh có khả năng tăng cường chức năng nhận thức ở những người cao tuổi, đặc biệt trong lĩnh vực chức năng điều hành, đó là quản lý các tiến trình nhận thức, chẳng hạn như lên kế hoạch, trí nhớ ngắn hạn (working memory), tập trung chú ý, giải quyết vấn đề, và đọc hiểu.  Đó có thể là bởi vì, thái cực quyền, một môn võ thuật sử dụng những động tác chậm và tập trung, đòi hỏi những kỹ năng học hỏi, ghi nhớ mới và những kiểu hình chuyển động.

Bác sĩ McGinnis đề xuất biến thể dục thành một thói quen, gần giống như uống thuốc mỗi ngày. Vì một số nghiên cứu đã chứng minh rằng cần khoảng 6 tháng để bắt đầu có được những lợi ích về chức năng nhận thức từ việc tập thể dục, ông nhắc nhở rằng bạn cần phải kiên nhẫn khi bạn chờ đợi những kết quả ban đầu, và rồi sau đó tiếp tục tập thể dục cho đến cuối đời.

Hãy nhắm đến mục tiêu tập thể dục ở mức độ vừa phải – chẳng hạn như đi bộ với tốc độ vừa – khoảng 150 phút mỗi tuần.  Bắt đầu vài phút mỗi ngày, và tăng thời gian lên 5 hoặc 10 phút mỗi tuần cho đến khi bạn đạt được mục tiêu.


Nguồn (Sources):