About

Monday, February 3, 2014

UNG THƯ PHỔI (LUNG CANCER) - Do LQT Biên Dịch


CÁC DẠNG VÀ GIAI ĐOẠN UNG THƯ PHỔI

Có hai dạng ung thư phổi chính:

-      Ung thư phổi không tiểu bào (non-small cell lung cancer – NSCLC) là dạng ung thư phổi phổ biến nhất.
-      Ung thư phổi tiểu bào (small cell lung cancer - SCLC) chiếm khoảng 20% các trường hợp ung thư phổi.

Nếu bệnh ung thư phổi là do cả hai dạng trên, thì đây được gọi là ung thư phổi tổng hợp tiểu bào/đại bào.

Nếu ung thư bắt đầu ở một nơi nào khác trong cơ thể và lan đến phổi, thì đây được gọi là bệnh ung thư di căn đến phổi (metastatic cancer to the lung).

Giai đoạn ung thư phổi được xác định dựa trên mức độ phát tán của bệnh ung thư – chỉ giới hạn ở một khu vực hoặc đã lan từ phổi đến các hạch bạch huyết hoặc các cơ quan khác.  Vì phổi có kích thước lớn, cho nên các khối u có thể phát triển trong đó trong một thời gian dài trước khi được phát hiện.  Ngay cả khi các triệu chứng – chẳng hạn như ho và mệt mỏi – thực sự xảy ra, nhiều người vẫn nghĩ rằng các triệu chứng này là do các nguyên nhân khác gây ra.  Vì lý do này, bệnh ung thư phổi ở giai đoạn đầu (giai đoạn 1 và 2) rất khó phát hiện.  Đa số những người bị ung thư phổi được chẩn đoán mắc bệnh ở giai đoạn 3 hoặc 4.

Các Giai Đoạn Ung Thư Phổi

-      Giai Đoạn I.  Ung thư chỉ giới hạn ở phổi và không lan đến các hạch bạch huyết (lymph node).  Khối u ung thư này thường nhỏ hơn 2 inch (nhỏ hơn 5 cm).
-      Giai Đoạn II.  Khối u ung thư ở giai đoạn này có thể phát triển lớn hơn 2 inch (lớn hơn 5 cm), hoặc nó có thể là một khối u nhỏ và bao gồm các cấu trúc lân cận, chẳng hạn như thành ngực, cơ hoành hoặc màng bao quanh phổi (pleura: màng phổi).  Ung thư cũng có thể đã lan đến các hạch bạch huyết.
-      Giai Đoạn III.  Khối u ung thư ở giai đoạn này có thể đã phát triển rất lớn và xâm nhập vào các cơ quan khác gần phổi.  Hoặc giai đoạn này có thể cho thấy một khối u có kích thước nhỏ hơn kèm theo các tế bào ung thư ở các hạch bạch huyết nằm cách xa phổi.
-      Giai Đoạn IV.  Ung thư đã lan ra ngoài lá phổi bị ảnh hưởng đến lá phổi bên kia hoặc đến các khu vực khác trong cơ thể.

Ung thư phổi tiểu bào thỉnh thoảng được phân loại là bị giới hạn hoặc lan rộng.  Dạng ung thư phổi bị giới hạn cho thấy tình trạng ung thư chỉ giới hạn ở một lá phổi.  Dạng ung thư phổi lan rộng cho thấy tình trạng ung thư đã lan ra khỏi một lá phổi.

UNG THƯ PHỔI KHÔNG TIỂU BÀO

Dấu chỉ chẩn đoán quan trọng nhất đối với bệnh ung thư phổi là mức độ bệnh và sự tham gia của hạch bạch huyết.  Ủy Ban Phối Hợp Hoa Kỳ về Xác Định Giai Đoạn Ung Thư và Báo Cáo Các Kết Quả Cuối Cùng (American Joint Committee for Cancer Staging and End Results Reporting) đã phát triển hệ thống xác định giai đoạn TNM (tumor-node-metastasis: khối u-hạch-di căn), giúp xác định mức độ phát tán của khối u nguyên phát (primary tumor), mức độ tham gia của hạch bạch huyết khu vực, và sự hiện diện hoặc vắng mặt của các khối u di căn ở các cơ quan khác cách xa phổi.  Hệ thống TNM được sử dụng cho tất cả các khối u biểu mô ác tính (carcinoma) ở phổi ngoại trừ các trường hợp ung thư phổi tiểu bào.

Các Giai Đoạn của Bệnh Ung Thư Phổi Không Tiểu Bào

Giai Đoạn I: Ung thư chỉ cư trú ở phổi và chưa lan đến các hạch bạch huyết.

Giai Đoạn II: Ung thư cư trú ở phổi và các hạch bạch huyết lân cận.

Giai Đoạn III: Ung thư được tìm thấy ở phổi và ở các hạch bạch huyết ở giữa ngực, còn được mô tả là bệnh tiến triển khu vực (locally advanced disease: bệnh đã lan ra các mô hoặc các hạch bạch huyết lân cận, nhưng không di căn).  Giai đoạn III có hai dạng phụ:

-      Nếu ung thư chỉ lan đến các hạch bạch huyết cùng bên của ngực nơi bệnh ung thư bắt đầu, dạng này được gọi là giai đoạn IIIA.
-      Nếu ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết ở phần bên kia của ngực, hoặc trên xương đòn (collar bone), dạng này được gọi là giai đoạn IIIB.

Giai Đoạn IV: Đây là giai đoạn ung thư phổi phát triển ở mức cao nhất, và còn được mô tả là bệnh phát triển ra khỏi vị trí ban đầu (advanced disease).  Giai đoạn này xuất hiện khi bệnh ung thư đã lan đến cả hai lá phổi, đến dịch ở khu vực xung quanh phổi, hoặc đến một khu vực khác của cơ thể, chẳng hạn như gan hoặc các cơ quan khác.

Hệ Thống Xác Định Giai Đoạn và Phân Nhóm TNM 2010 của Ủy Ban AJCC

Sự tham gia của khối u nguyên phát (primary tumor - T) như sau:

-      Tx – khối u nguyên phát không thể đánh giá được
-      T0 – không có chứng cứ của khối u
-      Tis – khối u biểu mô ác tính ở vị trí gốc
-      T1 – khối u từ 3 cm trở xuống với kích thước lớn nhất, bao quanh bởi phổi hoặc màng phổi (visceral pleura hay pulmonary pleura), không có chứng cứ soi phế quản của sự xâm nhập gần gốc hơn phế quản thùy (không ở phế quản chính)
-      T1a – Khối u từ 2 cm trở xuống
-      T1b – Khối u lớn hơn 2 cm nhưng từ 3 cm trở xuống
-      T2 – Khối u lớn hơn 3 cm nhưng từ 7 cm trở xuống
-      T2a – Khối u lớn hơn 3 cm nhưng từ 5 cm trở xuống
-      T2b – Khối u lớn hơn 5 cm nhưng từ 7 cm trở xuống
-      T3 – Khối u lớn hơn 7 cm hoặc khối u xâm nhập bất kỳ khu vực nào sau đây: màng vách (parietal pleura: lót thành ngực), thành ngực (chest wall), cơ hoành (diaphragm), dây thần kinh cơ hoành (phrenic nerve), màng trung thất (mediastinal pleura), hoặc lớp ngoài cùng của màng ngoài tim (parietal pericardium); hoặc khối u ở phế quản chính (chưa đến 2 cm cách xa xương lưỡi hái [carina] nhưng không dính líu đến xương lưỡi hái); chứng xẹp phổi có liên quan hoặc viêm mô phổi tắc nghẽn (obstructive pneumonitis) toàn bộ lá phổi hoặc khối u nhỏ ở cùng thùy
-      T4 – Khối u với bất kỳ kích thước nào xâm nhập khu vực sau đây: trung thất (mediastinum: khoảng không giữa ngực và các khoang phổi), tim, các mạch máu lớn, khí quản (trachea), dây thần kinh thanh quản hồi quy (recurrent laryngeal nerve), thực quản (esphagus), thân đốt sống (vertebral body hoặc centrum), hoặc xương lưỡi hái (carina); khối u tách rời ở một thùy khác cùng bên của cơ thể.

Sự tham gia của hạch bạch huyết (lymph node – N) như sau:

-      Nx – Các hạch khu vực không thể đánh giá được
-      N0 – Không di căn hạch khu vực
-      N1 – Di căn ở các hạch quanh phế quản cùng bên của cơ thể và/hoặc các hạch phổi phế quản (hilar nodes) cùng bên, bao gồm sự dính líu bằng cách lan rộng trực tiếp.
-      N2 – Di căn ở hạch trung thất cùng bên của cơ thể và/hoặc cận nhánh rẽ phế quản (subcarinal lymph node)
-      N3 – Di căn ở hạch trung thất đối bên (contralateral mediastinal node), hạch phổi phế quản đối bên (contralateral hilar node), hạch trên xương đòn đối bên hoặc cùng bên (ipsilateral hoặc contralateral scalene node)

Bao gồm khu vực di căn (M) như sau:

-      M0 – Không di căn
-      M1 – Di căn lan xa
-      M1a – Bướu nhỏ tách biệt ở một khối u thùy đối bên với các bướu màng phổi nhỏ hoặc tràn dịch màng phổi ác tính (malignant pleural effusion)
-      M1b – Di căn lan xa

Đối với hệ thống xác định giai đoạn TNM, bệnh ung thư phổi không tiểu bào (NSCLC) được chia thành 4 giai đoạn, với sự phân nhỏ các giai đoạn I – III thành các nhóm nhỏ A và B.  Các giai đoạn này có các dấu hiệu chẩn đoán và trị liệu quan trọng.

Hệ thống TNM phân nhóm giai đoạn ung thư như sau:

-      Giai đoạn 0 - TisN0M0 (khối u biểu mô ác tính ở vị trí gốc, không di căn hạch khu vực, không di căn)
-      Giai đoạn 1A - T1aN0M0 (khối u từ 2 cm trở xuống, không di căn hạch khu vực, không di căn) / T1bN0M0  (khối u lớn hơn 2 cm nhưng từ 3 cm trở xuống, không di căn hạch khu vực, không di căn)
-      Giai đoạn 1B - T2aN0M0 (khối u lớn hơn 3 cm nhưng từ 5 cm trở xuống, không di căn hạch khu vực, không di căn)
-      Giai đoạn IIA - T2bN0M0 (khối u lớn hơn 5 cm nhưng từ 7 cm trở xuống, không di căn hạch khu vực, không di căn) / T1aN1M0 (khối u từ 2 cm trở xuống, di căn ở các hạch quanh phế quản cùng bên của cơ thể và/hoặc các hạch phổi phế quản [hilar nodes] cùng bên, bao gồm sự tham gia bằng cách lan rộng trực tiếp, không di căn) / T1bN1M0 (khối u lớn hơn 2 cm nhưng từ 3 cm trở xuống, di căn ở các hạch quanh phế quản cùng bên của cơ thể và/hoặc các hạch phổi phế quản [hilar nodes] cùng bên, bao gồm sự tham gia bằng cách lan rộng trực tiếp, không di căn) / T1bN1M0 (khối u lớn hơn 2 cm nhưng từ 3 cm trở xuống, di căn ở các hạch quanh phế quản cùng bên của cơ thể và/hoặc các hạch phổi phế quản [hilar nodes] cùng bên, bao gồm sự tham gia bằng cách lan rộng trực tiếp, không di căn) / T2aN1M0 (khối u lớn hơn 3 cm nhưng từ 5 cm trở xuống, di căn ở các hạch quanh phế quản cùng bên của cơ thể và/hoặc các hạch phổi phế quản [hilar nodes] cùng bên, bao gồm sự tham gia bằng cách lan rộng trực tiếp, không di căn)
-      Giai đoạn IIB - T2bN1M0 (khối u lớn hơn 5 cm nhưng từ 7 cm trở xuống, di căn ở các hạch quanh phế quản cùng bên của cơ thể và/hoặc các hạch phổi phế quản [hilar nodes] cùng bên, bao gồm sự tham gia bằng cách lan rộng trực tiếp, không di căn) / T3N1M0 (khối u lớn hơn 7 cm hoặc khối u xâm nhập bất kỳ khu vực nào sau đây: màng vách [parietal pleura: lót thành ngực], thành ngực [chest wall], cơ hoành [diaphragm], dây thần kinh cơ hoành [phrenic nerve], màng trung thất [mediastinal pleura], hoặc lớp ngoài cùng của màng ngoài tim [parietal pericardium]; hoặc khối u ở phế quản chính [chưa đến 2 cm cách xa xương lưỡi hái [carina] nhưng không dính líu đến xương lưỡi hái]; chứng xẹp phổi có liên quan hoặc viêm mô phổi tắc nghẽn [obstructive pneumonitis] toàn bộ lá phổi hoặc khối u nhỏ ở cùng thùy phổi, di căn ở các hạch quanh phế quản cùng bên của cơ thể và/hoặc các hạch phổi phế quản [hilar nodes] cùng bên, bao gồm sự tham gia bằng cách lan rộng trực tiếp, không di căn)
-      Giai đoạn IIIA - T1aN2M0 (khối u từ 2 cm trở xuống, di căn ở hạch trung thất cùng bên của cơ thể và/hoặc cận nhánh rẽ phế quản [subcarinal lymph node], không di căn) / T1bN2M0 (khối u lớn hơn 2 cm nhưng từ 3 cm trở xuống, di căn ở hạch trung thất cùng bên của cơ thể và/hoặc cận nhánh rẽ phế quản [subcarinal lymph node], không di căn) / T2aN2M0 (khối u lớn hơn 3 cm nhưng từ 5 cm trở xuống, di căn ở hạch trung thất cùng bên của cơ thể và/hoặc cận nhánh rẽ phế quản [subcarinal lymph node], không di căn) / T3N1M0 (khối u lớn hơn 7 cm hoặc khối u xâm nhập bất kỳ khu vực nào sau đây: màng vách [parietal pleura: lót thành ngực], thành ngực [chest wall], cơ hoành [diaphragm], dây thần kinh cơ hoành [phrenic nerve], màng trung thất [mediastinal pleura], hoặc lớp ngoài cùng của màng ngoài tim [parietal pericardium]; hoặc khối u ở phế quản chính [chưa đến 2 cm cách xa xương lưỡi hái [carina] nhưng không dính líu đến xương lưỡi hái]; chứng xẹp phổi có liên quan hoặc viêm mô phổi tắc nghẽn [obstructive pneumonitis] toàn bộ lá phổi hoặc khối u nhỏ ở cùng thùy phổi, di căn ở các hạch quanh phế quản cùng bên của cơ thể và/hoặc các hạch phổi phế quản (hilar nodes) cùng bên, bao gồm sự tham gia bằng cách lan rộng trực tiếp, không di căn) / T3N2M0 (khối u lớn hơn 7 cm hoặc khối u xâm nhập bất kỳ khu vực nào sau đây: màng vách [parietal pleura: lót thành ngực], thành ngực [chest wall], cơ hoành [diaphragm], dây thần kinh cơ hoành [phrenic nerve], màng trung thất [mediastinal pleura], hoặc lớp ngoài cùng của màng ngoài tim [parietal pericardium]; hoặc khối u ở phế quản chính [chưa đến 2 cm cách xa xương lưỡi hái [carina] nhưng không dính líu đến xương lưỡi hái]; chứng xẹp phổi có liên quan hoặc viêm mô phổi tắc nghẽn [obstructive pneumonitis] toàn bộ lá phổi hoặc khối u nhỏ ở cùng thùy phổi, di căn ở hạch trung thất cùng bên của cơ thể và/hoặc cận nhánh rẽ phế quản [subcarinal lymph node], không di căn) / T4N1M0 (khối u với bất kỳ kích thước nào xâm nhập khu vực sau đây: trung thất [mediastinum], tim, các mạch máu lớn, khí quản [trachea], dây thần kinh thanh quản hồi quy [recurrent laryngeal nerve], thực quản [esphagus], thân đốt sống [vertebral body hoặc centrum], hoặc xương lưỡi hái [carina]; khối u tách rời ở một thùy khác cùng bên của cơ thể, di căn ở các hạch quanh phế quản cùng bên của cơ thể và/hoặc các hạch phổi phế quản [hilar nodes] cùng bên, bao gồm sự tham gia bằng cách lan rộng trực tiếp, không di căn)
-      Giai đoạn IIIB - T1aN3M0 (khối u từ 2 cm trở xuống, di căn ở hạch trung thất đối bên (contralateral mediastinal node), hạch phổi phế quản đối bên (contralateral hilar node), hạch trên xương đòn đối bên hoặc cùng bên (ipsilateral hoặc contralateral scalene node), không di căn) / T1bN3M0 (khối u lớn hơn 2 cm nhưng từ 3 cm trở xuống, Di căn ở hạch trung thất đối bên [contralateral mediastinal node], hạch phổi phế quản đối bên [contralateral hilar node], hạch trên xương đòn đối bên hoặc cùng bên [ipsilateral hoặc contralateral scalene node], không di căn) / T2aN3M0 (khối u lớn hơn 3 cm nhưng từ 5 cm trở xuống, Di căn ở hạch trung thất đối bên [contralateral mediastinal node], hạch phổi phế quản đối bên [contralateral hilar node], hạch trên xương đòn đối bên hoặc cùng bên [ipsilateral hoặc contralateral scalene node], không di căn) / T2bN3M0 (khối u lớn hơn 5 cm nhưng từ 7 cm trở xuống, Di căn ở hạch trung thất đối bên [contralateral mediastinal node], hạch phổi phế quản đối bên [contralateral hilar node], hạch trên xương đòn đối bên hoặc cùng bên [ipsilateral hoặc contralateral scalene node], không di căn) / T3N3M0 (khối u lớn hơn 7 cm hoặc khối u xâm nhập bất kỳ khu vực nào sau đây: màng vách [parietal pleura: lót thành ngực], thành ngực [chest wall], cơ hoành [diaphragm], dây thần kinh cơ hoành [phrenic nerve], màng trung thất [mediastinal pleura], hoặc lớp ngoài cùng của màng ngoài tim [parietal pericardium]; hoặc khối u ở phế quản chính [chưa đến 2 cm cách xa xương lưỡi hái [carina] nhưng không dính líu đến xương lưỡi hái]; chứng xẹp phổi có liên quan hoặc viêm mô phổi tắc nghẽn [obstructive pneumonitis] toàn bộ lá phổi hoặc khối u nhỏ ở cùng thùy phổi, di căn ở hạch trung thất đối bên [contralateral mediastinal node], hạch phổi phế quản đối bên [contralateral hilar node], hạch trên xương đòn đối bên hoặc cùng bên [ipsilateral hoặc contralateral scalene node], không di căn) / T4N2M0 (khối u với bất kỳ kích thước nào xâm nhập khu vực sau đây: trung thất [mediastinum], tim, các mạch máu lớn, khí quản [trachea], dây thần kinh thanh quản hồi quy [recurrent laryngeal nerve], thực quản [esphagus], thân đốt sống [vertebral body hoặc centrum], hoặc xương lưỡi hái [carina]; khối u tách rời ở một thùy khác cùng bên của cơ thể, di căn ở hạch trung thất cùng bên của cơ thể và/hoặc cận nhánh rẽ phế quản [subcarinal lymph node], không di căn) / T4N3M0 (khối u với bất kỳ kích thước nào xâm nhập khu vực sau đây: trung thất [mediastinum], tim, các mạch máu lớn, khí quản [trachea], dây thần kinh thanh quản hồi quy [recurrent laryngeal nerve], thực quản [esphagus], thân đốt sống [vertebral body hoặc centrum], hoặc xương lưỡi hái [carina]; khối u tách rời ở một thùy khác cùng bên của cơ thể, di căn ở hạch trung thất đối bên [contralateral mediastinal node], hạch phổi phế quản đối bên [contralateral hilar node], hạch trên xương đòn đối bên hoặc cùng bên [ipsilateral hoặc contralateral scalene node], không di căn)
-      Giai đoạn IV – Bất kỳ T nào, bất kỳ N nào, M1a/bất kỳ T nào, bất kỳ N nào, M1b
-      Tràn dịch màng ngoài tim (pericardial effusion) hoặc tràn dịch màng phổi là M1a, không phải T4
-      Khối u tách biệt ở phổi đối bên được xem là M1a
-      M1b chỉ định di căn lan xa

Ung thư phổi không tiểu bào (NSCLC) chiếm khoảng 85% các trường hợp ung thư phổi.  Trong số này là các dạng khối u sau đây:

-      Ung thư tuyến (adenocarcinoma: u mô tuyến ác tính) là một dạng ung thư phổi phổ biến nhất ở Hoa Kỳ đối với cả nam giới và phụ nữ.
-      Ung thư biểu mô tế bào vảy (squamous cell carcinoma còn được gọi là epidermoid carcinoma) hình thành trong màng lót của các ống phế quản (bronchial tube).
-      Ung thư biểu mô đại bào (large cell carcinoma) ám chỉ đến các dạng ung thư phổi không tiểu bào – không phải ung thư tuyến cũng như không phải ung thư biểu mô tế bào vảy.

UNG THƯ PHỔI TIỂU BÀO

Ung thư phổi tiểu bào (small cell lung cancer – SCLC) được phân giai đoạn theo loại giai đoạn và hệ thống xác định giai đoạn.

Các Phương Pháp Xác Định Giai Đoạn

Hiệp Hội Ung Thư Hoa Kỳ (American Cancer Society – ACS) sử dụng hai phương pháp xác định giai đoạn – lâm sàng và bệnh lý – cho ung thư phổi tiểu bào.  Phương pháp xác định giai đoạn lâm sàng bao gồm kiểm tra tổng quát (physical examination), các kiểm tra sinh thiết, và các kỹ thuật chụp lướt tạo hình (imaging scan); phần lớn bệnh nhân được xác định giai đoạn bằng phương pháp lâm sàng, và phương pháp xác định giai đoạn này thường được sử dụng để mô tả mức độ lan rộng của khối u ung thư phổi tiểu bào.

Xác định giai đoạn theo bệnh lý (pathologic staging hoặc surgical staging) thường tỏ ra chính xác hơn, vì nó bao gồm phương pháp xác định giai đoạn lâm sàng và thêm vào các phát hiện hậu phẫu.  Thỉnh thoảng, các phát hiện giữa 2 giai đoạn có thể khác nhau, chẳng hạn như trong các tiến trình trong đó ung thư nằm ở một khu vực mà không nhìn thấy được bằng các phương pháp chụp X-quang.  Các kết quả phẫu thuật có thể xác định bệnh ung thư ở một giai đoạn bệnh lý nghiêm trọng hơn.

Các Hệ Thống Xác Định Giai Đoạn

Hệ thống VALSG 2

Hệ thống xác định giai đoạn được sử dụng phổ biến nhất cho bệnh ung thư tiểu bào là hệ thống Veteran Administration Lung Group (VALSG) 2, giúp xác định bệnh ở giai đoạn giới hạn (limited-stage) và giai đoạn lan rộng (extensive stage).  Các bệnh nhân với bệnh ung thư chỉ giới hạn ở một bên ngực, có hoặc không có sự tham gia của các hạch bạch huyết trên xương đòn (scalene lymph node) cùng bên, hạch trung thất, hoặc hạch phổi phế quản đối bên được xem là mắc bệnh ở giai đoạn giới hạn, trong khi đó những người với tình trạng bệnh lý liên quan đến bất kỳ vị trí nào khác đều được xem là mắc bệnh ở giai đoạn lan rộng.

Yếu tố chính trong việc xác định bệnh ở giai đoạn giới hạn là khả năng bao gồm tất cả trong một cổng điều trị phóng xạ tương đối an toàn.

Hệ Thống TNM

Hầu như tất cả các khối u rắn, bao gồm các khối u biểu mô ác tính, được xác định giai đoạn bằng cách sử dụng hệ thống khối u-hạch-di căn (tumor- node-metastasis – TNM system), vì hệ thống này cung cấp các thông tin chẩn đoán quan trọng và được sử dụng để thiết lập các kế hoạch quản lý bệnh.  Tuy nhiên, tài liệu trước đây cho rằng hệ thống TNM không cung cấp được các thông tin chẩn đoán quan trọng ở các bệnh nhân bị ung thư phổi tiểu bào và chỉ hữu ích cho một vài bệnh nhân (<5%), mà những bệnh nhân này có thể thích hợp cho phẫu thuật cắt bỏ.

Hệ Thống IASLC TNM

Hiệp Hội Quốc Tế về Nghiên Cứu Ung Thư Phổi (International Association of the Study of Lung Cancer - IASLC) đã phát triển một hệ thống xác định giai đoạn TNM mới cho bệnh ung thư vào năm 2007; hệ thống xác định giai đoạn này dành cho cả hai dạng ung thư phổi không tiểu bào (NSCLC) và ung thư phổi tiểu bào.

Ủy Ban Phối Hợp Ung Thư Hoa Kỳ (AJCC) đã thông qua hệ thống TNM mới vào năm 2010.  Ngoài ra, nguyên tắc hướng dẫn thực hành lâm sàng của Mạng Lưới Ung Thư Diện Rộng Quốc Gia (National Comprehensive Cancer Network – NCCN) năm 2011 cho bệnh ung thư phổi tiểu bào đã kết hợp hệ thống TNM vào các tiến trình chẩn đoán và trị liệu; mạng lưới NCCN đề xuất rằng các nhà nghiên cứu nên bắt đầu sử dụng hệ thống xác định giai đoạn TNM trong nỗ lực đánh giá chính xác các tiên lượng bệnh và đưa ra các chọn lựa trị liệu thích hợp cho mỗi bệnh nhân.  Đề xuất này cũng được đề cập trong các nguyên tắc hướng dẫn năm 2013 của mạng lưới NCCN.

Ung thư phổi tiểu bào là nguyên nhân gây ra 15% các trường hợp bị ung thư phổi còn lại ở Hoa Kỳ.  Ung thư phổi tiểu bào bắt nguồn từ việc hút thuốc thậm chí nhiều hơn ở dạng ung thư phổi không tiểu bào, và phát triển nhanh hơn cũng như di căn đến các phần khác của cơ thể sớm hơn dạng ung thư phổi không tiểu bào.  Ung thư phổi tiểu bào cũng có phản ứng tốt hơn với trị liệu hóa học (chemotherapy).

Các Giai Đoạn của Bệnh Ung Thư Tiểu Bào

Giai Đoạn Bị Giới Hạn: Ở giai đoạn này, khối u ung thư chỉ được tìm thấy ở một bên ngực, chỉ bao gồm một phần của phổi và các hạch bạch huyết lân cận.

Giai Đoạn Lan Rộng: Ở giai đoạn này, ung thư đã lan đến các vùng khác ở ngực hoặc các bộ phận khác của cơ thể.


Nguồn bổ sung: