About

Monday, March 31, 2014

TIN TỨC Y HỌC - Do LQT Biên Dịch



LOẠI CHẤT BÉO LÀM GIẢM CÂN NHIỀU HƠN

Chính vì bạn khá thành thạo về ngôn ngữ chế độ dinh dưỡng, do đó bạn biết rằng tiêu thụ quá nhiều chất béo sẽ dẫn đến tăng cân. Nhưng: Theo nghiên cứu mới ở Thuỵ Điển, không phải là số lượng chất béo bao gồm trong bữa ăn của bạn – mà đó là loại chất béo nào bạn đang sử dụng. Nghiên cứu này, được công bố trên tạp chí Bệnh Tiểu Đường (Diabetes), đã cho thấy rằng việc tiêu thụ nhiều chất béo bão hoà (saturated fat: được tìm thấy chủ yếu trong các thực phẩm chứa mỡ động vật chẳng hạn như kem, phó mát [cheese], bơ [butter], mỡ heo [lard]; các loại thịt chứa nhiều mỡ, cũng như một số sản phẩm thực vật chẳng hạn như dầu dừa [coconut oil], dầu hạt bông [cottonseed oil], dầu cọ [palm oil]; sôcôla, và nhiều loại thực phẩm được chế biến sẵn) thực sự sản sinh nhiều mỡ trong cơ thể hơn và tạo ra ít cơ bắp hơn so với việc tiêu thụ loại chất béo không bão hoà đa liên kết (polyunsaturated fat: được tìm thấy chủ yếu trong các quả hạch [nuts], các loại hạt [seeds], cá, tảo [algae], rau xanh).



Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã hướng dẫn 39 người thành niên trẻ tuổi tiêu thụ 750 calorie bánh nướng bơ (muffin) trong bảy tuần – bên cạnh chế độ ăn uống bình thường của họ. Mục đích là để cho những người tham tăng trọng lượng cơ thể khoảng 3% so với trọng lượng ban đầu vào thời điểm kết thúc cuộc nghiên cứu. Nhưng đây là yếu tố then chốt: Các nhà khoa học đã cho một nửa nhóm người tham gia tiêu thụ bánh nướng bơ được làm từ dầu cọ (palm oil), là một loại chất béo bão hoà, và một nửa nhóm còn lại tiêu thụ bánh nướng bơ được làm từ dầu hạt hướng dương (sunflower oil), một loại chất béo không bão hoà đa liên kết.

Cả hai nhóm đều đạt được mức cân nặng như nhau. Nhưng điều thú vị là, những người ăn bánh nướng bơ (muffin) làm từ chất béo bão hoà đã sản sinh nhiều mỡ trong cơ thể hơn, đặc biệt trong gan và bụng của họ. Hơn nữa, khối lượng cơ bắp (muscle mass) của họ cũng tăng kém hơn ba lần so với nhóm tiêu thụ loại chất béo không bão hoà đa liên kết, và đó là điều gây thất vọng bởi vì khi nói đến tăng cân, thì khối lượng cơ bắp là những gì mà bạn mong muốn. Vì vậy, tại sao lại có sự khác biệt này? Các nhà nghiên cứu nói rằng chất béo bão hoà có thể làm cho cơ thể bạn sản sinh nhiều mỡ bụng hơn – còn được gọi là mỡ nội tạng (visceral fat). Mặt khác, các loại đa chất béo không bão hoà đa liên kết thực sự có thể điều chỉnh quá trình dự trữ mỡ nội tạng trong cơ thể bạn.

Bây giờ, thực sự chúng tôi có thể nghe câu hỏi tiếp theo của bạn: Nếu cả hai nhóm đã đạt được cân nặng như nhau thì thực ra có vấn đề gì đối với việc tăng chất béo? Tất cả đều liên quan đến quá trình chuyển hóa sinh học trong cơ thể bạn. Như bạn thấy, cả hai loại mỡ ở gan và bụng đều làm gián đoạn quá trình chuyển hóa trong cơ thể bạn nhiều hơn so với những loại chất béo khác, theo lời các nhà nghiên cứu. Và điều đó thật nguy hiểm bởi vì quá trình chuyển hóa sẽ giữ cho cơ thể bạn hoạt động một cách thuận lợi, có nghĩa là nếu bạn làm rối loạn tiến trình này bây giờ, thì bạn có thể sẽ bị tăng cân nhiều hơn sau này. Đây cũng là một lý do để bạn hạn chế tiêu thụ các chất béo bão hoà. (Trở về đầu trang)



XÉT NGHIỆM MÁU PHÁT HIỆN UNG THƯ

Ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai ở Hoa Kỳ - một phần bởi vì không thể chữa khỏi, nhưng cũng vì khó phát hiện cho tới khi khối u phát triển và lan rộng. Nhưng không lâu nữa, các bác sĩ có thể thông báo cho bạn biết rằng bạn có bị mắc bệnh ung thư hay không bằng một xét nghiệm đơn giản.

Các nhà nghiên cứu từ trường Đại Học Johns Hopkins (Johns Hopkins University) đã phát triển một phương pháp xét nghiệm máu mà nó có thể xác định được những dấu hiệu sinh học cho nhiều trường hợp ung thư giai đoạn 1. Xét nghiệm này sẽ sàng lọc DNA khối u tuần hoàn (ctDNA) trong cơ thể bạn, mà DNA này sẽ gia tăng khi khối u phát triển.



"Thách thức đối với ctDNA là việc phát hiện một số lượng nhỏ các phân tử DNA bị đột biến trong vô số các phân tử DNA bình thường trong máu", theo nghiên cứu của tác giả Victor Velculescu, bác sĩ, tiến sĩ y khoa. Nhóm làm việc của ông đã nghiên cứu được cách phát hiện ra những dấu hiệu sinh học nhỏ như tìm kim dưới đáy biển, và đã tìm thấy rằng xét nghiệm máu này có thể xác định được phân tử ctDNA trong phân nửa số trường hợp ung thư tuyến tụy (pancreatic cancer) và hơn 75% số trường hợp ung thư đại tràng (colon cancer) và ung thư vú (breast cancer). Xét nghiệm này càng trở nên chính xác hơn khi bệnh ung thư tiến triển, và có thể phát hiện được gần như toàn bộ các giai đoạn sau của căn bệnh, tiến sĩ Velculescu nói.

Phát hiện bệnh ung thư ở giai đoạn đầu sẽ nâng cao khả năng bác sĩ có thể can thiệp đủ sớm để giải phẫu cắt bỏ khối u, nhờ đó sẽ giảm được tỷ lệ tử vong, theo lời tiến sĩ Velculescu.

Vậy khi nào bạn có thể đăng ký? Các xét nghiệm dựa trên phương pháp tiếp cận này đang sẵn sàng cho nghiên cứu, và một cách lý tưởng là trong vòng vài năm tới đây bạn sẽ bắt đầu thấy phương pháp này được ứng dụng rộng rãi, đầu tiên cho các trường hợp bệnh ung thư giai đoạn cuối và sau đó là các xét nghiệm thường niên cho tất cả mọi người ở một độ tuổi nhất định, tiến sĩ Velculescu nói. "Mục tiêu là dành cho bệnh nhân đến khám bác sĩ và thực hiện một xét nghiệm máu đơn giản để biết rằng liệu bệnh nhân có phân tử ctDNA để chỉ ra một khối u", ông ấy giải thích.  Hiện tại thì thế nào? Cách tốt nhất để phòng chống bệnh ung thư là tiến hành thực hiện các biện pháp ngăn ngừa hiện hành. (Trở về đầu trang)




KÍNH X-QUANG GIÚP BÁC SĨ GIẢI PHẪU PHÁT HIỆN UNG THƯ

Khi kính phóng đại thực tế bắt đầu xuất hiện trong lĩnh vực y tế, thì các bác sĩ đang làm quen với việc sử dụng công nghệ kính đeo để giúp tìm kiếm các tĩnh mạch khó phát hiện.  Tuy nhiên, công nghệ mới nhất về kính đeo y khoa đang khắc phục một vấn đề nghiêm trọng hơn, nguyên nhân thứ hai gây tử vong ở Hoa Kỳ.



Một nhóm các nhà nghiên cứu từ trường Đại Học Y Khoa Washington (Washington University School of Medicine) ở thành phố St. Louis, bang Missouri, Hoa Kỳ, đã phát minh một cặp kính kỹ thuật cao có khả năng giúp các bác sĩ giải phẫu nhìn thấy các tế bào ung thư.  Loại kính này trang bị công nghệ video chuyên biệt, màn hình gắn ở đầu và tác nhân phân tử nhắm mục tiêu có chức năng liên kết với các tế bào ung thư.  Khi được nhìn từ kính đeo này, các tế bào ung thư phát ra màu xanh lam (blue).

Ngay cả khi được phóng to ở mức độ cao, các tế bào ung thư vẫn rất khó được phát hiện.  Loại kính này được thiết kế để giúp các bác sĩ giải phẫu phân biệt các tế bào khỏe mạnh và các tế bào ung thư dễ dàng hơn, nhờ đó bác sĩ không bỏ sót các tế bào khối u trong thời gian phẫu thuật.

Loại kính này được sử dụng trong phẫu thuật lần đầu tiên vào đầu tuần qua tại bệnh viện Barnes-Jewish Hospital và tại trường Đại Học Y Khoa Washington.  Julie Margenthaler, bác sĩ giải phẫu ngực, người đã thực hiện phẫu thuật này, nói rằng khoảng 20 – 25% số bệnh nhân bị ung thư vú cắt bỏ khối u ngực đã quay trở lại cho lần phẫu thuật thứ 2 vì công nghệ hiện tại chưa phô bày đầy đủ phạm vi của căn bệnh.  Bà hy vọng rằng công nghệ mới này có thể cắt giảm hoặc loại bỏ hoàn toàn nhu cầu tái phẫu thuật.

“Chúng tôi đang ở giai đoạn ban đầu của công nghệ này, và sẽ có thêm phát minh cũng như thử nghiệm được thực hiện, nhưng chúng tôi thực sự được động viên bởi các lợi ích tiềm năng cho các bệnh nhân”, Margenthaler, phó giáo sư khoa giải phẫu tại trường Đại Học Washington, nói trong một công bố mới đây.  “Hãy tưởng tượng xem điều này có ý nghĩa như thế nào nếu các loại kính này có thể loại bỏ được nhu cầu phẫu thuật theo dõi (follow-up surgery) và cơn đau kéo theo, sự phiền phức, và nỗi lo lắng”. (Trở về đầu trang)



CHĂM SÓC SỨC KHỎE TIM

Bệnh tim là nguyên nhân gây tử vong lớn nhất cho phụ nữ và nam giới ở Hoa Kỳ.  Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, đây là một căn bệnh có thể ngăn ngừa được.

Với tháng Hai được chỉ định là Tháng Tim Hoa Kỳ (American Heart Month), bác sĩ Suzanne Steinbaum, giám đốc chương trình Sức Khỏe Tim Phụ Nữ (Women's Heart Health) tại Bệnh Viện Lenox Hill (Lenox Hill Hospital) ở thành phố New York, đã đưa ra 10 hướng dẫn giúp bạn giảm bớt nguy cơ gặp phải các rối loạn tim mạch:

Ghi nhớ những con số của bạn: Các kiểm tra sẽ cung cấp cho bạn các thông tin về nguy cơ mắc bệnh tim.  Bạn nên theo dõi huyết áp, mức cholesterol, hemoglobin A1C (huyết đường) và các yếu tố xác định viêm (inflammatory marker: sự gia tăng độ lắng hồng cầu [erythrocyte sedimentation rate - ESR] và C-reactive protein [CRP] thường được xem là các yếu tố xác định viêm lâm sàng).

Chú ý đến chế độ ăn của bạn: “Nghiên cứu đã cho thấy chế độ ăn giàu trái cây (hoa quả) và rau củ quả, ngũ cốc nguyên hạt (whole grain), các loại rau đậu (legumes), các loại quả hạch (nut), và dầu oliu (olive oil) – phù hợp với chế độ ăn Địa Trung Hải – có thể giảm được tỷ lệ mắc bệnh tim khoảng 30%, trong khi các chế độ ăn giàu các chất béo bão hòa (saturated fats: có trong thịt bò nhiều mỡ, thịt cừu non, thịt heo [lợn], thịt gia cầm có da, mỡ bò, mỡ heo [lợn] và kem, [butter], phó mát [cheese], và các sản phẩm từ sữa 2% trở lên) và các loại đường đơn có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim khoảng 30%”, bác sĩ Steinbaum nói.  “Lưu ý đến những gì bạn ăn là một trong những yếu tố cơ bản quan trọng giúp duy trì sức khỏe tim của bạn”.



Tập thể dục: Các hướng dẫn của Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ (American Heart Association) đề xuất 2 tiếng rưỡi tập thể dục vận động tim mạch mỗi tuần, bác sĩ Steinbaum nói.  Tập thể dục có tác dụng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim, đột quỵ (tai biến mạch máu não), bệnh tiểu đường (đái tháo đường), béo phì và các tình trạng bệnh lý khác.



Quản lý stress: “Stress gây tổn thương đến tim, làm tăng hooc môn khắp cơ thể, các hooc mon này liên quan đến hội chứng “đánh hoặc chạy” (flight-or-fight syndrome), dẫn đến tình trạng tăng nhịp tim và huyết áp”, theo lời bác sĩ Steinbaum.  “Stress còn có thể làm tăng hàm lượng hooc môn stress (stress hormone: chẳng hạn như cortisol và epinephrine [adrenalin]), có chức năng gây viêm, dẫn đến bệnh tim.  Tất cả chúng ta đều bị stress trong cuộc sống, do đó việc quản lý stress là một phần quan trọng trong việc duy trì sức khỏe tim”.

Làm chủ nghệ thuật sống vui: Các cảm xúc mang tính tích cực chẳng hạn như tính lạc quan có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim, và thường xuyên cười cũng giúp cho sức khỏe của tim, theo lời bác sĩ Steinbaum.  Làm chủ nghệ thuật sống vui giúp tăng cường hệ miễn dịch, giảm stress và hạ huyết áp.

Giữ cho các động mạch dẻo dai: “Các loại thực phẩm như sôcôla đen (dark chocolate), các loại dâu, trà và rượu vang đỏ…có tác dụng giúp làm giãn nở các động mạch, giảm huyết áp, hạ cholesterol và ngăn ngừa máu đóng cục”, bác sĩ Steinbaum nói.  “Nếu màng trong của các động mạch bị xơ cứng, thì bạn có nhiều nguy cơ phát triển bệnh tim.  Một kiểm tra có tên là AndoPAT, là một kiểm tra không qua da (noninvasive test) có tác dụng đánh giá chức năng của màng trong động mạch, có thể cảnh báo cho bạn biết rằng bạn có bị tình trạng tích lũy mảng vữa trong các động mạch tim không, tình trạng này có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim”.

Lưu ý đến những khác biệt về giới tính đối với bệnh tim: Nếu bạn lo ngại rằng bạn có các triệu chứng của bệnh tim, thì hãy đi khám bác sĩ hoặc gọi cho dịch vụ cấp cứu địa phương ngay.  Một số phụ nữ tỏ ra do dự về việc đi khám bác sĩ vì họ lo sợ rằng họ bị lầm lẫn.  “An toàn còn hơn phải hối tiếc”, bác sĩ Steinbaum nói.  Đối với phụ nữ, các dấu hiệu mắc bệnh tim có thể không dễ phát hiện: khó thở, đau hàm, đau lưng, buồn nôn, nôn mửa, các rối loạn về giấc ngủ hoặc mệt mỏi.

Trò chuyện với người nhà của bạn: Cố gắng thu thập thông tin về tiền sử bệnh của gia đình bạn.  “Mặc dù bệnh tim là do các chọn lựa về lối sống chiếm khoảng 80 – 90% trong các trường hợp, nhưng tiền sử bệnh tim của gia đình cũng được xem là rất quan trọng”, bác sĩ Steinbaum nói.  “Nếu bạn có một người mẹ bị bệnh tim [ở độ tuổi nhỏ hơn] 65, hoặc một người cha [ở độ tuổi trẻ hơn] 55, thì việc chẩn đoán sớm và ngăn ngừa là một yếu tố quan trọng.  Bạn càng biết sớm, thì bạn càng có cơ hội thay đổi kết quả và có thể kiểm soát được số mạng của bạn”.

Nếu bạn là phụ nữ, hãy xem xét tiền sử mang thai của bạn: Nếu bạn bị cao huyết áp hoặc tăng đường huyết trong thời gian mang thai, thì bạn có nhiều nguy cơ mắc bệnh tim hơn.

Hãy chủ động tiến hành các kiểm tra sàng lọc: “Nếu bạn có nhiều yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim hoặc gia đình có tiền sử mắc bệnh cao, hãy đi kiểm tra …để xác định nguy cơ mắc bệnh tim thực sự”, theo lời bác sĩ Steinbaum.  “Nếu [các kết quả kiểm tra của bạn] là không bình thường, thì nguy cơ mắc bệnh của bạn tăng lên và bạn nên bắt đầu ngay phương pháp phòng chống, cho dù là thay đổi lối sống hoặc sử dụng thuốc.  Việc có được các thông tin này cho phép bạn tạo được sự khác biệt đối với sức khỏe của tim.  Có được các thông tin này rất có lợi cho bạn”. (Trở về đầu trang)



THỜI TIẾT LẠNH VÀ TẬP THỂ DỤC CÓ THỂ GIÚP GIẢM CÂN

Nếu thời tiết giá lạnh làm cho bạn bị run lập cập, thì điều đó tạo ra một lợi điểm – nó có thể giúp bạn đốt calorie.  Tình trạng run rẩy nhẹ và tập thể dục vừa sức có thể chuyển hóa mỡ trắng (white fat) có hại thành mỡ nâu (brown fat) có lợi cho sức khỏe, theo một nghiên cứu mới.



Mỡ trắng lưu trữ calorie trong khi mỡ nâu giúp đốt calorie.  Ví dụ, 50 g mỡ trắng lưu trữ hơn 300 calorie dưới dạng năng lượng, trong khi đó, với cùng số lượng này, mỡ nâu có thể đốt 300 calorie mỗi ngày, theo giải thích của các nhà khoa học thực hiện nghiên cứu này tại Viện Sức Khỏe Quốc Gia Hoa Kỳ (U.S. National Institutes of Health - NIH).

Các tác giả nghiên cứu nói các phát hiện của họ có thể dẫn đến các phương pháp kích hoạt mỡ nâu giúp chống lại bệnh béo phì và tiểu đường.

Các nhà điều tra đã tìm thấy rằng tập thể dục vừa sức và run lập cập nhẹ do thời tiết lạnh có tác dụng làm tăng hàm lượng hooc môn “irisin” (do cơ sản sinh) và “FGF21” (do mỡ nâu sản sinh).  Tăng hàm lượng irisin sau 10 – 15 phút bị run lập cập cũng tương tự như sau một giờ tập thể dục vừa sức trên một máy đạp xe tại chỗ.



Các kiểm tra xét nghiệm đã cho thấy rằng hooc môn irisin và FGF21 chuyển hóa các tế bào mỡ trắng ở người thành các tế bào mỡ nâu trong vòng 6 ngày, theo nghiên cứu được đăng trên tạp chí Quá Trình Chuyển Hóa Tế Bào (Cell Metabolism) vào ngày 4 tháng 2.

Khả năng kích hoạt quá trình chuyển hóa này có những mối liên hệ sức khỏe quan trọng, các nhà nghiên cứu đề xuất.

“Sự nổi bật trong lĩnh vực mỡ nâu đã gia tăng đáng kể trong vòng vài năm qua vì đặc tính đốt năng lượng của nó đã làm cho mỡ nâu trở thành một mục tiêu trị liệu tiềm năng chống lại bệnh béo phì và tiểu đường”, bác sĩ Paul Lee, bác sĩ chuyên khoa nội tiết tại Viện Nghiên Cứu Y Khoa Garvan (Garvan Institute of Medical Research) ở Úc, đã nói trong một công bố báo chí của viện.

“Sự chuyển hóa mỡ trắng thành mỡ nâu có thể bảo vệ các động vật chống lại bệnh tiểu đường, béo phì và gan nhiễm mỡ.  Những người có nhiều mỡ nâu sẽ có mức huyết đường thấp hơn”, theo giải thích của bác sĩ Lee, người thực hiện nghiên cứu này tại Viện Sức Khỏe Quốc Gia Hoa Kỳ (NIH).

Các trẻ sơ sinh có mỡ nâu để giúp giữ cho cơ thể ấm áp.  Cho đến gần đây, người ta vẫn cho rằng mỡ nâu đã bị mất đi vào đầu thời kỳ sơ sinh, nhưng hiện nay nghiên cứu đã cho thấy rằng phần lớn hoặc tất cả những người thành niên vẫn còn mỡ nâu trong cơ thể, theo công bố của Viện Sức Khỏe Quốc Gia Hoa Kỳ (NIH).  Những người thành niên có nhiều mỡ nâu sẽ có thân hình mảnh mai hơn so với những người có ít mỡ nâu.

“Chúng tôi cho rằng tập thể dục có thể có tác dụng tương tự như tình trạng bị run lập cập do thời tiết lạnh – vì cơ bị co lại trong cả hai quá trình này, và cho rằng, hooc môn irisin do tập thể dục kích thích tạo ra có thể đã tiến hóa từ tình trạng bị run lập cập trong thời tiết lạnh”, bác sĩ Lee nói. (Trở về đầu trang)


BẠN CÓ NÊN KIỂM TRA ĐỂ PHÁT HIỆN UNG THƯ PHỔI KHÔNG?

Ở tuổi 50, bạn phải biết là nên tiến hành nội soi đại tràng (colonoscopy). Nhưng lần đầu tiên, kiểm tra sàng lọc ung thư phổi có thể sẽ được thực hiện trong tương lai. Bạn có nguy cơ mắc bệnh không?



Các kiểm tra sàng lọc (screening) phát hiện ung thư đại tràng, ung thư tuyến tiền liệt, và ung thư da có tác dụng giúp bảo vệ mạng sống. Thật vậy, Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Chống Dịch Bệnh Hoa Kỳ (Center for Disease Control and Prevention - CDC) ước tính rằng nếu tất cả mọi người trên 50 tuổi thường xuyên kiểm tra sàng lọc ung thư đại tràng, thì có thể ngăn ngừa được 60% các ca tử vong từ căn bệnh này. Việc phát hiện sớm bệnh ung thư da có thể tạo nên sự khác biệt giữa sự sống và cái chết.

Ngày nay, các kiểm tra sàng lọc ung thư phổi đã được đưa vào danh sách bảo vệ mạng sống. Lần đầu tiên, Nhóm Đề Xuất Dịch Vụ Phòng Chống Hoa Kỳ (U.S. Preventive Services Task Force) đã ban hành các hướng dẫn về các kiểm tra sàng lọc ung thư phổi. Nếu bạn ở trong độ tuổi từ 55 đến 80 và có tiền sử hút 30 gói thuốc lá trong một năm – nghĩa là bạn hút một gói mỗi ngày trong vòng 30 năm – thì bạn phải nên đi kiểm tra sàng lọc mỗi năm.

Và nếu như bạn đã ngưng hút thuốc lá trong vòng 15 năm qua, thì bạn vẫn đủ điều kiện để kiểm tra sàng lọc – kiểm tra này sẽ cung cấp hình ảnh 3 chiều cho phổi của bạn thông qua việc chụp CT phân lượng thấp (low-dose CT scan).



Tuy nhiên, không phải chỉ có những người hút thuốc mới nên cân nhắc tiến trình này. Các yếu tố nguy cơ – tiền sử gia đình có người mắc bệnh, tiền sử mắc các chứng bệnh khác về phổi chẳng hạn như bệnh tắc nghẽn phổi mãn tính (chronic obstructive lung disease), hoặc tiếp xúc nghề nghiệp với các hoá chất như radon, amiăng, asen (thạch tín), hoặc nhựa than đá – có thể được xem là đủ điều kiện để thực hiện tiến trình này.

Kiểm tra sàng lọc này cho phép các bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh cao nhận được sự theo dõi thường xuyên, tạo ra khả năng lớn hơn để phát hiện ung thư phổi sớm, là lúc mà cơ hội chữa khỏi bệnh cao hơn, theo lời của bác sĩ Robin Lucas, bác sĩ chuyên khoa hô hấp (pulmonologist) tại Trung Tâm Y tế Somerset (Somerset Medical Center), bang New Jersey.

Thông thường, ngay cả khi bạn có tiền sử hút thuốc, thì bạn cũng không nhất thiết phải tiến hành kiểm tra sàng lọc ung thư phổi. “Phương pháp kiểm tra duy nhất trước đây chúng ta có là chụp X quang, nhưng cách này đáng tiếc vẫn chưa đủ”, bác sĩ Lucas đã nói. Vì sao? “Phương pháp X quang chỉ chụp được một chiều, mà lại có rất nhiều cấu trúc – chẳng hạn như mạch máu, cơ và xương – có thể che khuất các khối u ung thư ở phổi”, theo lời bác sĩ Lucas.

Thật vậy, một nghiên cứu kéo dài trong 8 năm được đăng trên tạp chí New England Journal of Medicine cho thấy rằng chụp CT độ phân lượng thấp sẽ mang lại hiệu quả trong việc phát hiện ung thư – trong nghiên cứu này, những bệnh nhân đã thực hiện chụp CT có tỷ lệ tử vong thấp hơn so với những người không thực hiện là 20%. Những đề xuất kiểm tra sàng lọc mới cũng đã phát triển từ các kết quả của nghiên cứu này.

Nếu bạn cảm thấy phù hợp với những hướng dẫn này, thì tất cả những điều bạn phải làm là nhờ bác sĩ riêng của bạn giới thiệu đi kiểm tra sàng lọc. Vì vậy, nếu bạn tỏ ra lo lắng, hãy hỏi bác sĩ xem một cuộc kiểm tra sàng lọc có thích hợp cho bạn không. (Trở về đầu trang)


CÁC HƯỚNG DẪN MỚI GIÚP PHỤ NỮ NGĂN NGỪA ĐỘT QUỴ

Các hướng dẫn đầu tiên cho việc ngăn ngừa đột quỵ (tai biến mạch máu não) ở phụ nữ là những nguyên tắc hướng dẫn nghiêm túc.  Các hướng dẫn này cung cấp các phương pháp ngăn ngừa sự kiện bệnh lý gây tàn phế và có khả năng gây tử vong này từ già đến trẻ.

Một cơn đột quỵ (tai biến mạch máu não) xảy ra khi một vấn đề gì đó làm ngưng dòng chảy của máu đến một phần của não.  Vấn đề đó có thể là một huyết khối hoặc một mạch máu bị vỡ.  Nếu không có nguồn cung cấp máu chứa oxy và các chất dinh dưỡng đều đặn, thì các tế bào não bắt đầu chết đi nhanh chóng.  Tùy thuộc vào vị trí của chỗ tắc nghẽn hoặc xuất huyết, một cơn đột quỵ có thể gây ra tình trạng mất khả năng nói, nuốt, đi bộ, và nhiều vấn đề khác.



Trên một nửa trong số 800 000 người Hoa Kỳ bị đột quỵ (tai biến mạch máu não) mỗi năm là phụ nữ.  Gần 4 triệu phụ nữ Hoa Kỳ đang sống sau một cơn đột quỵ (tai biến mạch máu não).  Ngoài ra, vì phụ nữ sống lâu hơn so với nam giới, do đó nguy cơ bị đột quỵ suốt đời của họ cũng trở nên cao hơn.

Những con số đó chính là lý do tại sao việc ngăn ngừa đột quỵ (tai biến mạch máu não) là hết sức quan trọng đối với phụ nữ.

Trường Hợp Cao Huyết Áp

Cao huyết áp là một nguyên nhân hàng đầu gây đột quỵ (tai biến mạch máu não).  Đó là lý do tại sao các hướng dẫn này tập trung cao độ vào huyết áp, cùng với các yếu tố nguy cơ khác – và không chỉ ở những phụ nữ cao tuổi, như là trường hợp với các hướng dẫn đột quỵ (tai biến mạch máu não) khác.



Lấy trường hợp của các phụ nữ trẻ đang có ý định sử dụng các thuốc viên tránh thai.  Các thuốc tránh thai uống bằng miệng làm tăng nguy cơ bị một cơn đột quỵ (tai biến mạch máu não), thậm chí ở những phụ nữ dưới 45 tuổi.  Hút thuốc lá làm tăng thêm các khả năng bị một cơn đột quỵ (tai biến mạch máu não).  Các nguyên tắc hướng dẫn mới đề xuất rằng các phụ nữ nên kiểm tra huyết áp trước khi sử dụng thuốc tránh thai uống bằng miệng, và đề xuất rằng các phụ nữ nên cố gắng làm giảm bớt các yếu tố nguy cơ khác trong lúc đang sử dụng các loại thuốc này.

Mang thai là một giai đoạn được chú trọng đặc biệt trong các hướng dẫn này.  Có khoảng 1 trong số 12 phụ nữ phát triển chứng tiền sản giật (preeclampsia) hoặc các vấn đề cao huyết áp khác trong thời gian mang thai.  Tiền sản giật là một tình trạng huyết áp tăng lên từ từ cùng với số lượng protein tăng cao trong nước tiểu.  Chứng tiền sản giật có thể gây hại cho bà mẹ và con trẻ.  Mặc dù chứng tiền sản giật sẽ biến mất sau khi sinh con, nhưng các phụ nữ phát triển tình trạng bệnh lý này có nhiều khả năng phát triển chứng cao huyết áp sau này.

Đó là lý do tại sao nhóm điều tra đặc biệt của Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ (American Heart Association) và Hiệp Hội Đột Quỵ Hoa Kỳ (American Stroke Association) đề xuất rằng những phụ nữ đã từng bị chứng tiền sản giật, hoặc những ai có nguy cơ phát triển tình trạng bệnh lý này, nên sử dụng thuốc aspirin liều thấp (low-dose aspirin) từ tuần thứ 12 của thời gian mang thai cho đến khi sinh con.  Một số phụ nữ cũng có thể cần sử dụng thêm canxi.  Các hướng dẫn này cũng nói rằng một số phụ nữ bị cao huyết áp trong thời gian mang thai có thể cần sử dụng thuốc để hạ huyết áp.



Sử dụng estrogen và các loại kích thích tố (hormone) khác sau khi mãn kinh đã từng được xem là một phương pháp giúp ngăn ngừa bệnh tim, đột quỵ (tai biến mạch máu não), và các tình trạng bệnh lý mãn tính khác.  Việc sử dụng dài hạn trị liệu bằng kích thích tố thực sự có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim và đột quỵ (tai biến mạch máu não).  Các hướng dẫn mới về việc ngăn ngừa đột quỵ (tai biến mạch máu não) đồng ý và cho rằng trị liệu bằng kích thích tố không nên cho bệnh nhân sử dụng để ngăn ngừa đột quỵ (tai biến mạch máu não).

Các hướng dẫn này cũng nói đến các phụ nữ bị chứng đau nửa đầu tiền triệu (migraines with aura: đau nửa đầu với các thay đổi về giác quan chẳng hạn như nhìn thấy các ánh sáng nhấp nháy hoặc ngửi thấy mùi lạ).  Các trường hợp đau đầu như thế được xem có liên quan đến đột quỵ (tai biến mạch máu não).  Những phụ nữ có tình trạng bệnh lý này được đề xuất cố gắng bỏ hút thuốc lá, vì sự phối hợp này sẽ làm tăng nguy cơ đột quỵ (tai biến mạch máu não).  Sử dụng các loại thuốc để ngăn ngừa các cơn đau nửa đầu cũng có thể được chỉ định.

Rung tâm nhĩ (atrial fibrillation), một tình trạng tim đập nhanh và không bình thường ở tâm nhĩ, là một nguyên nhân hàng đầu gây đột quỵ (tai biến mạch máu não), xảy ra ở phụ nữ nhiều hơn so với nam giới.  Bất kỳ ai bị tình trạng bệnh lý này nên sử dụng thuốc kháng đông để ngăn ngừa đột quỵ (tai biến mạch máu não).

Các nguyên tắc hướng dẫn này cũng đề xuất rằng các phụ nữ ở độ tuổi từ 65 đến 79 hãy cân nhắc việc sử dụng 1 viên aspirin liều thấp (81 mg) mỗi ngày.  Aspirin giúp ngăn ngừa sự hình thành các huyết khối (cục máu đông), các huyết khối này thường là nguồn gốc của một cơn đột quỵ (tai biến mạch máu não).

Các Nguyên Tắc Cơ Bản

Các hướng dẫn này không bỏ sót các nguyên tắc cơ bản của phương pháp phòng chống đột quỵ, có tác dụng tương tự ở phụ nữ và nam giới:

-      Kiểm soát huyết áp cao
-      Không hút thuốc lá
-      Nhắm đến cân nặng khỏe mạnh
-      Duy trì vận động thể chất
-      Hạn chế các thức uống và thực phẩm có đường
-      Tập thực hiện chế độ ăn kiểu Địa Trung Hải (Trở về đầu trang)


UỐNG NHIỀU RƯỢU (BIA) LÀM TĂNG TỐC QUÁ TRÌNH SUY GIẢM THẦN KINH

Nam giới ở độ tuổi trung niên, những người trung bình uống từ ba ly rượu  (bia) trở lên mỗi ngày, cho thấy chức năng nhận thức bị suy giảm sớm hơn 10 năm so với những người uống ít hơn, nhưng ảnh hưởng tương tự không tìm thấy ở phụ nữ, các nhà nghiên cứu nói.



Các số điểm tổng kết của 4 lần kiểm tra về trí nhớ ngắn hạn (short-term memory) và chức năng điều hành (executive function: một nhóm các kỹ năng nhận thức bao gồm quản lý thời gian và sự tập trung, thay đổi sự tập trung, lên kế hoạch và tổ chức, ghi nhớ các chi tiết, kiềm chế lời nói và hành vi không đúng đắn, kết hợp trải nghiệm trong quá khứ với hành động hiện tại) và bộ nhớ ngắn hạn đã giảm xuống thêm 0,10 điểm (95% khoảng tin cậy: 0,04 - 0,16) ở những nam giới uống nhiều rượu (bia) nhất (tiêu thụ ethanol ít nhất là 36g/ngày, mức trung bình là 46,9 g/ngày) trong một nhóm nhân viên chính phủ Anh có khả năng được theo dõi so với những người đã tiêu thụ ethanol từ 0,1 đến 19,9 g/ngày, theo tiến sĩ Severine Sabia tại trường Đại Học London (University College London) và các đồng nghiệp.

Ảnh hưởng này xảy ra tương tự cho trí nhớ và chức năng điều hành khi được phân tích riêng biệt, các nhà nghiên cứu đã báo cáo trên tạp chí mạng Neurology. Tuy nhiên, những suy giảm trong các lĩnh vực này của chức năng nhận thức ở các thành viên nữ của nhóm biến đổi không nhiều ở các hạng mục tiêu thụ rượu bia, với một khuynh hướng không đáng kể (-0,04 điểm so với những người tiêu thụ ít bia rượu,  95% khoảng tin cậy: 0,01 đến -0,19), liên kết việc tiêu thụ rượu bia nhiều nhất với chức năng điều hành, không phải trí nhớ.

“Những phát hiện của chúng tôi là phù hợp với các nghiên cứu trước đây đã từng cho thấy rằng uống rượu bia với mức độ vừa phải có lẽ không gây hại cho kết quả kiểm tra nhận thức, nhưng các phát hiện này cũng cho thấy rằng tiêu thụ rượu bia cấp độ nặng ở tuổi trung niên có thể gây hại cho quá trình lão hoá nhận thức, ít nhất là ở đàn ông”, tiến sĩ Sabia và các đồng nghiệp đã viết.

Các nhà nghiên cứu không đưa ra lời giải thích cho sự khác biệt giữa các kết quả của nam giới so với nữ giới, ngoại trừ các sự khác biệt cơ bản trong các lĩnh vực nghề nghiệp và các định nghĩa mà họ sử dụng để mô tả việc uống rượu nhiều (19 g ethonol/ngày hoặc nhiều hơn đối với phụ nữ, và khoảng ½ mức này đối với đàn ông).

Các Giải Thích Khác Nhau

Những nhà nghiên cứu khác cũng có các ý kiến riêng về các kết quả này.

Bác sĩ, tiến sĩ Sam Gandy thuộc Trường Y Khoa Icahn tại Mt. Sinai đã nói rằng các mức estrogen cao của phụ nữ có thể đóng một vai trò: “Estrogen có thể bảo vệ một số tế bào não tránh khỏi các tổn thương từ nhiều nguồn khác nhau”, ông viết trong một email, có khả năng thông qua các tác dụng của chất chống oxy hoá “tương tự như Vitamin E”.  Gần đây, người ta đã tìm thấy vitamin E có khả năng làm chậm các quá trình suy giảm nhận thức ở những người đàn ông lớn tuổi mắc bệnh Alzheimer sớm.



Bác sĩ Marc Gordon, trưởng khoa thần kinh tại Bệnh viện Zucker Hillside ở Glen Oaks, New York, lưu ý rằng: ngoài những công việc có vị trí cao mà các phụ nữ trong nhóm này có khuynh hướng chiếm giữ, còn có những khác biệt về chủng tộc ở các hạng mục uống khác nhau.

Ông cũng chỉ ra rằng, bên cạnh các ảnh hưởng độc hại trực tiếp của rượu bia đối với não, các yếu tố khác cũng có thể ảnh hưởng đến các kết quả này, bao gồm “những khác biệt dinh dưỡng thứ cấp liên quan đến việc uống bia rượu, các yếu tố lối sống không lành mạnh và yếu tố bẩm sinh dễ bị tổn thương ở đầu”, không có yếu tố nào được kiểm tra trong nghiên cứu này. Và, Gordon đã quan sát rằng, các nhà nghiên cứu không thể phân biệt được những người uống rượu thường xuyên mỗi ngày với những người thỉnh thoảng chè chén say sưa.

Tuy nhiên, cả hai bác sĩ, Gandy và Gordon, đều chỉ ra rằng sự suy giảm nhận thức nhanh hơn được nhìn thấy ở những người đàn ông nghiện rượu nặng là yếu tố có ý nghĩa lâm sàng quan trọng (clinically significant). Tiến sĩ Sabia và các đồng nghiệp mô tả nó tương đương với 2,4 “năm thêm vào” của tình trạng suy giảm nhận thức ở tỷ lệ bình thường trong số điểm tổng kết, 1,5 năm đối với chức năng điều hành, và 5,7 năm đối với trí nhớ.

Thiết kế nghiên cứu

Tiến sĩ Sabia và các đồng nghiệp đã phân tích dữ liệu từ nghiên cứu nhóm Whitehall II (Whitehall II cohort study), nghiên cứu này đã bắt đầu vào giữa những năm 1980 với khoảng 10 000 công chức Anh, đồng ý hoàn tất các câu hỏi về lối sống và tiến hành kiểm tra tổng quát.  Đến hết năm 2009, những người tham gia được thăm dò và được kiểm tra thêm 4 lần nữa.  Các dữ liệu về việc tiêu thụ rượu (bia) hàng ngày thu lượm được từ những câu trả lời này.

Việc kiểm tra nhận thức bắt đầu với các đợt kiểm tra theo dõi thứ 2 trong thời gian từ 1997-1999 và được lặp lại trong những lần thăm khám sau đó, cho phép theo dõi trong 10 năm. Kiểm tra này bao gồm một kiểm tra thuyết trình bằng ngôn ngữ và nhắc lại cho trí nhớ ngắn hạn cộng với 3 kiểm tra dựa trên từ ngữ và ký hiệu cho chức năng điều hành. Điểm trung bình trên ba bài kiểm tra của từng người tham gia sẽ tạo nên số điểm cho chức năng điều hành được sử dụng trong những phân tích thống kê.

Nhìn chung, các dữ liệu của khoảng 7150 trong số những người tham gia ban đầu đã được sử dụng trong nghiên cứu: độ tuổi trung bình của những người tham gia vào lúc bắt đầu kiểm tra nhận thức là khoảng 56.  Khoảng 2 phần 3 người tham gia là nam giới.

Những người tham gia được phân thành 6 nhóm theo tình trạng mức độ tiêu thụ rượu bia: Nhóm kiêng rượu bia hoàn toàn, Nhóm ngưng uống hoàn toàn vào một thời điểm nào đó trong quá trình theo dõi, nhóm “thỉnh thoảng” uống cho những người không định lượng được mức độ tiêu thụ trung bình mỗi ngày, và 3 danh mục cho những người dùng rượu thường xuyên.

Ở nam giới, 3 danh mục sau cùng có lượng tiêu thụ ethanol mỗi ngày là 0,1-19,9 g, 20-35,9 g, và 36 g hoặc nhiều hơn. Danh mục cho nữ giới có lượng tiêu thụ ethanol là 0,1-9,9 g, 10-18,9 g, và 19 g hoặc nhiều hơn.

Khoảng 5% số nam giới và 15% số nữ giới rơi vào các nhóm không thường xuyên tiêu thụ hoặc nhóm không tiêu thụ rượu bia hoàn toàn.

Khoảng 60% cả nam giới và nữ giới thuộc nhóm uống ít, chưa đến 20% là những người uống vừa phải, và chưa đến 10% nằm trong các danh mục uống nhiều rượu bia. Những người tiêu thụ ít rượu bia được dùng làm nhóm tham khảo cho việc phân tích sự tương quan giữa tiêu thụ rượu bia và tình trạng suy giảm nhận thức.

Bác sĩ David Knopman thuộc Bệnh Viện Mayo (Mayo Clinic) tại Rochester, bang Minnesota, đồng thời cũng là biên tập viên của tạp chí Neurology, đã nói rằng các định nghĩa về tiêu thụ rượu bia cấp độ nặng đã tạo cho nghiên cứu này một điểm mạnh đặc biệt.

“Trong hầu hết các nghiên cứu về dịch tễ học, những người uống nhiều rượu bia hiển nhiên không được nghiên cứu đúng mức bởi vì họ đã từ chối tham gia”, ông đã viết trong một email.

Các Kết Quả

Những thay đổi về các điểm số nhận thức trong hơn 10 năm theo dõi được thể hiện dưới dạng các phân số của độ lệch chuẩn cơ bản (standard deviation) của toàn bộ các nhóm nam giới và nữ giới. Mức suy giảm trung bình trong số điểm tổng cộng cho nam giới là 0,42 (95% khoảng tin cậy: 0,40 đến 0,44) và cho nữ giới là 0,39 (95% khoảng tin cậy: 0,37 – 0,42).

Với các nhóm uống rượu bia cấp độ nhẹ được dùng làm các nhóm tham khảo, các đánh giá thông số (point estimate) cho những tỷ lệ tương đối trung bình trong bảng tóm tắt điểm số nhận thức (cũng phản ánh phân số của độ lệch chuẩn cơ bản) trong 5 danh mục khác được trình bày dưới đây. Tất cả đều là các giá trị không có ý nghĩa thống kê ngoại trừ đối với tình trạng uống nhiều rượu bia ở nam giới.

-      Những người không uống: nam giới -0,01, nữ giới - 0,21
-      Những người bỏ uống: nam giới -0,01, nữ giới -0,09
-      Những người thỉnh thoảng uống: nam giới -0,02, nữ giới -0,03
-      Những người uống vừa phải: nam giới -0,01, nữ giới -0,07
-      Những người uống nhiều: nam giới -0,10, nữ giới -0,04

Nhìn chung, những thay đổi (phần lớn là giảm) trong thành phần bộ nhớ có mức độ cao hơn so với chức năng điều hành. Đối với nam giới uống nhiều rượu bia, mức giảm là 0,16 điểm (95% khoảng tin cậy: 0,05-0,26) trong khi đối với chức năng điều hành, mức giảm chỉ là 0,06 (95% khoảng tin cậy: 0,00 -0,12).

Đối với các phụ nữ tham gia nghiên cứu, thực sự đã có xu hướng mất trí nhớ ngắn hạn chậm hơn ở những người uống nhiều rượu bia (tăng 0,14 so với những người uống ít, 95% khoảng tin cậy: -0,06 đến 0,34).

Loại Thức Uống Tỏ Ra Không Quan Trọng

Những người tham gia cũng được yêu cầu trả lời các câu hỏi về các loại thức uống yêu thích có cồn thường tiêu thụ (bia, rượu vang hoặc rượu mạnh). Các nhà nghiên cứu đã phân tích những thay đổi về nhận thức trong nhóm người được sắp xếp dựa vào số lượng các loại thức uống này, và đã không tìm thấy sự khác biệt lớn nào từ các kết quả chung. “Một loại thức uống có cồn không làm ảnh hưởng đến sự tương quan giữa số lượng tiêu thụ rượu bia và tình trạng suy giảm nhận thức “, các nhà nghiên cứu đã viết.

Tiến sĩ Sabia và các đồng nghiệp lưu ý rằng đã có một số rất ít những người kiêng rượu bia hoàn hoàn và bỏ rượu bia ở cả nam giới và nữ giới, với số lượng chưa đến 100 người trong mỗi nhóm, làm cho sự so sánh bằng thống kê trong các nhóm đó không đáng tin cậy.

Những hạn chế khác bao gồm người tham gia chỉ gồm các công chức, một xu hướng gây thiếu hụt các dữ liệu cho những người tham gia với các điểm số nhận thức thấp hơn, và sự lựa chọn của các công cụ kiểm tra nhận thức được sử dụng trong nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu cũng lưu ý rằng những báo cáo về mức tiêu thụ rượu của bản thân không phải lúc nào cũng chính xác.

Bác sĩ Knopman cũng nói rằng lĩnh vực nghiên cứu sau cùng với khả năng không thể xác định những người chè chén say sưa là những hạn chế lớn nhất.

Nhưng, ông chỉ ra, tính quy mô của nghiên cứu là một điểm mạnh quan trọng.

Bác sĩ David Charles, giám đốc y khoa của Viện Khoa Học Thần Kinh Vanderbilt (VanderbiltNeuroscience Institute) ở thành phố Nashville, đã nói: “ Các tác giả sẽ được khen ngợi về nghiên cứu này, vì đã bổ sung thêm bằng chứng về các kết quả sức khoẻ liên quan đến việc tiêu thụ nhiều rượu bia. (Trở về đầu trang)



BẠN CÓ BỊ CHỨNG RỐI LOẠN SỬ DỤNG CAFFEIN KHÔNG?

Nghiên cứu mới đây cho thấy một số lượng khá lớn những người tiêu thụ caffein quá mức.



Nếu bạn thuộc nhóm người cần đến cà phê để có thể làm việc, thì hãy lắng nghe: “Rối loạn sử dụng caffein – caffein use disorder” là hết sức phổ biến, theo một bài phê bình nghiên cứu mới đây được đăng trên Tạp Chí Nghiên Cứu Caffein (Journal of Caffeine Research).

Trong phân tích nghiên cứu này, các nhà khoa học đã xem xét 9 nghiên cứu được công bố trước đây về vấn đề phụ thuộc chất caffein (caffeine dependence) để đánh giá tính phổ biến – và tính nghiêm trọng – của rối loạn này.  Rối loạn sử dụng caffein mô tả một tình trạng bệnh lý trong đó bệnh nhân gặp phải các triệu chứng cai nghiện chung – chẳng hạn như khó chịu và lo âu – khi họ từ bỏ caffein.  Do đó, những người bị rối loạn này thường không thể giảm bớt số lượng caffein tiêu thụ của họ, cho dù họ biết rằng điều đó có thể đi kèm với các nguy cơ về sức khỏe, đặc biệt nếu như họ đang mang thai hoặc có các chứng bệnh về tim.  (Cho dù bạn không có nguy cơ hoặc không có các vấn đề tim mạch, thì việc tiêu thụ quá nhiều caffein cũng có thể dẫn đến chứng mất ngủ [insomnia], chứng co rút cơ [muscle twitching], và nhịp tim đập bất thường).

Chất Caffein Ảnh Hưởng Đến Cơ Thể Bạn Như Thế Nào

Bạn đang cai nghiện?  Có thể không phải là loại 12 bước, nhưng có nhiều cơ hội là bạn nằm trong số hàng triệu người không thể bò ra khỏi giường nếu không có sự hứa hẹn của chất caffeine, một loại thuốc theo chọn lựa của bạn.  Chúng ta yêu thích cà phê java (một loại cà phê được sản xuất ở Indonesia), một nguồn tạo năng lượng nhanh nhất – rẻ tiền, không có cảm giác tội lỗi, và hầu như được bán ở khắp nơi.  Thật vậy, nghiên cứu càng ngày càng hỗ trợ cho một cuộc sống phụ thuộc vào chất caffein.  Một nghiên cứu gần đây tại Trường Đại Học Johns Hopkins Bloomberg về Sức Khỏe Công Cộng (Johns Hopkins Bloomberg School of Public Health) đã tìm thấy rằng những cá nhân uống từ 4 ly cà phê trở lên cho mỗi ngày giảm được 1 phần 3 nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường (đái tháo đường) loại 2.  Mỗi vận động viên đều biết rằng một ly caffein trước khi tập thể dục một tiếng có thể cải thiện được sức chịu đựng.  Ngoài ra, caffein còn là một nguồn giúp tăng cường các chất chống oxy hóa gây kinh ngạc.

Tuy nhiên, ly cà phê mỗi ngày của bạn cũng có một mặt tối.  Chất caffein có thể gây cao huyết áp, và nó có thể góp phần gây sảy thai (miscarriage) và loãng xương (osteoporosis).  Tim đập nhanh (heart palpitations), nhức đầu, khó chịu, và/hoặc hay nổi nóng đều là các dấu hiệu của một vấn đề gì đó xảy ra trong cơ thể.  “Chúng tôi đã từng nhìn thấy những người phụ nữ mà họ cho rằng họ đang bị các cơn hồi hộp, nhưng thật ra họ đã uống quá nhiều cà phê”, theo lời bác sĩ Mark Gold, giáo sư khoa tâm thần và khoa học thần kinh tại trường Đại Học Y Khoa Florida (University of Florida College of Medicine).

Vậy bạn nên sử dụng caffein như một nguồn năng lượng như thế nào mà không trở thành một thói quen?  Đầu tiên, hãy lưu ý số lượng bạn uống: caffein không chỉ được tìm thấy trong nước ngọt cola (31 mg), RedBull (67 mg), và những thỏi kẹo sôcôla đen (30 mg), caffein còn xuất hiện trong rất nhiều thức uống “không caffein – decaf”.  Khi tiến sĩ Bruce Goldberger, giáo sư tại trường Đại Học Florida (University of Florida), mua 22 loại thức uống không chứa caffein, ông đã bị sốc khi tìm thấy rằng số lượng caffein nằm trong khoảng từ zero đến gần 14 mg trong mỗi ly 16 oz (473 ml).  (Đủ để hạ đo ván các võ sĩ quyền Anh hạng nhẹ.  Trong một nghiên cứu khác, trên một nửa số người tham gia cảm thấy bị kích thích bởi chất caffein sau khi chỉ sử dụng 18 mg).  Và hiện nay các thức uống được tăng cường nhiều chất caffein hơn bao giờ hết.  Vào năm 2003, tiến sĩ Goldberger đã tìm thấy khoảng 259 đến 564 mg caffein trong những ly cà phê 16 oz (473 ml) của Starbucks.  “Một ly NoDoz chứa khoảng 200 mg, và một số ly cà phê chứa khoảng gần gấp ba lần số lượng đó”, ông lưu ý.



Nếu bạn muốn giảm bớt số lượng caffein, hãy bắt đầu thay thế một ly cà phê bằng một ly trà xanh.  Mặc dù bạn vẫn tiêu thụ 30 mg caffein, nhưng trà có chất theanine, một loại axit amin có tác dụng làm dịu.  Bạn nên ngưng uống trà sau 3 giờ chiều, nếu không bạn sẽ bị mất ngủ.

Bạn có thể nghĩ rằng uống 2 ly cà phê mỗi ngày không phải là một vấn đề lớn, nhưng hãy xem đây: Caffein có thể được tìm thấy ở những nơi không mong đợi chẳng hạn như trà, nước ngọt soda, các loại thuốc mua không cần toa bác sĩ, và sôcôla, theo lời các tác giả nghiên cứu.  Do đó, cho dù mức độ tiêu thụ cà phê của bạn là khá ít, nhưng có thể bạn đang tiêu thụ một số lượng caffein nhiều hơn bạn tưởng – điều này có thể làm cho bạn khó giảm được lượng caffein.

Tiến sĩ Laura Juliano, đồng tác giả nghiên cứu, phó giáo sư khoa tâm lý tại trường Đại Học Hoa Kỳ (American University), đề xuất tiêu thụ caffein dưới 400 mg mỗi ngày.  Một cách đáng tiếc là, khó có thể biết được số lượng chính xác mà bạn tiêu thụ - đặc biệt là vì các thức uống tăng lực và các thực phẩm chức năng không bị yêu cầu phải ghi rõ số lượng caffein trong mỗi khẩu phần uống.  Chính vì điều này, phương pháp hành động tốt nhất là cố gắng giảm dần số lượng caffein bạn tiêu thụ ở những nguồn mà bạn có thể đo lường được, theo lời của tiến sĩ Juliano. (Trở về đầu trang)


Nguồn (Sources):