About

Monday, December 2, 2013

MẬT ONG (HONEY) - Do LQT Biên Dịch


CÁC LỢI ÍCH SỨC KHỎE

Các tác dụng này đã được thử nghiệm ở người hoặc động vật.  Sự an toàn và tính hiệu quả không phải lúc nào cũng được xác thực.  Một số các chứng bệnh dưới đây có thể mang tính nghiêm trọng, và phải được một chuyên gia chăm sóc y tế (bác sĩ, dược sĩ, y tá) có giấy phép hành nghề kiểm tra chẩn đoán.

Bên cạnh tác dụng làm ngọt (bổ dưỡng) tự nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thành phần cấu tạo độc đáo của mật ong làm cho nó trở thành một chất kháng vi sinh vật và chống oxy hóa hữu ích.

Mật Ong Chưa Pha Chế - Một Chất Kháng Khuẩn, Kháng Virut, Kháng Nấm

Các lợi ích sức khỏe của mật ong – cũng giống như tất cả các loại thực phẩm khác – phụ thuộc vào chất lượng của nó.  Nhưng trong trường hợp này, tình huống càng đặc biệt hơn, vì phấn hoa bám vào chân của các chú ong khi chúng di chuyển từ cây này sang cây kia cũng có lợi cho sức khỏe và đa dạng như các loại cây đó.  Ngoài ra, quá trình chế biến mật ong thường làm mất đi nhiều chất dinh dưỡng phytonutrient được tìm thấy ở loại mật ong khi còn trong tổ ong.  Ví dụ, mật ong nguyên chất (raw honey) chứa số lượng nhỏ các loại nhựa cây (resin) tương tự như được tìm thấy trong keo ong (propolis).  Keo ong “bee glue” thực ra là một hỗn hợp phức của nhựa cây và các hợp chất khác mà các loại ong mật dùng để trám vào tổ ong và giúp cho tổ ong được an toàn không bị các vi khuẩn vi sinh vật khác tấn công.  Các loại ong mật tạo ra keo ong bằng cách kết hợp nhựa cây với các chất do ong tiết ra.  Tuy nhiên, các hợp chất giống như nhựa đường cũng được tìm thấy trong keo ong.  Những nhà nuôi ong thỉnh thoảng sử dụng các loại màn che bên trong các hộp tổ ong để giữ lại keo ong, vì các chú ong sẽ rải hợp chất này xung quanh tảng ong (honeycomb) và trám các vết nứt bằng các loại nhựa cây có tính kháng khuẩn, kháng virut, và chống nấm.  Tuy nhiên, các loại nhựa cây được tìm thấy trong keo ong chỉ đại diện cho một phần nhỏ các chất phytonutrient được tìm thấy trong keo ong.  Các chất phytonutrient khác được tìm thấy trong mật ong và keo ong đều được chứng minh sở hữu các đặc tính ngăn ngừa ung thư và chống khối u.  Các hợp chất này bao gồm caffeic acid methyl caffeate, phenylethyl caffeate, và phenylethyl dimethylcaffeate.  Các nhà nghiên cứu đã khám phá ra rằng các hợp chất này có tác dụng ngăn ngừa ung thư đại tràng (colon cancer) ở động vật bằng cách làm cho 2 loại men (enzyme), phosphatidylinositol-specific phospholipase C và lipoxygenase, ngưng hoạt động.  Khi mật ong nguyên chất được chế biến hoặc bị nung nóng quá nhiều, thì các lợi ích sức khỏe của các chất phytonutrient này sẽ bị mất đi rất nhiều.

Cơn Ho Do Nhiễm Trùng Đường Hô Hấp Trên Có Đánh Thức Con Trẻ Của Bạn Không?  Hãy Thử Một Liều Mật Ong Kiều Mạch

Trong một nghiên cứu bao gồm 105 trẻ em tuổi từ 2 – 18 bị nhiễm trùng đường hô hấp trên trong 7 ngày hoặc ít hơn và ho vào ban đêm, một liều mật ong kiều mạch (buckwheat honey) vào ban đêm là một liệu pháp thay thế hiệu quả giúp thuyên giảm các triệu chứng của cơn ho vào ban đêm và tình trạng khó ngủ, khi được so sánh với một liều dextromethorphan (DM).



Các nhà nghiên cứu từ trường Đại Học Y Khoa Tiểu Bang Pennsylvania (Penn State College of Medicine) đã yêu cầu các bậc cha mẹ cho con trẻ của họ uống mật ong, thuốc dextromethorphan (DM) có mùi mật ong, hoặc không cho con trẻ điều trị.  Đêm đầu tiên, các trẻ em không tiếp nhận bất kỳ trị liệu nào.  Đêm tiếp theo, các trẻ em tiếp nhận một liều mật ong kiều mạch, thuốc DM có mùi mật ong, hoặc không được điều trị 30 phút trước khi đi ngủ.  Trong thử nghiệm này, các bậc cha mẹ không thể phân biệt được loại nào là mật ong và loại nào là thuốc, mặc dù những người không cho trẻ em sử dụng thuốc biết được điều này.  Các bậc cha mẹ được yêu cầu báo cáo về tần suất và tính nghiêm trọng của cơn ho, mức độ khó chịu của cơn ho, mức độ ngủ ngon của cả người thành niên và trẻ em, 24 giờ trước và trong thời gian ngủ sau khi được sử dụng liều này.

Những cải thiện đáng kể của các triệu chứng được ghi nhận ở các trẻ em sử dụng mật ong, khi được so sánh với nhóm không tiếp nhận điều trị và nhóm được điều trị bằng DM, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng nhóm mật ong liên tục đạt điểm cao nhất và nhóm không điều trị đạt điểm thấp nhất.  Dựa vào “thang điểm triệu chứng” của các bậc cha mẹ, trẻ em được điều trị bằng mật ong cải thiện được ở mức trung bình khoảng 10,71 điểm, so sánh với 8,39 điểm cho các trẻ em được điều trị bằng thuốc DM và 6,41 điểm cho những trẻ em không được điều trị.

Các kết quả này có thể là tin tốt cho những bậc cha mẹ có con trẻ từ 2 tuổi trở lên, vì cơ quan FDA của Hoa Kỳ mới đây đề xuất rằng trẻ em dưới 6 tuổi không được sử dụng các loại thuốc cảm và thuốc ho không cần toa bác sĩ, do các tác dụng phụ có thể gây hại.  Tuy nhiên, điều quan trọng phải lưu ý rằng mục đích của nghiên cứu này không phải là kiểm tra các lợi ích sức khỏe của mật ong kiều mạch cho các trẻ em dưới 2 tuổi, và các đề xuất của Hiệp Hội Các Bác Sĩ Khoa Nhi Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics - AAP) và các tổ chức sức khỏe nhi đồng khác về việc tránh sử dụng hoàn toàn mật ong ở các trẻ em từ 1 tuổi trở xuống là vẫn hoàn toàn hợp lý.  (Mối lo ngại chính của hiệp hội AAP ở đây là những nguy cơ bị ngộ độc chất botulin không cần thiết ở trẻ em mà có thể bắt nguồn từ sự hiện diện của các vi khuẩn Clostridium botulinum trong mật ong).

Hội Nghị Chuyên Đề Quốc Tế Thảo Luận Các Lợi Ích Tiềm Năng Của Mật Ong

Các nhà thuyết trình tại Hội Nghị Chuyên Đề Quốc Tế Đầu Tiên về Mật Ong và Sức Khỏe Con Người (First International Symposium on Honey and Human Health), được tổ chức tại thành phố Sacramento, California, Hoa Kỳ vào ngày 8 tháng 1 năm 2008, đã công bố một số tài liệu nghiên cứu.  Các kết quả nghiên cứu bao gồm:

-      Các loại mật ong khác nhau sở hữu một số lượng lớn các loại vi khuẩn có lợi (6 loài lactobacilli và 4 loài bifidobacteria), điều này có thể giải thích cho nhiều đặc tính trị liệu kỳ diệu của mật ong.
-      Các loại vi khuẩn lactobacilli, có khả năng cung cấp các lợi ích bảo vệ có lợi cho sức khỏe con người cũng như các chú ong, không được tìm thấy trong bao tử của ong mật trong những tháng mùa đông khi các chú ong được điều tra được cho ăn đường sucrose, chỉ ra rằng một số phương pháp nuôi ong có thể có các tác động nguy hiểm và ngoài ý muốn lên các chú ong.
-      Mật ong có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu tốt hơn.  Cung cấp nhiên liệu thích hợp cho gan là điểm trung tâm của quá trình chuyển hóa glucose tối ưu trong thời gian ngủ và tập thể dục.  Mật ong là một loại nhiên liệu lý tưởng cho gan vì nó chứa đường fructose và glucose với tỷ lệ 1:1.  Đường fructose “mở khóa” men từ hạt nhân tế bào gan, rất cần thiết để kết hợp glucose với glycogen (một dạng trong đó đường được lưu trữ ở gan và các tế bào cơ).  Số lượng glycogen được lưu trữ đầy đủ trong gan là yếu tố cần thiết để cung cấp nhiên liệu cho não khi chúng ta đang ngủ và trong thời gian tập thể dục căng thẳng.  Khi glycogen không được lưu trữ đầy đủ, não sẽ kích thích để tiết ra các kích thích tố gây căng thẳng – adrenalin và cortisol – để chuyển hóa protein ở cơ thành glucose.  Áp lực chuyển hóa (metabolic stress: đáp ứng chuyển hóa khi bị tổn thương hoặc bệnh tật) được lặp lại do cortisol tạo ra khi số lượng glycogen được dự trữ trong gan bị thiếu hụt trong thời gian ngủ, sẽ dẫn đến tình trạng suy giảm khả năng chuyển hóa glucose, kháng insulin, bệnh tiểu đường (đái tháo đường), và nguy cơ gia tăng bị bệnh tim mạch cũng như bị béo phì.
-      Chứng cứ từ thử nghiệm chỉ ra rằng tiêu thụ mật ong có thể cải thiện được khả năng kiểm soát huyết đường và tình trạng mẫn cảm insulin khi được so sánh với các chất làm ngọt khác.  Khả năng dung nạp mật ong của cơ thể tỏ ra tốt hơn nhiều so với sucrose hoặc glucose được tiêu thụ riêng lẻ.  Những cá nhân không dung nạp glucose ở mức độ nghiêm trọng hơn (ví dụ, những người bị bệnh tiểu đường nhẹ và bệnh tiểu đường loại 1) cho thấy có khả năng dung nạp mật ong tốt hơn so với đường sucrose.  Ngoài ra, các chất chống oxy hóa trong mật ong, được chứng minh có khả năng hạ giảm áp lực oxy hóa, thường bởi một hệ số lớn hơn là có thể được giải thích bằng số lượng thực sự, có thể có lợi cho các bệnh nhân bị bệnh tiểu đường (đái tháo đường) và giúp cải thiện chức năng màng trong (chức năng của các tế bào tạo nên màng lót của các mạch máu) và sức khỏe của mạch máu.
-      Trong một nghiên cứu kéo dài 1 năm ở động vật nhằm so sánh các tác dụng của sucrose, mật ong và chế độ ăn uống có chỉ số glycemic thấp và không đường, thì các chú chuột có chế độ ăn dựa vào mật ong cho thấy: giảm cân và tỷ lệ chất béo trong cơ thể, giảm lo âu, trí nhớ định hướng không gian tốt hơn, cholesterol “tốt” HDL được cải thiện (15-20% cao hơn so với các chú chuột có chế độ ăn uống dựa vào đường hoặc sucrose), mức đường huyết (HA1c) được cải thiện, và giảm tổn thương do oxy hóa.
-      Mật ong được chứng minh là một loại thuốc ức chế ho hiệu quả hơn dextromethorphan cho các trẻ em tuổi từ 2 – 18.
-      Mật ong giúp tăng cường miễn dịch.  Nghiên cứu được thực hiện ở một vài bệnh viện ở Israel đã tìm thấy mật ong có tác dụng làm giảm tỷ lệ sốt bạch cầu trung tính cấp (acute febrile neutropenia: khi tình trạng sốt cao làm giảm số lượng bạch cầu trung tính) ở 64% số bệnh nhân.  Mật ong còn giúp giảm bớt nhu cầu về Yếu Tố Kích Thích Cụm Bào (Colony Stimulating Factor: một hợp chất được sản sinh trong các tế bào lót các mạch máu có tác dụng kích thích tủy xương sản sinh thêm nhiều bạch cầu) ở 60% số bệnh nhân bị sốt bạch cầu trung tính cấp; tăng số lượng bạch cầu trung tính, giảm bớt tình trạng hạ tiểu huyết cầu (thrombocytopenia), và ổn định mức hemoglobin > 11 gm/dl (hơi thấp nhưng cao hơn nhiều so với tình trạng thiếu máu hoàn chỉnh).
-      32% số bệnh nhân bị bệnh ung thư tham gia vào nghiên cứu miễn dịch ở trên được báo cáo đã cải thiện được chất lượng cuộc sống.

Mẹo vặt hiệu quả: Hãy tìm mua loại mật ong được sản xuất vào mùa hè do loại ong hút mật hoa tạo ra – loại mật ong này thường chứa nhiều các loại vi khuẩn lactobacilli và bifidobacteria có lợi cho sức khỏe.

Mật Ong Cải Thiện Phong Độ Thể Thao và Chữa Lành Vết Thương

Mật ong được dùng chủ yếu như một nguồn năng lượng, nhưng nghiên cứu gần đây đã kiểm tra ứng dụng của mật ong như một chất cải thiện phong độ thể thao (ergogenic aid) và chữa lành vết thương, cả hai ứng dụng này đã từng được xem là những giai thoại lâu đời.

Vào thời điểm diễn ra các đại hội Olympic trong lịch sử cổ đại, các vận động viên được báo cáo là đã ăn những loại thực phẩm đặc biệt, chẳng hạn như mật ong và quả sung khô (dried fig), để gia tăng phong độ thể thao của họ.  Tuy nhiên, gần đây một nhóm các nhà nghiên cứu đã điều tra ứng dụng của mật ong như một chất giúp cải thiện phong độ thể thao cho các vận động viên.  Nghiên cứu này bao gồm một nhóm 39 vận động viên tập tạ, cả nam và nữ.  Các đối tượng này tiến hành tập tạ với cường độ cao, rồi ngay sau đó được cho tiêu thụ hỗn hợp protein pha với đường, maltodextrin hoặc mật ong như một nguồn cung cấp carbohydrate.  Nhóm tiêu thụ mật ong đã duy trì mức đường huyết lý tưởng trong suốt 2 giờ sau khi tập luyện.  Ngoài ra, sự hồi phục cơ và tái tạo glycogen (chất carbohydrate được lưu trữ trong cơ) xảy ra ở những vận động viên tiêu thụ hỗn hợp mật ong-protein.

Duy trì nồng độ huyết đường có lợi sau khi tập thể lực bằng cách tiêu thụ các chất carbohydrate trước, trong lúc tập, và sau khi tập là điều quan trọng để duy trì số lượng glycogen lưu trữ trong cơ (glycogen là một dạng trong đó đường được lưu trữ trong cơ dưới dạng nhiên liệu sử dụng ngay), để quá trình hồi phục cơ trở nên hiệu quả hơn và vận động viên có thể tập luyện trở lại vào ngày hôm sau ở mức cao nhất.  Chất hỗ trợ thể thao được nghiên cứu nhiều nhất là carbohydrate vì các chất này rất cần thiết trong việc duy trì nguồn dự trữ glycogen trong cơ.  Hiện nay, mật ong xem ra còn là một nguồn cung cấp carbohydrate mà có thể giúp cho các vận động viên thể hiện phong độ ở mức cao nhất, thay vì là một chọn lựa vượt trội các nguồn carbohydrate khác.

Tuy nhiên, đặc tính chữa lành vết thương của mật ong có nhiều hứa hẹn nhất trong lĩnh vực y học.  Trong nhiều thế kỷ qua, mật ong đã được dùng để bôi trên da như một chất trị liệu kháng vi sinh vật khi điều trị các khối u, vết phỏng (bỏng) và các vết thương.  Một nghiên cứu ở Ấn Độ so sánh các tác dụng chữa lành vết thương của mật ong với phương pháp điều trị truyền thống (silver sulfadiazene) ở 104 bệnh nhân bị phỏng (bỏng) cấp 1.  Sau một tuần điều trị, 91% các trường hợp bị phỏng (bỏng) được điều trị bằng mật ong đã không bị nhiễm trùng khi được so sánh với 7% số bệnh nhân tiếp nhận điều trị truyền thống.  Cuối cùng, càng có nhiều số lượng bệnh nhân phỏng (bỏng) được chữa lành vết thương hơn ở nhóm được điều trị bằng mật ong.  Một nghiên cứu khác đã kiểm tra các lợi ích chữa lành vết thương của mật ong được bôi (thoa) trên da cho các bệnh nhân sau khi sinh mổ (caesarean section) và sau thủ thuật cắt bỏ tử cung (hysterectomy).  Khi được so sánh với nhóm tiếp nhận dung dịch tiêu chuẩn bao gồm iot và cồn, thì nhóm được điều trị bằng mật ong đã qua khỏi tình trạng nhiễm trùng trong thời gian ngắn hơn, vết thương lành lại ít để lại sẹo và thời gian ở lại bệnh viện ngắn hơn.

Một số cơ chế đã được đề xuất cho các lợi ích chữa lành vết thương mà đã được quan sát khi mật ong được bôi (thoa) trên da.  Vì mật ong được cấu tạo chủ yếu bởi glucose và fructose, hai loại đường có sức hấp dẫn nước rất mạnh, cho nên mật ong giúp hấp thu nước trong vết thương, làm cho vết thương trở khô để ức chế quá trình phát triển của vi khuẩn và nấm (các loại vi sinh vật này phát triển mạnh trong môi trường ẩm ướt).  Tiếp theo, mật ong nguyên chất chứa một loại men (enzyme) có tên là gluose oxidase, và khi kết hợp với nước, men này sẽ sản sinh oxy già (hydrogen peroxide), một chất khử trùng nhẹ.

Bên cạnh các loại men (enzyme) cụ thể được tìm thấy trong mật ong, các men này có thể giúp cho quá trình chữa lành, mật ong còn chứa các chất chống oxy hóa và các chất flavonoid mà chúng có thể đóng vai trò như những chất kháng khuẩn.  Một chất chống oxy hóa, pinocembrin, đặc thù của mật ong, hiện đang được nghiên cứu về các đặc tính kháng khuẩn.  Một nghiên cứu trong phòng thí nghiệm các mẫu mật ong chưa được khử trùng cho thấy đa số mật ong có khả năng chống lại vi khuẩn Staphylococcus aureus, một loại vi khuẩn thông thường rất dễ tìm thấy trong môi trường sống của chúng ta mà chúng có thể gây nhiễm trùng, đặc biệt ở các vết thương mở.  Các báo cáo khác cho thấy mật ong có khả năng ức chế vi khuẩn E. coli và Candida albicans hiệu quả.  Các loại mật ong có màu đậm hơn, đặc biệt loại mật ong từ hoa kiều mạch, ngải đắng (sage) và tupelo, chứa các chất chống oxy hóa với số lượng lớn hơn so với các loại mật ong khác, đồng thời các loại mật ong thô chưa được chế biến chứa rất nhiều các chất hỗ trợ sức khỏe.

Ứng dụng chính của mật ong (được nghiên cứu) là quản lý vết thương, đặc biệt giúp tăng tốc thời gian lành lại của vết thương, khử mùi, và loại bỏ các mô chết.  Có nhiều dạng vết thương khác nhau được nghiên cứu; đa số là các dạng vết thương không lành chẳng hạn như các vết loét mãn tính, các vết thương hậu phẫu và các vết phỏng (bỏng).  Mặc dù mật ong thực sự có các tác dụng kháng khuẩn, nhưng cần thêm nghiên cứu ở người trong lĩnh vực này.

Một Muỗng Mật Ong Mỗi Ngày Ngăn Chặn Các Gốc Tự Do

Tiêu thụ mật ong mỗi ngày làm tăng hàm lượng hợp chất chống oxy hóa có khả năng bảo vệ trong máu ở người, theo nghiên cứu được công bố tại hội nghị lần thứ 227 của Hiệp Hội Hóa Học Hoa Kỳ (American Chemical Society) ở thành phố Anaheim, California, ngày 28 tháng Ba năm 2004.  Nhà hóa học Heidrun Gross và các đồng nghiệp từ trường Đại Học California (University of California), ở Davis, đã cho 25 tình nguyện viên trong cuộc nghiên cứu mỗi người sử dụng khoảng 4 muỗng canh mật ong kiều mạch mỗi ngày trong vòng 29 ngày bên cạnh chế độ ăn uống hàng ngày của họ, sau đó lấy các mẫu máu ở những khoảng thời gian nhất định sau khi tiêu thụ mật ong.  Một mối liên hệ trực tiếp đã được phát hiện giữa việc tiêu thụ mật ong của các đối tượng với hàm lượng các chất chống oxy hóa polyphenolic trong máu của họ.

Mật Ong Có Lợi Cho Những Cá Nhân Khỏe Mạnh và Những Người Bị Cao Cholesterol, Bệnh Tiểu Đường Loại 2

Trong một loạt các thí nghiệm bao gồm những đối tượng khỏe mạnh và những người bị cao cholesterol hoặc bị bệnh tiểu đường loại 2, mật ong đã chứng minh rằng bản thân nó là một chất tạo ngọt có lợi cho sức khỏe nhất.

Trong vòng 15 ngày, 8 đối tượng khỏe mạnh, 6 bệnh nhân bị cao cholesterol, 5 bệnh nhân bị cao cholesterol và cao protein C-reactive (một yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch), và 7 bệnh nhân bị bệnh tiểu đường loại 2 đã được cho sử dụng các dung dịch chứa số lượng tương đương mật ong nhân tạo, mật ong tự nhiên hoặc đường.

Ở các đối tượng khỏe mạnh, trong khi đường và mật ong nhân tạo có thể gây hại hoặc có rất ít các tác dụng có lợi, thì mật ong tự nhiên đã giảm được 7% cholesterol tổng cộng, 2% các chất béo trung tính (triglycerides), 7% protein C-reactive, 6% homocysteine và 6% huyết đường, và đã làm tăng 2% cholesterol “tốt” HDL.  (Giống như protein C-reactive, homocysteine là một yếu tố nguy cơ quan trọng gây bệnh tim mạch).

Ở các bệnh nhân bị cao cholesterol, mật ong nhân tạo đã làm tăng cholesterol “xấu” LDL, trong khi mật ong tự nhiên đã làm giảm 8% cholesterol tổng cộng, 11% cholesterol LDL, và 75% protein C-reactive.

Và ở các bệnh nhân bị bệnh tiểu đường (đái tháo đường) loại 2, mật ong tự nhiên đã làm giảm đáng kể tình trạng tăng huyết đường khi được so sánh với dextrose và sucrose (các loại đường được tinh chế).  Do đó, bạn hãy thử pha một ít mật ong vào ly cà phê sáng, sữa chua bữa trưa, và ly trà xanh buổi chiều của bạn.  Xem ra một muỗng mật ong mỗi ngày có thể giúp bạn bớt phải uống thuốc.

Chữa Phỏng (Bỏng)

Chứng cứ ban đầu cho thấy rằng mật ong có thể giảm bớt thời gian vết thương lành lại.  Cần thêm nghiên cứu để đưa ra đề xuất chắc chắn.

Viêm Da (Gàu bám da đầu)

Chứng cứ hỗ trợ cho ứng dụng của mật ong trong việc điều trị chứng viêm da và gàu bám da đầu vẫn còn hạn chế.  Cần thêm nghiên cứu để đưa ra đề xuất chắc chắn.

Bệnh Tiểu Đường Loại 2

Chứng cứ ban đầu cho thấy rằng mật ong có thể giúp hạ giảm mức huyết đường ở các bệnh nhân bị bệnh tiểu đường (đái tháo đường).  Cần thêm nghiên cứu trong lĩnh vực này.

Chứng Hoại Tử Fournier

Hiện tại, chưa có chứng cứ đầy đủ về ứng dụng của mật ong trong việc điều trị chứng hoại tử Fournier (Fournier’s gangrene).  Cần thêm nghiên cứu trong lĩnh vực này.

Viêm Đường Ruột và Dạ Dày (Trẻ Sơ Sinh)

Hiện tại, chưa có chứng cứ thử nghiệm ở người đầy đủ để đề xuất mật ong cho việc điều trị chứng viêm đường ruột và dạ dày ở trẻ sơ sinh.

Bệnh Mụn Giộp Herpes

Nghiên cứu ban đầu đã tìm thấy mật ong mang lại hiệu quả trong việc điều trị bệnh mụn giộp herpes ở môi nhưng không hiệu quả cho bệnh mụn giộp herpes ở cơ quan sinh dục.  Cần thêm nghiên cứu trong lĩnh vực này để đưa ra kết luận xác thực.

Cao Cholesterol (Hypercholesterolemia)

Nói chung, chứng cứ hỗ trợ cho ứng dụng của mật ong để điều trị chứng cao cholesterol vẫn còn rất khiêm tốn.  Cần thêm nghiên cứu để đưa ra đề xuất xác thực.

Cao Huyết Áp

Hiện tại, có chứng cứ ban đầu cho thấy lợi ích của việc sử dụng mật ong trong điều trị chứng cao huyết áp. Cần thêm nghiên cứu để đưa ra đề xuất xác thực.

Viêm Loét Chân

Gel mật ong (honey dressing) đã được dùng để chữa các vết viêm loét ở chân nhưng chưa có lợi ích lâm sàng rõ ràng nào.  Cần thêm nghiên cứu để đưa ra đề xuất chắc chắn.

Cao răng/viêm lợi răng

Hiện tại chỉ có những nghiên cứu còn hạn chế cho thấy lợi ích khiêm tốn của mật ong trong việc điều trị cao răng và viêm nướu răng.  Cần thêm nghiên cứu trong lĩnh vực này.

Viêm Màng Nhầy Do Phóng Xạ

Hiện tại, chưa có đủ chứng cứ để đề xuất hoặc chống lại việc sử dụng mật ong cho tình trạng viêm màng nhầy do phóng xạ (radiation mucositis).

Viêm mũi màng kết (Rhinoconjunctivitis)

Hiện tại, chưa có đủ chứng cứ ở người để đề xuất mật ong cho việc điều trị viêm mũi màng kết.  Nghiên cứu ban đầu không cho thấy có bất kỳ lợi ích nào.

Chữa Lành Vết Ghép Da (Lồi Da)

Hiện tại, chưa có đủ chứng cứ ở người để đề xuất mật ong cho việc điều trị tình trạng vết ghép da bị lồi.

Chất Làm Ngọt Tự Nhiên

Mật ong có vị ngọt – đó là đặc tính tự nhiên.  Nhưng bạn có biết rằng mật ong còn thêm vào mùi vị đặc biệt cho hầu như bất kỳ món ăn nào.  Đó là tiếng thở dài mãn nguyện sau bữa ăn thật ngon.  Đó là cảm giác tiếc nhớ thời thơ ấu.  Đó là một nguyên liệu bí mật với những tiềm năng vô hạn.



Nhiều người xem mật ong như một loại dung dịch làm ngọt trong những món tráng miệng hoặc nước chan lên mặt bánh mì nướng.  Nhưng hơn bao giờ hết, mật ong được công nhận là một nguyên liệu đa dụng và thực phẩm chính trong tủ bếp.  Mật ong tự nhiên cung cấp mùi vị độc đáo và những lợi ích sức khỏe vô song.  Từ khả năng làm hài hòa các mùi vị cho đến khả năng giữ độ ẩm cho các loại bánh nướng, mật ong thực hiện vô số các nhiệm vụ, chỉ từ một chai thật nhỏ.

Mật ong…Nguồn Năng Lượng Tự Nhiên

Mật ong còn là một nguồn chứa dồi dào các chất carbohydrate, cung cấp 17 g chất carbohydrate trong một muỗng canh, làm cho nó trở thành một nguồn nhiên liệu lý tưởng cho những cơ bắp hoạt động vì carbohydrate là nguồn năng lượng chính của cơ thể.  Các chất carbohydrate rất cần thiết trong chế độ ăn giúp duy trì hàm lượng glycogen trong cơ, đây là các chất carbohydrate được dự trữ, và là nguồn nhiên liệu quan trọng nhất cho các vận động viên để giúp họ vận động liên tục.



Khi nào bạn muốn tìm kiếm một nguồn tăng lực hoặc chỉ là tự thưởng một chút hương vị ngọt ngào sau một buổi tập thể dục căng thẳng, thì mật ong sẽ là một nguồn năng lượng tự nhiên, ngon miệng, nhanh và tiện lợi nhất.

Mật Ong Như Một Nguồn Tăng Lực

Trước Khi Tập Thể Dục: trong nhiều năm các chuyên gia dinh dưỡng thể thao đã đề xuất tiêu thụ các chất carbohydrate trước khi thực hiện các hoạt động thể thao như một nguồn tăng lực bổ sung.  Cũng như nhiều loại carbohydrate, mật ong tỏ ra rất hiệu quả khi được tiêu thụ trước khi tập thể dục.  Khi mật ong được tiêu thụ trước lúc tập thể dục hoặc trước lúc tiến hành các hoạt động thể thao, nó được đưa vào cơ thể một cách đều đặn trong suốt thời gian vận động.

Trong Khi Tập Thể Dục: Việc tiêu thụ các chất carbohydrate, chẳng hạn như mật ong, trong lúc tập thể dục sẽ giúp cho các cơ của bạn được bồi dưỡng lâu hơn, nhờ đó làm giảm bớt sự mệt mỏi, khi được so sánh với bất kỳ chất bổ sung nào.  Lần sau, nếu bạn mang theo một chai nước, hãy thêm vào đó một ít mật ong – điều này có thể giúp cho bạn có được sự tăng lực cần thiết!

Sau Khi Tập Thể Dục: Tiến trình hồi phục tối ưu là một kế hoạch cần thiết cho bất kỳ vận động viên nào.  Nghiên cứu cho thấy rằng tiêu thụ kết hợp các chất carbohydrate và protein ngay sau khi tập thể dục (trong vòng 30 phút) tỏ ra lý tưởng trong việc tái bổ sung nhiên liệu và giúp giảm bớt sự đau nhức của cơ bắp.  Do đó, mật ong là một nguồn carbohydrate dồi dào để kết hợp với các loại protein bổ sung sau khi tập thể dục.  Bên cạnh việc tăng cường khả năng hồi phục cơ và tái tạo glycogen, sự kết hợp bổ sung carb-protein giúp làm ổn định mức đường huyết khỏe mạnh sau khi tập thể dục.

Chăm Sóc Da Tự Nhiên

Các nhà sản xuất đã sử dụng mật ong trong nhiều sản phẩm từ kem bôi tay (hand lotion) và kem tạo ẩm (moisturizer) đến các thanh xà phòng (xà bông) và xà phòng tắm tạo bọt (bubble bath).  Một lý do mà họ sử dụng mật ong là hình tượng không độc hại, hoàn toàn tự nhiên; càng ngày càng có nhiều khách hàng đòi hỏi các mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc cá nhân (personal care product) được làm từ các nguyên liệu tự nhiên.  Tuy nhiên, trong trường hợp của mật ong, hình tượng là điểm bắt đầu.



Trước tiên, mật ong là một chất giữ ẩm (humectant).  Đặc tính này làm cho mật ong trở thành một chất thích hợp một cách tự nhiên trong nhiều sản phẩm tạo ẩm khác nhau, bao gồm kem rửa mặt (cleansers), kem bôi da, dầu gội đầu (shampoo) và dầu xả (conditioner).

Hãy tìm các sản phẩm làm đẹp chứa mật ong hoặc đơn giản là thêm một ít mật ong vào kem tạo ẩm, dầu gội đầu hoặc thanh xà phòng (xà bông cục) trong nhà.  Để cảm thấy hài lòng hơn, hãy thử tự chế biến sản phẩm làm đẹp cho bạn.

Khi sử dụng mật ong, một chất giữ ẩm với các đặc tính kháng vi sinh vật, chúng ta đã tạo ra một loạt các công thức làm đẹp giúp cung cấp nước cho da và làm cho tâm hồn được thanh thản.

Bảo Vệ Da Chống Lại Ánh Nắng Mặt Trời: Hãy sử dụng kem chống nắng mỗi ngày – không chỉ khi trời nắng.  Bôi (thoa) kem chống nắng 30 – 40 phút trước khi tiếp xúc với ánh sáng để cho phép các thành phần hoạt tính bắt đầu hoạt động.

Rửa Mặt Mỗi Ngày Hai Lần: Rửa mặt vào buổi sáng giúp làm sạch các chất thải được bài tiết trong quá trình tự làm sạch của da vào buổi tối.  Rửa mặt vào buổi tối giúp làm sạch bụi, dầu và các sản phẩm trang điểm.

Ngủ Đủ Giấc: Da của bạn sẽ báo hiệu cho bạn biết rằng bạn có bị thiếu ngủ không.  Nếu ngủ không đủ giấc, cơ thể của bạn không thể hồi phục và tự tu sửa được.  Ngủ đủ giấc không chỉ giúp bạn sống lâu hơn, mà còn giúp cho da của bạn nhìn đẹp hơn.

Giảm Stress: Stress làm cho mô cơ thể bị lão hóa – đặc biệt là các mô da.  Tập thể dục, trị liệu xoa bóp (massage therapy), tập yoga, điều trị bằng hương liệu (aromatherapy) và thuốc là các phương pháp có hiệu quả cao chống lại stress.

Các Ứng Dụng Dựa Trên Các Sử Dụng Truyền Thống Hoặc Lý Thuyết

Những cách sử dụng sau đây dựa trên các lý thuyết khoa học hoặc cách sử dụng truyền thống.  Chúng thường chưa được kiểm tra hoàn toàn ở người, tính an toàn và hiệu quả không phải lúc nào cũng được chứng thực. Một vài chứng bệnh này có khả năng diễn biến nghiêm trọng, do đó cần phải được chuyên gia chăm sóc y tế (bác sĩ, dược sĩ, y tá) có giấy phép hành nghề kiểm tra và đánh giá.

Tăng axit trong dịch cơ thể (acidosis), trung hòa axit (antacid), chống lão hóa, kháng viêm, kháng vi sinh vật, chống nấm (antimycotic), chống oxy hóa, kháng ký sinh trùng, chống ung thư, bệnh suyễn, chàm, viêm loét ngực (breast ulcers), ngăn ngừa ung thư, bệnh đục thủy tinh thể (cataracts: cườm mắt), viêm màng kết (conjunctivitis), ho, sâu răng (dental caries), tiêu chảy, phù (edema), hạ đờm, viêm/nhiễm mắt, sốt, nhiễm khuẩn Helicobacter pylori, tăng huyết đường (hyperglycemia), kích thích miễn dịch, nhiễm trùng, bệnh hủi (leprosy), tránh khô miệng, đau nhức, mờ giác mạc hậu herpe (postherpetic corneal opacities), chăm sóc da, các rối loạn về da, viêm loét da do áp lực (pressure sores: do nằm trên giường quá lâu), bệnh vẩy nến (psoriasis), nhiễm trùng đường hô hấp, nhiễm trùng huyết (septicemia), bệnh nấm da thân (tinea corporis), bệnh nấm da khu vực háng (tinea cruris), bệnh nấm da mặt (tinea faciei).


Nguồn bổ sung:





XEM PHẦN TIẾP THEO