About

Monday, March 31, 2014

TIN TỨC Y HỌC - Do LQT Biên Dịch


CHỦNG NGỪA CÚM CŨNG CÓ THỂ CÓ LỢI CHO TIM

Nếu việc tránh một tuần sốt cao và đau nhức hoặc tránh bị nhiễm bệnh cúm không làm cho bạn cảm thấy có động cơ để chủng ngừa cúm, thì một nghiên cứu mới đây cho thấy chủng ngừa cúm (flu shot) có khả năng làm giảm tỷ lệ mắc bệnh tim sẽ có thể thuyết phục bạn săn tay áo lên.

Những người tham gia trong cuộc nghiên cứu này (đã được chủng ngừa cúm) giảm được 1 phần 3 nguy cơ bị các vấn đề về tim, chẳng hạn như suy tim hoặc nhồi máu cơ tim, khi được so sánh với những người chọn lựa không chủng ngừa cúm.  Theo nghiên cứu này, nếu ai đó đang có bệnh tim thì việc chủng ngừa cúm còn có thể giúp giảm bớt đáng kể một số rối loạn ở tim.




“Đây là một phần chứng cứ bổ sung để thuyết phục các bệnh nhân đi chủng ngừa cúm”, theo lời của tác giả dẫn đầu cuộc nghiên cứu, bác sĩ Jacob Udell, chuyên khoa tim và là nhà khoa học lâm sàng, tại bệnh viện Women’s College Hospital của trường Đại Học Toronto (University of Toronto), Canada.


Các kết quả của nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Journal of the American Medical Associtation số ra tuần lễ 23/30 tháng 10.

Các nghiên cứu trong quá khứ đã chỉ ra mối liên hệ giữa virut cúm và nguy cơ gia tăng bị các sự kiện về tim.  Và ngược lại, các nghiên cứu trước đây được thực hiện với vắcxin cúm đã cho thấy một mối liên hệ giữa loại vắcxin này và khả năng hạ giảm nguy cơ bị các vấn đề về tim.  Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu này đều có quy mô nhỏ và không có nghiên cứu nào tập trung vào tác dụng bảo vệ tim của vắcxin cúm.

Vắcxin cúm hiện tại được đề xuất cho mọi người ở Hoa Kỳ từ 6 tháng tuổi trở lên, theo Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Chống Dịch Bệnh Hoa Kỳ (U.S. Centers for Disease Control and Prevention - CDC).  Vắcxin này được đề xuất một cách đặc biệt cho một số nhóm dân số, bao gồm những người bị bệnh tim.


Để tìm hiểu khả năng phòng chống các sự kiện về tim của loại vắcxin này, các nhà nghiên cứu đã xem xét lại các thử nghiệm lâm sàng được thực hiện với loại vắcxin cúm từ năm 1947 đến giữa năm 2013.

Các nhà điều tra đã bao gồm 6 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên với khoảng 7000 người trong tiến trình phân tích.  Độ tuổi trung bình của những người tham gia nghiên cứu là 67, và khoảng một nửa số người tham gia là phụ nữ.  Khoảng 36% có bệnh sử bị tim.

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những người tiếp nhận vắcxin cúm có khả năng giảm được 36% nguy cơ bị một sự kiện về tim khi được so sánh với những người không tiêm chủng vắcxin cúm.

Khi các nhà nghiên cứu chỉ mới xem xét 3 thử nghiệm bao gồm những người gần đây mới bị bệnh tim, thì họ đã tìm thấy loại vắcxin này có tác dụng bảo vệ thậm chí càng cao hơn.  Những người mới bị bệnh tim và được chủng ngừa cúm có khả năng giảm được 55% nguy cơ bị một sự kiện khác về tim khi được so sánh với những người không tiếp nhận vắcxin cúm.

Theo nghiên cứu này, những người tiếp nhận vắcxin cúm giảm được 20% nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch khi được so sánh với những người không chủng ngừa cúm.

Bác sĩ Udell nói nghiên cứu này không được thiết kế nhằm chứng minh rằng vắcxin cúm có thể hạ giảm nguy cơ bệnh tim, nhưng ông nói các nhà nghiên cứu tin rằng họ đã đến gần mức có thể chứng minh được nguyên nhân và kết quả mà không cần tiến hành một thử nghiệm lâm sàng thiết kế chuyên biệt để tìm kiếm tác dụng bảo vệ từ vắcxin cúm.

“Chúng tôi muốn thực hiện một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên để dư luận chung không còn hoài nghi về vấn đề này”, bác sĩ Udell nói.

Các nhà nghiên cứu tin rằng loại vắcxin này có khả năng bảo vệ chống lại bệnh tim bằng cách ngăn ngừa bệnh cúm và tình trạng viêm đi kèm.  “Khi bạn mắc bệnh cúm, cơ thể tiến hành một phản ứng viêm.  Những cảm giác đau nhức khi bạn bị cảm cúm là một phần của đáp ứng miễn dịch.  Tình trạng viêm đó có thể kích thích làm cho các mảng vữa ở các động mạch bị vỡ ra”, bác sĩ Udell giải thích.


Suzanne Steinbaum, bác sĩ chuyên khoa tim ngăn ngừa (preventive cardiologist) tại bệnh viện Lenox Hill (Lenox Hill Hospital), thành phố New York, đã đồng ý rằng việc ngăn ngừa tình trạng viêm gắn liền với bệnh cúm là một lý do thích hợp để giải thích cho việc tiếp nhận vắcxin cúm sẽ giúp hạ giảm nguy cơ bị các vấn đề về tim.

Bác sĩ Steinbaum nói rằng, “Nhiều người thường hỏi tôi họ có thể làm điều gì cho bản thân.  Tôi trả lời rằng họ nên chủng ngừa cúm; nó cũng bảo vệ tim cho bạn.  Nghiên cứu này cung cấp chứng cứ mang tính thuyết phục cho việc chủng ngừa cúm”. (Trở về đầu trang)



CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU VIẾT MÃ LẠI TOÀN BỘ BỘ GEN


Các nhà khoa học từ trường Đại Học Yale (Yale University) và Đại Học Harvard (Harvard University) đã viết mã lại toàn bộ bộ gen (genome) của một sinh vật, đồng thời cải thiện tính năng kháng virut của một loại vi khuẩn, đây là một nghiên cứu gây ấn tượng về khả năng viết lại mã di truyền (genetic code) của một sinh vật.

“Đây là lần đầu tiên mã di truyền đã được thay đổi một cách cơ bản”, theo lời của tiến sĩ Farren Isaacs, phó giáo sư môn sinh học phân tử, tế bào, và phát triển tại Đại Học Yale và là đồng tác giả của nghiên cứu được công bố trên tạp chí Science ngày 18 tháng 10.  “Khả năng tạo ra một sinh vật với một mã di truyền hoàn toàn mới cho phép chúng ta mở rộng phạm vi chức năng sinh học theo một số hướng có tác động mạnh mẽ”.



Khả năng tạo ra một sinh vật được viết mã lại bộ gen sẽ làm tăng thêm triển vọng rằng các nhà nghiên cứu có thể có khả năng tổ chức lại tự nhiên và tạo ra những dạng protein tiềm năng mới nhằm tiến hành vô số các mục đích – từ khả năng chiến đấu với bệnh tật đến khả năng tạo ra những nhóm chất liệu mới.

Nghiên cứu này – do tiến sĩ Isaacs và đồng tác giả George Church của trường Đại Học Y Khoa Harvard (Harvard Medical School) dẫn đầu – là một thành tựu của nhiều năm nghiên cứu trong ngành sinh học tổng hợp (synthetic biology) đang nổi lên, nhằm tìm kiếm cách thức thiết kế lại các hệ thống sinh học tự nhiên để phục vụ cho các mục đích có lợi.

Trong trường hợp này, các nhà nghiên cứu đã thay đổi các quy luật sinh học cơ bản.

Các protein, được viết mã dưới sự hướng dẫn của DNA và được cấu tạo bởi 20 axit amin (amino acid), thực hiện nhiều vai trò quan trọng trong tế bào.  Các axit amin được viết mã bởi một bộ 64 các tổ hợp gồm 3 trong số 4 axit nucleic, các axit này là thành phần cấu tạo chính của DNA.  Các bộ ba này (các nhóm 3 phân tử nucleotit) được gọi là các đơn vị mã (codon) và là yếu tố di truyền cơ bản của sự sống.

Phó giáo sư Isaacs, Jesse Rinehart của trường Đại Học Yale, và các nhà nghiên cứu của trường Đại Học Harvard đã thăm dò để xem rằng họ có thể khai triển sản phẩm của tự nhiên bằng cách thay thế các đơn vị mã hoặc các mẫu tự khác nhau trong toàn bộ bộ gen rồi sau đó đưa vào những mẫu tự hoàn toàn mới để tạo ra các axit amin không có trong tự nhiên hay không.  Thành tựu này lần đầu tiên đánh dấu khả năng mã di truyền trong bộ gen của một sinh vật đã được thay đổi hoàn toàn.

Trong nghiên cứu mới này, các nhà nghiên cứu làm việc với vi khuẩn E. coli đã được tráo đổi một đơn vị mã (codon) đồng thời dấu hiệu báo ngừng tự nhiên có tác dụng làm ngưng quá trình sản xuất protein của loại vi khuẩn này cũng được loại bỏ.  Bộ gen mới đã giúp cho các vi khuẩn này có khả năng kháng lại tình trạng nhiễm virut bằng cách sản sinh một số lượng giới hạn các protein tự nhiên được các virut sử dụng để lây nhiễm cho các tế bào.  Sau đó tiến sĩ Isaacs – làm việc với Marc Lajoie của trường Đại Học Harvard, Alexis của trường Đại Học Yale, và các đồng nghiệp – đã biến đơn vị mã “ngừng” (stop codon) thành đơn vị mã có khả năng viết mã cho các axit amin mới rồi đưa đơn vị mã này vào bộ gen theo mô hình tự động vận hành (plug-and-play fashion).

Hiện nay, nghiên cứu này đã tạo ra giai đoạn chuyển đổi vi khuẩn được tái mã hóa thành một “phân xưởng đúc” có sự sống, có khả năng sản sinh các nhóm protein “độc đáo” và các hợp chất cao phân tử (polymer) mới.  Theo lời của tiến sĩ Isaacs, các phân tử mới này có thể tạo nền tảng cho một thế hệ bao gồm các chất liệu, các cấu trúc na nô, các phương pháp điều trị, và các phương tiện vận chuyển thuốc mới.

Tiến sĩ Isaacs nói rằng, “Bởi vì mã di truyền mang tính phổ quát, do đó nó sẽ làm tăng thêm triển vọng tái mã hóa bộ gen của các sinh vật khác.  Thành tựu này tạo thêm nhiều gợi ý cho ngành công nghệ sinh học và có thể mở ra các đại lộ hoàn toàn mới cho công tác nghiên cứu và các ứng dụng.  

Các nhà khoa học khác của trường Đại Học Yale tham gia nghiên cứu là Hans Aerni và Adrian Haimovich. (Trở về đầu trang)



 GIẤC NGỦ GIÚP ĐÀO THẢI CÁC CHẤT ĐỘC Ở NÃO

Giấc ngủ không chỉ giúp làm sạch não bộ của bạn.  Hiện nay các nhà khoa học cho rằng giấc ngủ thực sự giúp đào thải các chất độc và chất thải tích lũy trong não của bạn trong suốt một ngày.  Thật vậy, ngoài sự tưởng tượng của bạn, não rất cần giấc ngủ ngon này.



Các nhà khoa học thần kinh (neuroscientist) đã quan sát não bộ của những chú chuột đang ở trạng thái ngủ và những chú chuột đang tỉnh thức, sử dụng một phương pháp có tên là soi kính hiển vi 2 lượng tử ánh sáng (two-photon microscopy).  Khi các chú chuột này đi vào giai đoạn ngủ, các tế bào não của chúng thực sự co lại, làm tăng khoảng không giữa các tế bào não khoảng 60%.  Đó là thời điểm dịch não tủy (cerebral spinal fluid - CSF) tràn vào và làm sạch các ống.  Theo giải thích của tạp chí Guardian:

“Trong thời gian ngủ, dịch não tủy được bơm xung quanh não, và giội rửa các sản phẩm thải như một máy rửa chén sinh học.  Quá trình này giúp đào thải các mảnh vụn phân tử mà các tế bào não tạo ra như một phần của các hoạt động tự nhiên của chúng, cùng với các protein độc hại”.

Tiến Trình Tiêu Thoát Ở Não

Quá trình này được hỗ trợ bởi hệ thống làm sạch chất thải cho hệ thần kinh trung ương (glymphatic system: hệ thống này bao gồm một lộ trình các động mạch lân cận vận chuyển dịch não tủy đi vào nhu mô não, cùng với một cơ chế làm sạch để loại bỏ chất dịch bao quanh tế bào và các chất hòa tan ngoại bào từ các khoang giữa các tế bào ở não và tủy sống), do cùng một nhóm các nghiên cứu phát hiện năm ngoái, theo tạp chí sức khỏe BBC mô tả:

Các phát hiện của họ dựa trên việc khám phá mạng lưới các ống tiêu thoát của não vào năm ngoái – có tên là hệ thống làm sạch chất thải cho hệ thần kinh trung ương – các ống này vận chuyển chất thải ra khỏi não.  Hệ thống này được đặt tên “glymphatic system” là do nó phụ thuộc vào các tế bào thần kinh đệm (glial cell) cũng như chức năng hoạt động của nó trong hệ thần kinh trung ương tương tự như hệ bạch huyết (lymphatic system).

Các nhà khoa học, sau khi chụp hình não của các chú chuột, đã chỉ ra rằng hệ thống làm sạch chất thải cho hệ thần kinh trung ương tăng hoạt động gấp 10 lần khi các chú chuột này đang trong trạng thái ngủ.

Hệ thống tiêu thoát này là điểm đặc thù của não bộ, vì tiến trình đào thải chất độc ở phần còn lại của cơ thể được hệ bạch huyết (lymphatic system) thực hiện không thể vận chuyển các chất thải vượt qua rào cản huyết não (blood-brain barrier: rào cản cách ly máu tuần hoàn trong cơ thể với chất dịch ngoại bào ở não trong hệ thần kinh trung ương).  Và đây là một quá trình đòi hỏi nhiều năng lượng, do đó có lẽ vì vậy mà bạn cần phải ở trạng thái ngủ để tiến trình này có thể hoạt động được.  Theo tạp chí The Verge mô tả:

“Bạn có thể liên tưởng đến một buổi tiệc tổ chức tại gia”, theo lời của bác sĩ Maiken Nedergaard tại Trung Tâm Y Tế Đại Học Rochester (University of Rochester Medical Center), New York, Hoa Kỳ, tác giả dẫn đầu nghiên cứu này.  “Bạn chỉ có thể chiêu đãi những người khách đến dự tiệc hoặc dọn dẹp nhà cửa, bạn không thể làm cả hai việc này cùng lúc”.

Các Tác Động Của Giấc Ngủ

Công tác dọn dẹp nhà cửa, như tất cả chúng ta đều biết, thường gây phiền nhiễu.  Đây là một công việc đòi hỏi nhiều thời gian và gây mệt mỏi, đồng thời công việc này thường không nằm trong danh sách các công việc ưu tiên mỗi ngày.  Nhưng trong trường hợp của não, chắc chắn công tác này sẽ là việc làm ưu tiên.  Việc hoãn lại giấc ngủ và công tác dọn dẹp đi kèm với giấc ngủ đó có thể có những tác hại mang tính dài hạn, theo các kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí Science tuần này.  Sự tích lũy các sản phẩm thải ở não được xem là sẽ dẫn đến bệnh Alzheimer và các dạng mất trí nhớ khác.

Bác sĩ Nedergaard nói rằng, một trong số các chất cặn bã bị đào thải ra khỏi não trong lúc ngủ có tên là beta amyloid, chất này tạo thành các mảng vữa dính kết có liên quan đến bệnh Alzheimer.  Đó có lẽ không phải là một sự trùng hợp tình cờ.

Các nhà khoa học đã kiểm tra khả năng các chú chuột đào thải các chất độc ra khỏi não của chúng bằng cách truyền vào một số lượng nhỏ các protein được xem có liên quan đến bệnh Alzheimer.  Họ đã phát hiện các protein amyloid beta này được đào thải nhanh hơn ở của các chú chuột đang trong trạng thái ngủ.

Bác sĩ Nedergaard nói thêm, “Điều thú vị là bệnh Alzheimer và các chứng bệnh khác có liên quan đến chứng mất trí nhớ đều gắn liền với các rối loạn về giấc ngủ”.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu khác xem ra vẫn còn hoài nghi về tính khả thi của nghiên cứu này, và cho rằng vẫn còn quá sớm để biết được tiến trình này có áp dụng được ở người không, và làm cách nào để đánh giá sự quan trọng của cơ chế này.  “Tiến trình này có vẻ rất hấp dẫn, nhưng tôi không nghĩ rằng đó là chức năng chính của giấc ngủ”, theo lời của tiến sĩ Raphaelle Winsky-Sommerer, một chuyên gia về giấc ngủ và các chức năng sinh học tại trường Đại Học Surrey (University of Surrey), Liên Hiệp Vương Quốc Anh.  “Giấc ngủ gắn liền với mọi thứ: quá trình chuyển hóa, chức năng sinh lý của cơ thể, quá trình tiêu hóa, và nhiều vấn đề khác nữa”.  Tiến sĩ Raphaelle Winsky-Sommerer nói rằng bà muốn nhìn thấy các thử nghiệm khác cho thấy sự tích tụ của chất thải ở não của những người bị mất ngủ, và số lượng các chất thải này được hạ giảm khi họ trở lại với giấc ngủ bình thường.

Nhưng bác sĩ Nedergaard tin rằng bà sẽ tìm được hệ thống làm sạch chất thải hoạt động tương tự ở người.   Bà cho rằng nghiên cứu này có thể tạo điều kiện cho các ngành y học giúp làm chậm tiến trình bùng phát của các dạng bệnh mất trí nhớ do các chất thải tích lũy ở não gây ra, và thậm chí có thể giúp cho những người thiếu ngủ.  

Do đó, bên cạnh việc giúp bạn tỉnh thức và tỉnh táo, giấc ngủ còn sẽ giúp cho chất xám của bạn duy trì ở trạng thái tốt nhất. (Trở về đầu trang)



CÁC PHÂN TỬ NANÔ BỌC VÀNG TÌM KIẾM VÀ TIÊU DIỆT CÁC TẾ BÀO UNG THƯ


Trong một nghiên cứu mới được công bố, các nhà khoa học của trường Đại Học Cornell (Cornell University), Hoa Kỳ, đã đưa ra chi tiết cách thức họ phát minh các phân tử nanô được bọc vàng, mà chúng có khả năng tìm kiếm và tiêu diệt các tế bào ung thư.



Các nhà khoa học ở trường Đại Học Cornell đã kết hợp các phân tử vàng và oxit sắt để hoạt động chung trong một nhóm, sau đó bổ sung thêm các kháng thể hướng dẫn để dẫn nhóm này đi theo máu tiến đến các tế bào ung thư đại tràng.  Và trong khoảng 1 phần tỷ giây, nhóm kết hợp này sẽ tiêu diệt những tế bào ung thư – bằng sức nóng của tia hồng ngoại được hấp thu.

Đây không phải là một câu chuyện khoa học viễn tưởng – đây là một nghiên cứu y học thực sự.

“Đây là một khái niệm đơn giản.  Đó chính là hóa học keo (colloidal chemistry).  Bản thân hợp kim vàng và oxit sắt không gây hại và không sẵn sàng phản ứng với các nguyên tố khác, đồng thời ánh sáng hồng ngoại có nhiệt lượng không lớn”, theo lời Carl Batt, giáo sư ngành Khoa Học Thực Phẩm của trường Đại Học Cornell và là đồng tác giả của tài liệu nghiên cứu này.  “Nhưng liên kết các hợp kim ít hoạt tính này với nhau, bổ sung thêm một loại kháng thể để hướng dẫn hợp kim tiến đến đúng mục tiêu, sẽ tiêu diệt mục tiêu bằng ánh sáng hồng ngoại và các tế bào ung thư sẽ bị chết đi.  Các tế bào này chỉ cần được sưởi nóng lên vài độ là có thể bị tiêu diệt”.

Batt và các đồng nghiệp của ông – tiến sĩ Dickson K. Kirui, một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Viện Nghiên Cứu Methodist Houston (Houston Methodist Research Institute) và là tác giả đầu tiên của tài liệu nghiên cứu này; IIdar Khalidov, ngành X-quang, Đại Học Y Khoa Weill Cornell (Weill Cornell Medical College); và Yi Wang, khoa Công Nghệ Y Sinh (Biomedical Engineering), Đại Học Cornell, đã công bố nghiên cứu của họ trên tạp chí Nanomedicine số ra tháng 7 năm 2013.

Đối với tiến trình điều trị ung thư, các phương pháp trị liệu nhiệt (hyperthermic techniques) hiện hành – sẽ truyền nhiệt đi khắp cơ thể - sưởi nóng các tế bào ung thư cũng như các mô khỏe.  Do đó, các mô khỏe có khuynh hướng bị tổn thương.  Nghiên cứu này cho thấy rằng khi sử dụng các phân tử nanô bọc vàng, các siêu phân tử này có khả năng làm tăng nguồn nhiệt lượng thấp một cách hiệu quả, thì các tế bào ung thư trở thành mục tiêu chính xác hơn và những thiệt hại đến các mô khỏe do sức nóng gây ra có thể được giảm thiểu.  Bằng cách kết hợp các phân tử oxit sắt có từ tính với vàng, các bác sĩ quan sát hình chụp MRI và CT có thể theo dõi đường đi của phân tử nanô này tiến đến các mục tiêu.

Khi sử dụng tia laze gần hồng ngoại (400-1400 nm), ánh sáng đi sâu vào mô tế bào, sưởi nóng phân tử nanô đến nhiệt độ khoảng 120 độ F (49 độ C) – mức nhiệt độ đủ lớn để tiêu diệt nhiều tế bào ung thư mục tiêu.  Tiến trình này sẽ làm tăng gấp 3 lần khả năng tiêu diệt các tế bào ung thư, và một khối u lớn có thể giảm kích thước trong vòng 30 ngày, theo lời của tiến sĩ Kirui.  Ông giải thích, “Tiến trình này không làm giảm hoàn toàn kích thước của khối u, nhưng các bác sĩ có thể sử dụng thành công các chiến lược tấn công khác.  Tiến trình này cũng giúp giảm bớt liều lượng các chất hóa học độc hại và phóng xạ - dẫn đến một cuộc sống có chất lượng cao hơn”. (Trở về đầu trang)



MỨC SƯƠNG KHÓI TĂNG CAO LIÊN QUAN ĐẾN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊM TRỌNG VỀ TIM

Hàm lượng cao chất ô nhiễm không khí dạng hạt – thường được gọi là sương khói (smog) – sẽ làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và các vấn đề nghiêm trọng khác về tim, theo một nghiên cứu mới đây.

Chất ô nhiễm không khí dạng hạt ám chỉ các hạt nhỏ li ti trong không khí được biết đến với tên PM10.  Mức PM10 an toàn do Liên Hiệp Châu Âu quy định là 50 mcg/m3, nhưng nghiên cứu này cho thấy rằng các tác hại của chất PM10 có thể xảy ra dưới mức ấn định đó.



Các nhà nghiên cứu đã so sánh các dữ liệu về các nồng độ trung bình mỗi ngày của chất PM10 ở Brescia, Ý, trong những năm từ 2004 đến 2007 và các trường hợp nhập viện do các vấn đề về tim trong suốt thời gian đó.

Họ đã tìm thấy một mối liên hệ chặt chẽ giữa hàm lượng PM10 và con số các ca nhập viên do nhồi máu cơ tim và các hội chứng mạch vành cấp tính (acute coronary syndromes: một thuật ngữ chung bao gồm các tình trạng bệnh lý trong đó nguồn cung cấp máu đến cơ tim bị tắc nghẽn một cách đột ngột) khác, suy tim, suy tim trở xấu và các rối loạn về nhịp tim.

Theo nghiên cứu này, khi hàm lượng PM10 tăng 10 mcg, thì số ca nhập viện do các vấn đề về tim sẽ tăng 3%, và nghiên cứu này sẽ được thuyết trình trong một cuộc hội thảo của Hiệp Hội Châu Âu về Tim Học ở Madrid, Tây Ban Nha vào thứ Bảy.


Vì nghiên cứu này chỉ mới được thuyết trình tại một cuộc hội thảo y khoa, cho nên các dữ liệu và các kết quả chỉ được xem là sơ bộ cho đến khi được đăng trên tạp chí nghiên cứu khoa học (peer-review journal: được các chuyên gia viết và được một số chuyên gia khác trong ngành xem xét phê bình trước khi bài viết được đăng trên tạp chí để đảm bảo tính chất lượng của bài viết).

Các nhà nghiên cứu cũng đã phát hiện ra rằng nam giới và những người trên 65 tuổi đặc biệt dễ bị các hội chứng mạch vành cấp tính hoặc dễ bị các rối loạn nhịp tim khi mức PM10 tăng lên.  Ngoài ra, những người trước đây đã từng nhập viện do các rối loạn về tim cũng có nhiều khả năng bị nhập viện khi mức PM10 tăng lên cao hơn.



Trong một cuộc họp báo, bác sĩ Savina Nodari, tác giả nghiên cứu, đã nói rằng, “chúng ta cần đặc biệt lưu ý đến việc bảo vệ các bệnh nhân cao tuổi và các bệnh nhân đã từng bị nhồi máu cơ tim hoặc bị các rối loạn về tim, vì họ là những đối tượng dễ mắc phải một rối loạn khác về tim”.

Bác sĩ Savina Nodari nói thêm rằng, “các nghiên cứu trước đây hỗ trợ cho giả thuyết cho rằng tình trạng ô nhiễm không khí có thể làm tăng tỷ lệ các đợt phát về tim (cardiac event) bởi vì chất PM10 có thể gây ra các quá trình gây hại cho tim, bao gồm viêm và đông tụ máu”.

Bà nói rằng ngưỡng PM10 hiện nay là quá cao, và nên được cắt giảm xuống khoảng 20 – 30 mcg/m3 hoặc thấp hơn, “bởi vì, giống như cholesterol, nguy cơ cứ tăng dần – hàm lượng càng cao thì nguy cơ càng lớn.  Nếu chúng ta có thể đạt được mức PM10 thấp hơn, thì chúng ta sẽ có thể hạ giảm được nguy cơ phát triển bệnh tim”. (Trở về đầu trang)



UỐNG NHIỀU RƯỢU BIA ẢNH HƯỞNG ĐẾN XƯƠNG CỦA BẠN


Không chỉ bạn có nhiều khả năng bị chấn thương hoặc tử vong do tai nạn giao thông khi bạn say xỉn, mà uống nhiều rượu bia còn làm cho các vết nứt (gãy) ở xương khó lành lại, theo một người cứu mới đây tại Trung Tâm Y Tế Đại Học Loyola (Loyola University Medical Center), Hoa Kỳ.



Các nhà nghiên cứu đã cho một nhóm chuột tiếp xúc với số lượng rượu bia gần gấp 3 lần số lượng cho phép (tương đương khoảng 10 khẩu phần uống dành cho người) và cho nhóm còn lại tiếp xúc với số lượng nước muối (salt water) tương đương, sau đó làm gãy xương ống chân (tibia) của các chú chuột này.  Ở những chú chuột được uống nhiều rượu bia, hàm lượng của một loại protein tham gia vào quá trình hồi phục giảm xuống khoảng 50%, và những chú chuột này cũng cho thấy có các dấu hiệu bị rối loạn oxy hóa (oxidative stress) – một quá trình làm suy giảm chức năng hoạt động bình thường của tế bào.

Tác giả nghiên cứu, tiến sĩ John Callaci, lý luận rằng rượu bia bằng cách nào đó đã ảnh hưởng đến khả năng tham gia vào quá trình chữa lành vết nứt (gãy) của các tế bào gốc (stem cell).  Tiến sĩ Callaci nói rằng các phát hiện này có thể áp dụng cho các thương tổn không do xay xỉn ở những người thỉnh thoảng uống nhiều rượu bia.

Do đó, xem ra bạn có thể an toàn nếu chỉ uống 1 hoặc 2 ly mỗi ngày,  nhưng bạn nên tránh tiêu thụ 5 hoặc 6 (hoặc 10) ly mỗi ngày – đặc biệt nếu như bạn đang bị thương tổn ở xương. (Trở về đầu trang)



VI KHUẨN KHÁNG THUỐC – MỘT VẤN ĐỀ SỨC KHỎE ĐANG GIA TĂNG


Các vi khuẩn đề kháng thuốc kháng sinh (trụ sinh) gây bệnh cho hơn 2 triệu người ở Hoa Kỳ mỗi năm và chịu trách nhiệm cho ít nhất 23 000 trường hợp tử vong.  Nguyên nhân chính là gì? Lạm dụng thuốc kháng sinh.



Một báo cáo mới đây của Trung Tâm Kiểm Soát Và Phòng Chống Dịch Bệnh Hoa Kỳ (Centers for Disease Control and Prevention - CDC), Các Nguy Cơ Đề Kháng Thuốc Kháng Sinh ở Hoa Kỳ năm 2013 (Antibiotic Resistance Threats in the United States, 2013), đưa ra chi tiết các vấn đề sức khỏe và chi phí tài chính về tình trạng đề kháng thuốc kháng sinh ở Hoa Kỳ.  Về lĩnh vực sức khỏe, tình trạng đề kháng thuốc kháng sinh nằm trong danh sách 15 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong của trung tâm CDC.  Tình trạng này cũng góp phần tạo ra những phí tổn chăm sóc sức khỏe trực tiếp vào khoảng 20 tỷ đô la.  Vấn đề có thể trở nên xấu hơn trước khi có thể trở lại bình thường.

Theo bác sĩ Tom Frieden, giám đốc trung tâm CDC, “tính năng đề kháng thuốc kháng sinh của nhiều sinh vật gây bệnh khác nhau đang gia tăng mà có thể là những mối đe dọa cho sức khỏe con người.  Nếu chúng ta không hành động ngay bây giờ, thì tủ thuốc của chúng ta sẽ bị bỏ trống và chúng ta không còn thuốc kháng sinh để bảo vệ sự sống”.

Giải Thích Tình Trạng Đề Kháng Thuốc Kháng Sinh

Tình trạng đề kháng thuốc kháng sinh là gì?  Sau đây là một ví dụ đơn giản.  Nếu bạn bị viêm họng khuẩn cầu chuỗi (strep throat) rồi sau đó uống thuốc penicillin để điều trị tình trạng bệnh này, thì thuốc penicillin sẽ tiêu diệt phần lớn các khuẩn cầu chuỗi (streptococcal bacteria).  Nhưng một vài vi khuẩn này có thể còn sống sót.  Những vi khuẩn sống sót (vì nhiều lý do khác nhau) sẽ có khả năng đề kháng lại thuốc này.  Cho đến lần sau bị nhiễm bệnh, thuốc penicillin sẽ trở nên mất hiệu lực đối với tình trạng bệnh này.

Bạn có thể mắc phải vi khuẩn kháng thuốc bằng nhiều cách.  Các vi khuẩn này có thể xuất hiện từ việc lạm dụng thuốc kháng sinh, hoặc sử dụng các loại thuốc này một cách không cần thiết, để điều trị các trường hợp nhiễm virut.  Bạn có thể phát triển tình trạng đề kháng thuốc kháng sinh (trụ sinh) bằng cách tiêu thụ các loại thịt được xử lý bằng thuốc kháng sinh.  Ngoài ra, bạn còn có thể bị lây nhiễm tình trạng này từ những người khác – thậm chí từ những chuyên gia y tế (bác sĩ, dược sĩ, y tá).

Tại sao tình trạng đề kháng thuốc kháng sinh lại là một vấn nạn?  Vấn đề chính là do các loại thuốc kháng sinh thường được sử dụng sẽ trở nên ít hiệu quả hơn trong việc điều trị các trường hợp nhiễm trùng thông thường.  Điều đó có nghĩa là các bác sĩ phải chuyển sang cho sử dụng các loại thuốc kháng sinh mạnh hơn và ít thân thiện hơn, hoặc không còn loại thuốc nào có thể có hiệu quả.

Trong báo cáo này, trung tâm CDC đã xác định 3 loại vi khuẩn được xem là các mối đe dọa khẩn cấp:

-      Clostridium difficile.  Các vi khuẩn này có thể gây ra tiêu chảy nghiêm trọng, đặc biệt ở những người cao tuổi và những người đang có các chứng bệnh nghiêm trọng.
-      Enterobacteriaceae.  Các vi khuẩn này, thường sống trong đường tiêu hóa, có thể tấn công các khu vực khác của cơ thể, như đường tiết niệu (đường tiểu), và gây ra các trường hợp nhiễm trùng.
-      Neisseria gonorrhoeae.  Các vi khuẩn này gây ra bệnh lậu (gonorrhea), một bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục.

Nhiều vi khuẩn khác được liệt kê là mối đe dọa “nghiêm trọng” hoặc “đáng lo ngại”.  Chúng bao gồm một loại vi khuẩn rất phổ biến gây ra bệnh viêm phổi và viêm họng khuẩn cầu chuỗi.  Các loại nấm mốc gây ra một số trường hợp nhiễm nấm men (yeast infection) cũng tạo nên một danh sách được liệt kê là “nghiêm trọng”.



Nhân cơ hội này, trung tâm CDC đã công bố một phương pháp tiếp cận 4 bước để giám sát và đối phó với tình trạng đề kháng thuốc kháng sinh.  Phương pháp này nhắm đến việc:

-      ngăn ngừa các trường hợp nhiễm trùng và lan truyền tình trạng đề kháng thuốc kháng sinh
-      theo dõi các trường hợp nhiễm trùng kháng thuốc kháng sinh trên khắp Hoa Kỳ
-      cải thiện cách thức bác sĩ, bệnh nhân, những người làm nghề nông, và những người khác sử dụng thuốc kháng sinh (trụ sinh), cũng như tránh tình trạng lạm dụng thuốc.
-      phát triển các loại thuốc kháng sinh (trụ sinh) mới và các phương pháp kiểm tra để phát hiện tình trạng đề kháng thuốc kháng sinh.

Tiến Hành Hành Động

Mọi người đều có thể giúp giảm bớt tác động của tình trạng đề kháng thuốc kháng sinh và làm chậm bước tiến của nó – hoặc thậm chí có thể đảo ngược hoàn toàn tình trạng này. 

-      Giảm bớt việc sử dụng quá nhiều thuốc kháng sinh.  Cần biết khi nào thuốc kháng sinh (trụ sinh) có hiệu quả và không hiệu quả.  Đừng yêu cầu bác sĩ cho sử dụng thuốc kháng sinh.  Hỏi bác sĩ xem thuốc kháng sinh có giúp cải thiện các triệu chứng bệnh của bạn không.
-      Ngăn ngừa các trường hợp nhiễm trùng.  Rửa tay (với loại xà phòng thông thường, không phải là loại xà phòng kháng vi khuẩn) là cách tốt nhất để ngăn ngừa tất cả các trường hợp nhiễm trùng.  Các biện pháp vệ sinh khác cũng tỏ ra quan trọng.  Ví dụ, hắt hơi vào cánh tay, đừng hắt hơi vào bàn tay.  Bệnh viện có thể cắt giảm được nguy cơ khi sử dụng các biện pháp và các chương trình phòng chống nhiễm trùng được chuẩn bị chu đáo.
-      Cập nhật các chương trình tiêm chủng của bạn.  Chủng ngừa vắcxin chống lại bệnh viêm phổi có thể giúp giảm bớt các tình trạng kháng thuốc đối với các loại vi khuẩn pneumococcus rất phổ biến.
-      Thực hiện tình dục an toàn.  Sử dụng bao cao su (bao tránh thai) để giúp phòng chống tình trạng lây nhiễm các chứng bệnh lây truyền qua đường tình dục.
-      Tìm hiểu về việc sử dụng thuốc kháng sinh trong các nguồn thực phẩm.  Các loại thuốc này cũng có thể làm tăng tính năng đề kháng thuốc kháng sinh.  Nên tìm hiểu các thông tin về các loại thực phẩm khi bạn quyết định mua. (Trở về đầu trang)



5 BƯỚC GIÚP PHÒNG CHỐNG SỎI THẬN


Nếu bạn đã từng bị sỏi thận, chắc chắn bạn sẽ còn nhớ đến căn bệnh này.  Cơn đau nhức có thể làm cho bạn không thể chịu đựng nổi, xuất hiện từng đợt cho đến khi viên sỏi có kích thước siêu nhỏ di chuyển qua đường tiểu và thoát ra khỏi cơ thể.  Đối với nhiều người, sỏi thận không phải là chứng bệnh xảy ra một lần: trong khoảng 50% số người đã từng một lần bị sỏi thận, một đợt tái phát khác sẽ xuất hiện trong vòng 7 năm nếu không có các biện pháp ngăn ngừa.

Việc ngăn ngừa sỏi thận xem ra không phức tạp lắm, nhưng nó đòi hỏi một sự quyết tâm.

Sỏi thận hình thành khi một số chất hóa học nào đó trở nên đủ cô đặc trong nước tiểu để hình thành các tinh thể (crystal).  Các tinh thể này phát triển thành các khối tinh thể lớn hơn (những viên sỏi), mà chúng có thể di chuyển qua đường tiết niệu (đường tiểu).  Nếu các viên sỏi này bị nghẽn lại ở một khu vực nào đó và ngăn chặn dòng chảy của nước tiểu, thì nó sẽ gây ra đau nhức.

Đa số các viên sỏi xuất hiện khi canxi (calcium) kết hợp với một trong hai chất: oxalat (oxalate: [C2O4]2-) hoặc photpho (phosphorous).  Sỏi thận cũng có thể hình thành từ axit uric (uric acid), một sản phẩm của quá trình chuyển hóa purine.




Stones: Các viên sỏi
Kidney: Thận
Ureter: Niệu quản (ống dẫn nước tiểu từ thận đến bàng quang)
Bladder: Bàng quang
Urethra: Niệu đạo (ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra khỏi cơ thể)











Việc ngăn ngừa sỏi thận là biện pháp phòng chống các quá trình hỗ trợ sự hình thành các viên sỏi thận.  Bác sĩ Melanie Hoenig, phó giáo sư giảng dạy y khoa tại Trung Tâm Y Tế Beth Israel Deaconess Liên Kết Với Đại Học Harvard (Harvard-affiliated Beth Israel Deaconess Medical Center) đề xuất các bước sau đây:

Uống nhiều nước: Uống nhiều nước giúp hòa tan các chất có trong nước tiểu mà có thể tạo thành sỏi thận.  Cố gắng uống đủ chất lỏng để tạo ra 2 lít nước tiểu mỗi ngày.  Uống nhiều chất lỏng có thể có lợi nếu bao gồm các loại thức uống từ các loại trái cây (hoa quả) họ cam quít, như nước cam hoặc nước chanh.  Chất citrate (một loại muối của axit xitric, [C6H5O7]3-) có trong các loại thức uống này giúp ngăn chặn sự hình thành sỏi thận.

Tiêu Thụ Số Lượng Canxi Cần Thiết: Tiêu thụ quá ít canxi trong chế độ ăn uống có thể làm cho hàm lượng oxalat tăng cao, và do đó tạo điều kiện cho quá trình hình thành sỏi thận.  Để ngăn ngừa tình trạng này, phải đảm bảo tiêu thụ số lượng canxi phù hợp với độ tuổi của bạn.  Một cách lý tưởng, bạn hãy hấp thụ nguồn canxi từ thực phẩm, vì một số nghiên cứu đã cho thấy mối tương quan giữa việc sử dụng các loại thực phẩm chức năng chứa canxi với chứng sỏi thận.  Nam giới từ 50 tuổi trở lên nên tiêu thụ 1000 mg canxi mỗi ngày, cùng với 800 – 1000 đơn vị quốc tế (IU) vitamin D để giúp cơ thể hấp thụ canxi.

Giảm Tiêu Thụ Natri: Chế độ ăn chứa nhiều muối (natri) có thể kích thích tiến trình hình thành sỏi thận vì nó làm tăng số lượng canxi trong nước tiểu.  Do đó, chế độ ăn chứa ít muối được đề xuất cho những người có nhiều khả năng bị sỏi thận.  Các nguyên tắc hướng dẫn hiện hành đề xuất việc hạn chế tiêu thụ số lượng muối tổng cộng mỗi ngày xuống mức 2300 mg.  Nếu trong quá khứ, muối góp phần gây ra chứng sỏi thận, thì bạn nên cố gắng giảm số lượng tiêu thụ xuống mức 1500 mg.  Biện pháp phòng chống này cũng có thể có lợi cho huyết áp và tim của bạn.

Hạn chế tiêu thụ protein từ động vật: Ăn quá nhiều chất protein từ động vật, chẳng hạn như thịt đỏ, thịt gia cầm, trứng, và hải sản, sẽ làm tăng hàm lượng axit uric, và có thể dẫn đến bị sỏi thận.  Chế độ ăn giàu protein cũng làm giảm hàm lượng citrate, chất này hiện diện trong nước tiểu giúp ngăn ngừa sỏi thận hình thành.  Nếu bạn có nhiều nguy cơ bị sỏi thận, thì mỗi ngày bạn nên hạn chế tiêu thụ thịt, kích thước bằng một bàn tay.  Đây cũng là một khẩu phần có lợi cho tim.

Tránh các thực phẩm tạo sỏi thận: Củ dền, sôcôla, rau bina (spinach), rau đại hoàng (rhubarb), trà, đa số các loại quả hạch (nut) giàu chất oxalat, và các loại nước ngọt chứa nhiều photphat (phosphate), cả hai chất này có thể góp phần hình thành sỏi thận.  Nếu bạn đang bị sỏi thận, bác sĩ có thể yêu cầu bạn tránh tiêu thụ các loại thực phẩm này, hoặc tiêu thụ chúng với số lượng nhỏ.

Đối với những người khác, một số loại thực phẩm và thức uống thường không có khuynh hướng kích thích quá trình hình thành sỏi thận trừ khi được tiêu thụ với số lượng rất lớn.  Một số nghiên cứu cho thấy rằng những nam giới sử dụng liều lượng cao vitamin C dưới dạng thực phẩm chức năng sẽ có nhiều nguy cơ bị sỏi thận hơn.  Điều này có thể là do cơ thể chuyển hóa vitamin C thành oxalat. (Trở về đầu trang)



TẬP THỂ DỤC GIÚP CẢI THIỆN BỆNH SUYỄN


Xuất mồ hôi để giúp thở dễ dàng hơn: Những người bị bệnh suyễn có thể thấy được sự cải thiện của các triệu chứng khi họ tập thể dục, theo một nghiên cứu mới ở Úc.

Các nhà nghiên cứu nói rằng, tăng cường luyện tập tim mạch và gia tăng tối đa nhịp tim có thể giúp cải thiện chức năng phổi.  Tập thể dục cũng có thể giúp giảm bớt tình trạng viêm đường hô hấp liên quan đến các cơn suyễn tấn công.



Đó là những tin vui cho 25 triệu người sống ở Hoa Kỳ bị chứng bệnh này: Nghiên cứu cho thấy họ thường ít tập thể dục vì sợ lên cơn suyễn.  Trên thực tế, các chất gây dị ứng lan truyền trong không khí, các phản ứng dị ứng, và các trường hợp nhiễm trùng đường hô hấp là những yếu tố kích thích gây ra chứng bệnh này phổ biến hơn nhiều.

Do đó, hãy cứ tiếp tục thực hiện các bài tập thể dục thường lệ của bạn – nhưng phải nhớ mang theo ống hít trợ thở (rescue inhaler) khi đi tập thể dục.  Các ống hít trợ thở giúp thư giãn và mở rộng các đường dẫn khí, đặc biệt trong lúc tập thể dục với cường độ cao, theo lời của bác sĩ William J. Calhoun, một chuyên gia về bệnh suyễn tại Chi Nhánh Y Khoa Đại Học Texas (University of Texas Medical Branch).

Và cho dù bạn không bị bệnh suyễn, tập thể dục cũng có thể giúp bạn tránh khỏi chứng bệnh này: Tập thể dục có thể giúp bạn cắt giảm cơ hội phát triển bệnh suyễn khoảng 13%, theo một nghiên cứu gần đây ở Hà Lan. (Trở về đầu trang)



HIỆN TƯỢNG ĐAU NGỰC ÍT PHỔ BIẾN HƠN Ở CÁC BỆNH NHÂN NỮ BỊ TIM

Những phụ nữ bị tình trạng tim có tên là hội chứng mạch vành cấp tính (acute coronary syndrome) ít có khả năng bị đau ngực hơn so với nam giới, mà điều này có thể làm tăng nguy cơ bị chẩn đoán sai, theo các phát hiện của một nghiên cứu mới đây.

Theo Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ (American Heart Association), hội chứng mạch vành cấp tính, bao gồm đau thắt ngực không ổn định (unstable angina) và nhồi máu cơ tim (heart attack), là một thuật ngữ chung để ám chỉ các tình trạng bệnh lý khi nguồn cung cấp máu đến cơ tim đột ngột bị chặn lại.



Các tác giả nghiên cứu giải thích rằng, đau ngực là một triệu chứng kinh điển của hội chứng mạch vành cấp tính, nhưng có khoảng 35% số bệnh nhân báo cáo không bị đau ngực.  Các bệnh nhân này có nhiều khả năng bị chẩn đoán sai ở khoa cấp cứu và có nhiều nguy cơ bị tử vong hơn so với các bệnh nhân báo cáo bị đau ngực.

Các nhà nghiên cứu kiểm tra khoảng 1000 bệnh nhân, tuổi từ 55 trở xuống, được nhập viện vì bị hội chứng mạch vành cấp tính.  Các bệnh nhân có tuổi nằm ở điểm giữa là 49, và 30% số bệnh là phụ nữ.

Có khoảng 80% số bệnh nhân báo cáo bị đau ngực, nhưng phụ nữ có nhiều khả năng ít bị đau ngực hơn so với nam giới, 19% so với 13,7%.

Đối với cả hai giới tính, các triệu chứng phổ biến nhất bên cạnh đau ngực là đuối sức, cảm thấy nóng trong người, khó thở, đổ mồ hôi lạnh và đau ở cánh tay trái hoặc vai trái.  Trong số các bệnh nhân không bị đau ngực, thì phụ nữ gặp phải các triệu chứng nêu trên nhiều hơn so với nam giới, theo một nghiên cứu được đăng trên tạp chí JAMA Internal Medicine vào ngày 16 tháng 9 năm 2013.

Bác sĩ Nadia Khan của trường Đại Học British Columbia (Unversity of British Columbia), ở Vancouver, Canada, và các đồng nghiệp đã viết rằng, “Các phát hiện quan trọng nhất trong nghiên cứu này đó là hiện tượng đau ngực là triệu chứng dễ nhận thấy nhất của hội chứng mạch vành cấp tính ở cả nam giới và phụ nữ từ 55 tuổi trở xuống, bất kể là dạng hội chứng nào”.

Nhưng, các nhà nghiên cứu nói thêm rằng, “phụ nữ có nhiều khả năng bị hội chứng không có hiện tượng đau ngực hơn so với nam giới.  Tuy nhiên, đa số phụ nữ và nam giới không bị đau ngực báo cáo gặp phải ít nhất một triệu chứng khác, chẳng hạn như khó thở hoặc đuối sức”.

Người ta vẫn chưa biết rõ lý do có sự khác biệt về giới tính đối với các triệu chứng của hội chứng mạch vành cấp tính, theo các tác giả nghiên cứu lưu ý trong phần tin tức cập nhật của tạp chí.

Các nhà nghiên cứu nói, “các phát hiện của nghiên cứu này chỉ ra rằng đau ngực là một triệu chứng nổi bật giúp định hướng đánh giá chẩn đoán cho hội chứng mạch vành cấp tính.  Tuy nhiên, các chuyên gia y tế vẫn phải cảnh giác cao độ về hội chứng mạch vành cấp tính ở các bệnh nhân trẻ tuổi, đặc biệt là phụ nữ, vì 1 trong 5 phụ nữ được chẩn đoán bị hội chứng mạch vành cấp tính đã báo cáo không bị đau ngực”. (Trở về đầu trang)


Nguồn (Sources):