About

Thursday, March 5, 2015

TIN TỨC DƯỢC HỌC - Do LQT Biên Dịch



THUỐC ACETAMINOPHEN CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC BỆNH NHÂN BỊ TĂNG HUYẾT ÁP KHÔNG?

Các loại thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) được biết đến trong nhiều năm là có khả năng ức chế tác dụng của các loại thuốc chống tăng huyết áp.  Trước đây chúng tôi đã xem xét lại tác dụng của các loại thuốc kháng viêm không steroid, cũng như nguy cơ gia tăng độc hại thận khi các loại thuốc kháng viêm không steroid và các loại thuốc lợi tiểu (diuretic) được kết hợp trong trị liệu gấp ba (triple therapy) với các loại thuốc ức chế men chuyển hóa angiotensin (ACEI) hoặc các loại thuốc chặn thụ thể angiotensin (ARB).  Tác động của thuốc acetaminophen lên trị liệu chống tăng huyết áp ít được nghiên cứu nghiêm túc, nhưng thuốc acetaminophen thường được xem ít có khả năng tương tác gây hại với trị liệu chống tăng huyết áp hơn so với các loại thuốc kháng viêm không steroid.



Chứng Cứ Mới Đây

Trong một nghiên cứu chéo, chắn kép (double-blind) được công bố mới đây bao gồm các bệnh nhân bị tăng huyết áp nhẹ với bệnh thoái hóa khớp (osteoarthritis), thuốc naproxen và acetaminophen đã được so sánh khi kết hợp với một loại thuốc ACEI (ramipril), ARB (valsartan), và một loại thuốc ức chế renin trực tiếp (aliskiren).

Thuốc Naproxen

Như được mong đợi, thuốc naproxen (500 mg mỗi ngày trong 2 tuần) đã ức chế tác dụng chống tăng huyết áp của thuốc ramipril và valsartan một cách đáng kể.  Mức huyết áp gia tăng trung bình là vừa phải, nhưng có lẽ sẽ đòi hỏi những điều chỉnh trong trị liệu chống tăng huyết áp ở một số bệnh nhân.  Huyết áp chỉ cần tăng nhẹ cũng có thể gây ra những tác hại đến sức khỏe nếu sự gia tăng huyết áp này kéo dài.  Hơn nữa, các bệnh nhân này chỉ bị tăng huyết áp nhẹ, còn các bệnh nhân với chứng tăng huyết áp chống điều trị và nghiêm trọng hơn có thể có những tác hại rõ rệt hơn.  Một cách thú vị là, thuốc naproxen không ảnh hưởng đáng kể đến tác dụng chống tăng huyết áp của thuốc aliskiren.  Người ta vẫn chưa rõ lý do về sự khác biệt này, nhưng các tác giả đã đưa ra một vài sự giải thích có thể chấp nhận được.

Thuốc Acetaminophen

Sự phát hiện gây ngạc nhiên trong nghiên cứu này chính là thuốc acetaminophen đã ức chế tác dụng chống tăng huyết áp của thuốc ramipril, valsartan, và aliskiren.  Sự tác động lên thuốc ramipril và valsartan không lớn bằng khi sử dụng với thuốc naproxen, nhưng sự tác động này đủ lớn để gây tác hại cho một số bệnh nhân nếu thuốc acetaminophen được sử dụng dài hạn và bệnh nhân không được theo dõi một cách đầy đủ.  Các kết quả nghiên cứu trước đây về việc sử dụng thuốc acetaminophen ở các bệnh nhân tiếp nhận các trị liệu chống tăng huyết không thống nhất với nhau, mặc dù nghiên cứu hiện tại phù hợp với một nghiên cứu triển vọng gần đây cho thấy rằng thuốc acetaminophen làm cho huyết áp tăng nhẹ ở các bệnh nhân với bệnh động mạch vành (coronary artery disease).  Tóm lại, chứng cứ cho thấy rằng thuốc acetaminophen có khả năng làm tăng huyết áp ở một mức độ nào đó.

Việc Quản Lý

Chúng ta sẽ tư vấn thế nào cho các bệnh nhân bị tăng huyết áp mà họ đang có ý định sử dụng một loại thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) hoặc thuốc acetaminophen?  Điều quan trọng nhất là, như đã được đề xuất trước đây, trị liệu gấp ba bằng thuốc kháng viêm không steroid, thuốc lợi tiểu, và thuốc ACEI hoặc ARB, xem ra sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm độc thận, và vấn đề này phải được thảo luận với các bác sĩ.  Đối với các bệnh nhân chỉ sử dụng thuốc ACEI hoặc ARB, hãy xem xét các đề xuất sau đây.

Khoảng Thời Gian Sử Dụng

Nếu thuốc kháng viêm không steroid hoặc acetaminophen chỉ được sử dụng trong vài ngày để điều trị một trường hợp cấp tính, thì nguy cơ xem ra không cao trừ khi bệnh nhân bị tăng huyết áp nghiêm trọng và không ổn định

Giám Sát

Nếu thuốc kháng viêm không steroid hoặc acetaminophen được sử dụng dài hạn, thì huyết áp phải được giám sát, và trị liệu chống tăng huyết áp phải được điều chỉnh nếu cần thiết.

Dạng Trị Liệu Chống Tăng Huyết Áp

Mặc dù nghiên cứu hiện tại đã tìm thấy rằng thuốc naproxen không ức chế tác dụng của thuốc aliskiren còn thuốc acetaminophen lại có khả năng ức chế này, nhưng cần thêm 3 nghiên cứu nữa để chứng thực kết quả này.  Các loại thuốc kháng viêm không steroid có thể ít có khả năng ảnh hưởng đến tác dụng chống tăng huyết áp của các loại thuốc không thuộc nhóm ACEI và ARB (chẳng hạn các loại thuốc chặn kênh canxi), nhưng các chuyên gia vẫn chưa biết được liệu thuốc acetaminophen có tương tác với các loại thuốc chống tăng huyết áp một cách khác nhau không.

Kết Luận

Một nghiên cứu mới đã tìm thấy rằng thuốc acetaminophen có khả năng ức chế các tác dụng chống tăng huyết áp của một loại thuốc ACEI (ramipril), một loại ARB (valsartan), và một loại ức chế renin trực tiếp (aliskiren).  Mặc dù sự tác động không đáng kể, nhưng nghiên cứu này cho thấy rằng việc sử dụng dài hạn thuốc acetaminophen có thể dẫn đến những hậu quả có hại cho các bệnh nhân bị tăng huyết áp nếu huyết áp không được giám sát cẩn thận và trị liệu chống tăng huyết áp không được điều chỉnh một cách hợp lý. (Trở về đầu trang)


MỘT VIÊN ASPIRIN MỖI NGÀY CÓ THỂ GIÚP NGĂN NGỪA MỘT CƠN NHỒI MÁU CƠ TIM?

Một viên aspirin mỗi ngày có thể giúp bạn ngăn chặn một cơn nhồi máu cơ tim hay đột quỵ không?

Điều đó cũng còn tùy. 

Bằng chứng khoa học cho thấy rằng uống một viên aspirin mỗi ngày có thể giúp ngăn ngừa một cơn nhồi máu cơ tim (heart attack) hoặc đột quỵ (stroke: tai biến mạch máu não) ở một số người, nhưng không phải ở tất cả mọi người. Nó cũng có thể gây ra các tác dụng phụ không mong muốn.








Theo bác sĩ Robert Temple, phó giám đốc khoa học lâm sàng tại Cơ Quan Quản Lý Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA), một điều chắc chắn là: Bạn chỉ nên sử dụng trị liệu aspirin mỗi ngày sau khi đã tham khảo với bác sĩ (dược sĩ, y tá) của bạn, đây là những người có thể cân nhắc các lợi ích và rủi ro.

Ai Có Thể Thích Hợp Sử Dụng?

“Từ những năm 1990, các dữ liệu lâm sàng đã chỉ ra rằng đối với những người đã từng bị một cơn nhồi máu cơ tim, đột quỵ (tai biến mạch máu não) hoặc những người có bệnh về mạch máu ở tim, thì một liều thấp aspirin mỗi ngày có thể giúp ngăn ngừa tình trạng tái phát”, bác sĩ Temple nói.  Một liều dao động từ 80 mg ở một viên liều thấp tới 325 mg ở một viên liều mạnh thông thường.  Cách sử dụng này được gọi là “phòng ngừa phụ”.

Tuy nhiên, sau khi cẩn thận kiểm tra các dữ liệu khoa học từ các nghiên cứu lớn, cơ quan FDA đã đưa ra kết luận rằng các dữ liệu này không ủng hộ cho việc sử dụng aspirin như một loại thuốc phòng ngừa cho những người chưa từng bị một cơn nhồi máu cơ tim, đột quỵ (tai biến mạch máu não) hoặc các vấn đề tim mạch, sử dụng theo cách này được gọi là “phòng ngừa chính”. Đối với những người này, người ta vẫn chưa tìm thấy các lợi ích nhưng các nguy cơ – chẳng hạn như chảy máu vào não hoặc dạ dày gây nguy hiểm – vẫn luôn hiện diện.

Sự Thận Trọng Cần Thiết Với Các Chất Làm Loãng Máu Khác

Khi bạn bị một cơn nhồi máu cơ tim, đó là bởi vì một trong những động mạch vành (cung cấp máu cho tim), đã hình thành một cục máu đông gây cản trở dòng chảy của máu và oxy đến tim.  Aspirin hoạt động bằng cách can thiệp vào quá trình đóng cục của máu.

Phải thận trọng khi sử dụng thuốc aspirin với các loại thuốc làm loãng máu khác, chẳng hạn như warfarin, dabigatran (Pradaxa), rivaroxaban (Xarelto) và apixiban (Eliquis).

Còn đối với những người không có những vấn đề tim mạch hay đột quỵ (tai biến mạch máu não) nhưng có nhiều nguy cơ do tiền sử bệnh của gia đình hoặc có chứng cứ bị bệnh động mạch thì sao?  Một viên aspirin mỗi ngày có phải là phương pháp an toàn và hiệu quả cho họ không?

Một lần nữa, bác sĩ Temple nhấn mạnh, các dữ liệu lâm sàng này không chứng minh được rằng thuốc aspirin có lợi cho những người này.

Tuy nhiên, ông cho biết thêm rằng đang có một số các nghiên cứu lâm sàng quy mô lớn tiếp tục điều tra việc sử dụng aspirin trong việc phòng ngừa chính cho cơn nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ (tai biến mạch máu não).  Cơ quan FDA Hoa Kỳ đang theo dõi các nghiên cứu này và sẽ tiếp tục kiểm tra các bằng chứng khi chúng xuất hiện.

Trong Thời Gian Này

Điểm mấu chốt đó là đối với những người đã từng có một cơn nhồi máu cơ tim, đột quỵ (tai biến mạch máu não) hoặc các vấn đề tim mạch, thì việc trị liệu bằng aspirin mỗi ngày thật đáng xem xét. Và nếu bạn đang nghĩ đến việc sử dụng trị liệu aspirin, trước tiên bạn cần phải tham khảo với bác sĩ (dược sĩ, y tá) của bạn để có được thông tin cần thiết, bác sĩ Temple nói.

Cuối cùng, liều lượng aspirin bạn sử dụng là một vấn đề rất quan trọng. Liều lượng đúng và tần suất sử dụng phù hợp là điều rất cần thiết cho sức khỏe và sự an toàn của bạn.  Bác sĩ (dược sĩ, y tá) của bạn có thể cho bạn biết về liều lượng và tần suất sử dụng, nhờ đó tạo được các lợi ích lớn nhất với các tác dụng phụ thấp nhất.

Nếu bác sĩ (dược sĩ, y tá) của bạn đề xuất sử dụng aspirin mỗi ngày để giảm nguy cơ bị nhồi máu cơ tim và đột quỵ (tai biến mạch máu não) liên quan đến huyết khối, thì hãy đọc các nhãn sử dụng một cách cẩn thận để đảm bảo rằng bạn dùng đúng sản phẩm. Một số loại thuốc kết hợp aspirin với thuốc giảm đau khác hoặc các thành phần khác, và do đó chúng không nên được sử dụng cho việc trị liệu aspirin dài hạn. (Trở về đầu trang)



ASPIRIN CÓ THỂ LÀM GIẢM NGUY CƠ UNG THƯ BUỒNG TRỨNG

Sử dụng aspirin mỗi ngày có thể giảm được nguy cơ ung thư buồng trứng, theo đề xuất của một nghiên cứu mới đây.  Cần thêm nghiên cứu để chứng thực kết quả này.



Trên 20 000 phụ nữ ở Hoa Kỳ được cho là có kết quả chẩn đoán bị ung thư buồng trứng (ovarian cancer) vào năm 2014, và ít nhất 14 000 phụ nữ có khả năng bị tử vong từ căn bệnh này.  Nếu được phát hiện sớm, bệnh ung thư buồng trứng có thể được điều trị một cách thành công.  Tuy nhiên, các triệu chứng của căn bệnh này có thể tương tự với các tình trạng bệnh lý thông thường, chẳng hạn như các rối loạn tiêu hóa và bàng quang, do đó căn bệnh này thường không được phát hiện cho đến khi bệnh nhân tiến triển đến các giai đoạn nghiêm trọng.  Bệnh ung thư buồng trứng giai đoạn cuối để lại cho bệnh nhân các chọn lựa điều trị giới hạn và tiên lượng kém, làm cho biện pháp phòng chống trở nên đặc biệt quan trọng.

Tình trạng viêm mãn tính hoặc kéo dài được biết là có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư và các chứng bệnh khác.  Các nghiên cứu cho thấy rằng biện pháp giảm viêm bằng các loại thuốc như aspirin và các loại thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) có thể giúp giảm bớt nguy cơ ung thư nói chung.  Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác động của các loại thuốc này đối với nguy cơ ung thư buồng trứng vẫn chưa có kết luận rõ ràng.

Một nhóm nghiên cứu dẫn đầu bởi 2 bác sĩ Britton Trabert và Nicolas Wentzensen của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ (National Cancer Institute – NCI) đã điều tra mối tương quan giữa ung thư buồng trứng và việc sử dụng thuốc aspirin, thuốc kháng viêm không steroid, và thuốc acetaminophen.  Các nhà nghiên cứu đã phân tích các dữ liệu từ 12 nghiên cứu lớn bao gồm tổng cộng gần 8000 phụ nữ bị ung thư buồng trứng và 12 000 phụ nữ có sức khỏe bình thường.  Các kết quả nghiên cứu đã được báo cáo trong Tạp Chí của Viện Ung Thư Quốc Gia (Journal of the National Cancer Institute).



Nói chung, có khoảng 18% số phụ nữ báo cáo sử dụng aspirin thường xuyên (ít nhất mỗi tuần một lần), 24% sử dụng thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) thường xuyên, và 16% sử dụng acetaminophen.  Những phụ nữ báo cáo sử dụng aspirin mỗi ngày có nguy cơ ung thư buồng trứng thấp hơn so với những người sử dụng aspirin chưa đến một lần mỗi tuần là 20%.  Các kết quả cho việc sử dụng thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs), bao gồm nhiều loại thuốc, tỏ ra kém rõ ràng hơn.  Các nhà khoa học đã quan sát thấy những phụ nữ sử dụng thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) ít nhất mỗi tuần một lần có nguy cơ ung thư buồng trứng thấp hơn so với những người sử dụng thuốc kháng viêm không steroid ít thường xuyên hơn là 10%.  Tuy nhiên, kết quả này không có ý nghĩa thống kê –có thể do tình cờ.  Acetaminophen, có tác dụng giảm đau nhưng không giảm viêm, không có mối tương quan với khả năng hạ giảm nguy cơ ung thư buồng trứng.

Các kết quả này đưa ung thư buồng trứng vào một danh sách đang gia tăng các bệnh ung thư mà có thể ngăn ngừa được bằng thuốc aspirin.  “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng các chế độ sử dụng thuốc aspirin, được chứng minh có khả năng chống lại cơn nhồi máu cơ tim, cũng có thể có tác dụng giảm nguy cơ ung thư buồng trứng”, bác sĩ Trabert nói.  “Tuy nhiên, các kết quả này không nên ảnh hưởng đến trị liệu lâm sàng hiện hành.  Cần thêm các nghiên cứu để khám phá sự cân bằng tinh tế giữa nguy cơ và lợi ích của loại thuốc ngăn ngừa ung thư này, cũng như cần đến các nghiên cứu giúp xác định cơ chế nhờ đó thuốc aspirin có thể làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng”.

Các nhà khoa học cảnh báo rằng, cho dù các lợi ích tiềm tàng của việc sử dụng thuốc aspirin mỗi ngày, bệnh nhân chỉ nên tiến hành chế độ thuốc này với sự chấp thuận của bác sĩ.  Các tác dụng phụ của việc sử dụng aspirin mỗi ngày bao gồm xuất huyết đường ruột và dạ dày cũng như đột quỵ do xuất huyết não (hemorrhagic stroke). (Trở về đầu trang)



PHÁT TRIỂN THUỐC KHÁNG SINH ĐIỀU TRỊ BỆNH LAO

Các nhà nghiên cứu đã thiết kế và thử nghiệm một nhóm thuốc kháng sinh mới để điều trị bệnh lao.  Nghiên cứu là một bước ban đầu trong việc phát triển các liệu pháp để chống lại các dạng bệnh kháng thuốc.

Bệnh lao (tuberculosis) là một bệnh dễ lây do nhiễm các vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis (Mtb).  Các vi khuẩn này lan truyền trong không khí và thường ảnh hưởng đến phổi.  Các vi khuẩn này là nguyên nhân hàng đầu gây ra tình trạng mất khả năng hoạt động toàn cầu và dẫn đến 1,3 triệu ca tử vong mỗi năm.



Bệnh lao được điều trị bằng các loại thuốc kháng sinh (trụ sinh).  Tuy nhiên, các vi khuẩn này có thể tiến hóa để có tính năng kháng lại các loại thuốc này.  Bệnh lao kháng nhiều thuốc (multidrug-resistant TB) thường đòi hỏi thời gian điều trị lên đến 2 năm với một số thuốc kháng sinh, các loại thuốc này có thể tạo ra các tác dụng phụ nghiêm trọng.  Bệnh lao kháng thuốc bao quát (extensively drug-resistant (XDR) TB: bệnh này kháng lại hầu hết tất cả các loại thuốc được dùng để điều trị bệnh lao) được báo cáo xuất hiện ở 92 nước, với một số chủng loại kháng lại tất cả các loại thuốc hiện hành.

Một nhóm nghiên cứu quốc tế do bác sĩ Richard E. Lee tại bệnh viện St. Jude Children’s Research Hospital ở thành phố Memphis, bang Tennessee, Hoa Kỳ bắt đầu phát triển những loại thuốc mới có thể chống lại các chủng loại vi khuẩn Mtb kháng thuốc và có các tác dụng phụ ở mức tối thiểu.  Nghiên cứu này đã được Viện Dị Ứng và Bệnh Nhiễm Trùng Quốc Gia Hoa Kỳ (National Institute of Allergy and Infectious Diseases -NIAID) của Viện Sức Khỏe Quốc Gia Hoa Kỳ (NIH) tài trợ, đồng thời có các nhà nghiên cứu của Viện NIAID cũng tham gia nghiên cứu.  Các kết quả nghiên cứu đã được đăng trên tạp chí Nature Medicine số ra tháng 2 năm 2014.     

Các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu từ thuốc spectinomycin, một loại thuốc kháng sinh bắt nguồn từ vi khuẩn được sử dụng để điều trị các trường hợp nhiễm bệnh lậu (gonorrheal infection).  Loại thuốc này có ít tác dụng phụ nhưng không giúp bảo vệ chống lại bệnh lao.  Thuốc spectinomycin hoạt động bằng cách liên kết với các thể ribô (ribosome) của vi khuẩn, các thể ribô này là một phần quan trọng của cơ chế tổng hợp protein của tế bào.

Các nhà nghiên cứu đã phân tích cấu trúc của loại thuốc này và bổ sung các thành phần hóa học khác nhau để tạo ra một nhóm thuốc mới có tên là spectinamide.  Các hợp chất này có ái lực cao đối với các thể ribô ở các vi khuẩn gây bệnh lao, nhưng không ảnh hưởng đến các thể ribô ở các tế bào của động vật có vú.  Nhóm thuốc này cũng tránh được tình trạng bị các vi khuẩn này đào thải, do đó làm cho chúng trở nên hiệu quả hơn.

Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng nhóm thuốc spectinamide có hoạt tính chống lại các vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây bệnh lao kháng nhiều loại thuốc MDR và bệnh lao kháng thuốc bao quát XDR.  Các nhà khoa học đã phân tích các hợp chất này để xác định chắc chắn rằng chúng không có độc trong các thử nghiệm ở phòng thí nghiệm và ở động vật, và các tác dụng của chúng đủ đặc trị để giảm thiểu khả năng gặp phải các tác dụng phụ hoặc các phản ứng có hại.  Họ còn xác định rằng các hợp chất này có khả năng tương tác tối thiểu với các loại thuốc khác.

Nhóm nghiên cứu đã xác định một tập hợp các loại thuốc spectinamide được chứng minh có khả năng bảo vệ chống lại các trường hợp nhiễm trùng vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis cấp tính và mãn tính ở chuột một cách hiệu quả.  Các hợp chất này giúp làm tăng khả năng sinh tồn của các động vật và tỏ ra dễ dung nạp.

“Nghiên cứu này giải thích cách thức các hợp chất kháng sinh (trụ sinh) cổ điển bắt nguồn từ các sản phẩm tự nhiên có thể được tái thiết kế để tạo ra các sản phẩm bán tổng hợp tiềm năng – các sản phẩm tổng hợp này giúp khắc phục các cơ chế kháng thuốc đặc thù”, bác sĩ Lee nói.  “Tôi hy vọng kết quả sẽ là các loại thuốc điều trị bệnh lao hiệu quả hơn và cung cấp một lộ trình đi đến một phương thuốc chữa bệnh nhanh hơn với ít tác dụng phụ hơn”.

Nghiên cứu này là một bước tiến ban đầu trong việc phát triển một nhóm thuốc mới giúp điều trị bệnh lao.  Hiện đang có các theo dõi lâm sàng được thực hiện. (Trở về đầu trang)



TÍNH AN TOÀN CỦA THUỐC ACETAMINOPHEN: NÊN THẬN TRỌNG NHƯNG ĐỪNG LO SỢ

Hãy đọc các nhãn sử dụng và tuân theo các hướng dẫn để ngăn ngừa sự độc hại cho gan của loại thuốc giảm đau và giảm sốt được sử dụng rộng rãi này.

Mùa cảm lạnh, ho, và cảm cúm là thời điểm thích hợp để xem xét lại các nguy cơ của acetaminophen – chất giảm đau và hạ sốt trong Tylenol và các loại thuốc không cần toa bác sĩ. Mỗi năm, có hàng tỷ liều lượng thuốc acetaminophen được tiêu thụ một cách an toàn, nhưng tình trạng tử vong vẫn xảy ra do tình cờ sử dụng quá liều và kết quả là hàng ngàn người phải nhập viện. Có hơn 600 sản phẩm chứa acetaminophen, và sự kết hợp vô tình các sản phẩm này có thể đưa bạn đến tình trạng nguy hiểm (red zone: vùng đỏ).



Bác sĩ Melisa Lai Becker, giảng viên y khoa tại trường Đại Học Y Khoa Harvard (Harvard Medical School) và là một chuyên gia khoa y học cấp cứu (emergency medicine) và khoa chất độc tại hệ thống Harvard-affiliated Cambridge Health Alliance đã nói rằng: Nhiều người không nhận ra rằng tất cả các liều lượng thuốc này sẽ tăng thêm, và trước khi biết được điều này thì bạn đã dùng quá liều acetaminophen được đề xuất”.

Các Nguyên Tắc Cơ Bản Về Việc Sử Dụng Acetaminophen An Toàn

Acetaminophen giúp kiểm soát cơn đau và sốt nhưng không làm tiêu viêm, tương tự như aspirin và các loại thuốc kháng viêm không steroid (nonsteroidal anti-inflammatory drug - NSAID) được tiêu thụ rộng rãi, chẳng hạn như ibuprofen (Advil, Motrin, các thuốc gốc) và naproxen (Aleve, các thuốc gốc). Nhưng không giống như các loại thuốc NSAID, acetaminophen không gây khó chịu cho dạ dày và niêm mạc ruột. Điều đó có nghĩa là nếu một người không thể dung nạp các loại thuốc NSAID thì vẫn có thể sử dụng acetaminophen. Đây (acetaminophen) là một loại thuốc quan trọng cho việc kiểm soát tình trạng đau nhức mãn tính ở những người lớn tuổi.

Tuy nhiên, acetaminophen cũng có một sự hạn chế về tính an toàn khi được so sánh với ibuprofen và naproxen.  Các loại thuốc kháng viêm không steroid NSAID cũng có thể gây bệnh cho bạn nhưng chỉ khi nào bạn sử dụng với số lượng lớn hơn để có thể vượt đến mức quá liều gây nguy hiểm. Sử dụng quá nhiều acetaminophen có thể gây hại cho gan, đôi khi dẫn đến ghép gan hoặc tử vong.



Cơ thể sẽ phân huỷ hầu hết acetaminophen khi sử dụng liều lượng bình thường và đào thải nó qua nước tiểu. Nhưng một số lượng thuốc này sẽ chuyển hóa thành một sản phẩm phụ có hại cho gan. Nếu bạn sử dụng quá nhiều – ngay lúc đó hoặc trong vòng vài ngày – chất độc có thể tích lũy nhiều hơn khả năng cơ thể có thể xử lý.

Đối với một người thành niên khỏe mạnh trung bình, liều lượng tối đa mỗi ngày thường được đề xuất là không quá 4000 mg từ tất cả các nguồn. Nhưng ở một số người, liều lượng gần với mức giới hạn 4000 mg mỗi ngày dành cho người lớn vẫn có thể gây độc hại cho gan. Điều an toàn nhất là chỉ nên dùng liều lượng bạn cần đến, và không được vượt quá 3000 mg mỗi ngày bất kể lúc nào.

Làm Thế Nào Để Không Vượt Quá Liều Lượng Cho Phép

Nếu bạn chưa bao giờ quan tâm đến số lượng acetaminophen bạn có thể dung nạp dựa vào tuổi tác, kích thước cơ thể, và tình trạng sức khoẻ của bạn, thì bạn nên nói chuyện với bác sĩ hoặc dược sĩ của bạn. Đây là một vài biện pháp phòng ngừa chung để tránh việc sử dụng acetaminophen quá liều lượng một cách vô tình.

-      Các sản phẩm trị cảm lạnh và cảm cúm. Khi tìm kiếm một sản phẩm trị ho, cảm lạnh, hoặc cảm cúm, bạn nên nhìn vào nhãn sử dụng, xem có chứa acetaminophen hay không?
-      Nên biết số mg trong thuốc của bạn. Trong các sản phẩm chứa acetaminophen mua không cần toa bác sĩ, mỗi viên có thể chứa 325 mg, 500 mg hoặc 650 mg thuốc, bạn nên hết sức thận trọng khi sử dụng viên loại 500 mg hoặc 650 mg.
-      Tuân theo các liều lượng được đề xuất. Khi uống acetaminophen, bạn không nên để bị cám dỗ dẫn đến việc uống quá liều lượng cho phép. Một người có thân hình nhỏ bé nên dùng với liều lượng thấp nhất được đề xuất (trong phạm vi 3000 mg).
-      Hạn chế uống rượu bia. Uống rượu bia làm cho gan chuyển hóa số lượng lớn acetaminophen thành sản phẩm phụ độc hại hơn. Đàn ông không nên uống nhiều hơn 2 ly mỗi ngày khi đang sử dụng acetaminophen (một ly mỗi ngày cho phụ nữ).
-      Biết được sự tương tác của thuốc. Hãy hỏi bác sĩ hoặc dược sĩ của bạn nếu bất kỳ loại thuốc theo toa nào mà bạn đang sử dụng có thể tương tác có hại với acetaminophen.

Liều Lượng Nào Bạn Nên Lo Lắng?

Hàng chục ngàn người trở nên bệnh mỗi năm do sử dụng quá nhiều acetaminophen. Trong một số ít trường hợp – hàng trăm người mỗi năm – tình trạng lạm dụng thuốc này đã dẫn đến tử vong. Nhưng điều này không nhất thiết phải xảy ra với bạn.  Bác sĩ Lai Becker đưa ra lời khuyên rằng, “hãy đọc kỹ nhãn sử dụng và tuân theo các hướng dẫn”.


Acetaminophen: Bạn dùng liều lượng bao nhiêu là an toàn?


325 mg
500 mg
650 mg tác dụng dài hạn
Uống bao nhiêu viên thuốc cùng 1 lúc
1 hoặc 2
1 hoặc 2
1 hoặc 2
Thời gian cho mỗi lần uống
4 đến 6 giờ
4 đến 6 giờ
8 giờ
Liều lượng tối đa mỗi ngày an toàn nhất cho đa số người thành niên
8 viên
6 viên
4 viên
Không bao giờ sử dụng quá liều lượng này trong vòng 24 giờ
12 viên (3900 mg)
8 viên (4000 mg)
6 viên (3900 mg)

Liều lượng tối đa mỗi ngày cho người thành niên khoẻ mạnh (có cân nặng ít nhất là 150 lbs [68 kg]), là 4000 mg. Tuy nhiên, ở một số người, sử dụng liều lượng tối đa trong thời gian dài có thể gây tổn thương nghiêm trọng cho gan. Tốt nhất là nên sử dụng liều thấp nhất khi cần thiết và tối đa là 3000 mg cho mỗi ngày. Nếu bạn cần dùng liều lượng cao acetaminophen để giúp làm giảm cơn đau mãn tính, đầu tiên bạn nên kiểm tra với bác sĩ của bạn. (Trở về đầu trang)



PHÁT HIỆN THUỐC KHÁNG ĐÔNG MỚI

Các nhà nghiên cứu của Viện Dị Ứng và Bệnh Truyền Nhiễm Quốc Gia Hoa Kỳ (National Institute of Allergyand Infectious Diseases) đã phát hiện một chất kháng đông mới – lấy từ nước bọt của loài dơi hút máu (vampire bat).  Chất kháng đông này ngăn chặn sự hình thành huyết khối (cục máu đông) trong các động mạch của chuột ở các liều lượng không gây ra tình trạng xuất huyết.  Các phát hiện này, đã được đăng trong đề mục Huyết Học (Blood) vào ngày 12 tháng 12 năm 2013, có thể đưa đến sự phát triển các loại thuốc kháng đông mới.



Kiến Thức Tổng Quát

Đông máu (coagulation) là một quá trình trong đó máu hình thành các huyết khối (cục máu đông).  Khi một mạch máu bị tổn thương, những thành phần cấu tạo nhỏ của máu có tên là tiểu huyết cầu (platelet) tập họp tại khu vực bị thương tổn.  Cùng lúc đó, các men (enzyme) được gọi là các yếu tố đông máu (clotting factor) đáp ứng lại trong một loạt các phản ứng xúc tác để hình thành fibrin, một loại protein dính có tác dụng kết bám các tiểu huyết cầu và các tế bào khác với nhau, dẫn đến sự hình thành huyết khối.

Việc sản sinh nhiều fibrin có thể đưa đến hiện tượng nghẽn mạch (thrombosis) – sự hình thành của huyết khối trong một mạch máu.  Các bác sĩ sử dụng các loại thuốc kháng đông để ngăn ngừa và điều trị tình trạng nghẽn mạch.  Tác dụng phụ chính của các loại thuốc này là nguy cơ gia tăng bị xuất huyết.

Từ đầu những năm 1930, các nhà khoa học đã biết được rằng nước bọt của loài dơi hút máu có các đặc tính kháng đông.  Tuy nhiên, trong suốt 80 năm qua, các nhà nghiên cứu chỉ xác định được đặc điểm của một phân tử kháng đông từ nước bọt của loài dơi hút máu – một enzyme có tác dụng phân nhỏ fibrin và hiện đang được kiểm tra trong các thử nghiệm lâm sàng cho việc điều trị đột quỵ (stroke: tai biến mạch máu não).  Vào đầu năm 2013, các nhà khoa học tại Phòng Thí Nghiệm về Bệnh Sốt Rét và Nghiên Cứu Các Yếu Tố Truyền Bệnh (Laboratory of Malaria and Vector Research - LMVR) của Viện Dị Ứng và Bệnh Truyền Nhiễm Quốc Gia Hoa Kỳ đã báo cáo các phát hiện từ một phân tích chi tiết các tuyến nước bọt của loài dơi hút máu, và đã khám phá ra một vài phân tử ảnh hưởng đến các mạch máu, bao gồm các chất kháng đông tiềm năng.

Các Kết Quả Nghiên Cứu

Trong nghiên cứu mới đây, các nhà nghiên cứu do tiến sĩ Dongying Ma, và tiến sĩ y khoa Ivo Francischetti của Phòng Thí Nghiệm về Bệnh Sốt Rét và Nghiên Cứu Các Yếu Tố Truyền Bệnh (LMVR) dẫn đầu đã xác định protein Desmolaris trong nước bọt của dơi như một chất ức chế yếu tố Xla (factor Xla), một loại men (enzyme) đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành huyết khối.

Các nhà khoa học đã phát hiện rằng việc điều trị các chú chuột bằng protein Desmolaris giúp ngăn ngừa quá trình hình thành huyết khối do chất hóa học gây ra ở động mạch cảnh (carotid artery), động mạch này cung cấp máu cho não.  Điều trị bằng chất Desmolaris không làm tăng tình trạng chảy máu từ một vết cắt nhỏ ở đuôi chuột.  Các chú chuột được điều trị bằng chất Desmolaris ở các nồng độ đòi hỏi để ngăn chặn tình trạng nghẽn mạch đã không xuất hiện tình trạng chảy máu nhiều hơn so với các chú chuột không được tiếp nhận chất kháng đông này.  Tuy nhiên, việc sử dụng chất Desmolaris ở liều lượng cao đã không gây ra hiện tượng chảy máu.

Ý Nghĩa

Các kết quả cho thấy rằng chất Desmolaris có thể được sử dụng như một chất kháng đông hoặc như một nguyên mẫu để phát triển các phương pháp trị liệu giúp ngăn ngừa và điều trị chứng nghẽn mạch.  Loại protein này có thể đặc biệt có lợi cho các tình trạng bệnh lý chẳng hạn như máu đóng cục ở động mạch, đột quỵ (tai biến mạch máu não), và tổn thương mô do thiếu máu cục bộ (ischemia-reperfusion injury) – tổn thương xảy ra khi máu trở lại các mô sau một thời gian bị thiếu oxy.  So sánh với các chất ức chế yếu tố Xla khác, chất Desmolaris có tác dụng nhanh và tỏ ra hiệu quả ở nồng độ thấp.

Ngoài ra, việc phát hiện chất Desmolaris không gây xuất huyết ở các nồng độ đòi hỏi để ngăn ngừa đông máu cho thấy rằng trị liệu bằng chất Desmolaris có thể an toàn hơn các loại thuốc kháng đông hiện hành, các loại thuốc này mang lại nhiều nguy cơ bị xuất huyết.

Các Bước Tiếp Theo

Các nhà khoa học đang có kế hoạch nghiên cứu cách thức cơ thể phản ứng lại chất Desmolaris và đánh giá tính độc tiềm ẩn và các tác dụng phụ của chất này.  Với sự cộng tác của các nhà nghiên cứu khác, họ hy vọng sẽ kiểm tra chất Desmolaris ở các đối tượng bị đột quỵ (tai biến mạch máu não) và bị tổn thương mô do thiếu máu cục bộ. (Trở về đầu trang)


CAFFEINE VÀ THUỐC CLOZAPINE

Chất caffeine có khá ít các tương tác với thuốc, nhưng điều quan trọng là phải lưu ý rằng sự tương tác giữa caffeine với thuốc clozapine có thể dẫn đến tình trạng nhiễm độc.

Một cách may mắn là, đối với những người trong số chúng ta thích uống cà phê, các tin tốt cứ liên tục đưa đến: các báo cáo cho thấy rằng cà phê có thể giúp hạ giảm nguy cơ mắc bệnh Parkinson, sỏi mật, bệnh tiểu đường (đái tháo đường), bệnh Alzheimer, và ung thư.  Nếu các lợi ích này là đúng sự thật, thì lập luận cho rằng cà phê giúp các khớp thần kinh (synapses) phóng thích các chất dẫn truyền thần kinh vào buổi sáng sẽ càng có lợi hơn.



Một lĩnh vực có lợi khác của cà phê là chất caffeine có rất ít những sự tương tác với thuốc.  Tuy nhiên, một báo cáo bệnh án chi tiết mới đây đã nêu bật một sự tương tác đã được mô tả cách đây 2 thập niên: caffeine và thuốc clozapine (thuốc trị các triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt).  Trường hợp mới đây bao gồm một phụ nữ 19 tuổi bị bệnh tâm thần phân liệt đang được trị liệu dài hạn bằng thuốc clozapine, bệnh nhân này đã phát triển tình trạng nhiễm độc bất ngờ trong 2 cơ hội.  Kết quả cho thấy rằng bệnh nhân này đã uống 6 lon nước ngọt chứa caffeine mỗi ngày, một thói quen mà bệnh nhân miễn cưỡng tiết lộ.  Sau khi ngưng uống nước ngọt, nồng độ thuốc clozapine đã giảm xuống một cách đáng kể (phản ứng thuận).

Các Báo Cáo Trước Đây

Vào giữa những năm 1990, có hai trường hợp nhiễm độc thuốc clozapine được báo cáo có lẽ do chất caffeine gây ra.  Hai trường hợp, đều có phản ứng thuận, cho thấy rằng chất caffeine có thể đã làm tăng nồng độ clozapine trong huyết tương.  Trong một nghiên cứu tiếp theo bao gồm 7 bệnh nhân đang sử dụng thuốc clozapine và họ đã tiêu thụ các thức uống có caffeine.  Sau khi ngưng caffeine trong 5 ngày, nồng độ clozapine trong huyết tương đã giảm được 47%.  Sau khi tái tiêu thụ caffeine trong vòng 2 tuần, nồng độ thuốc clozapine đã tăng trở lại các giá trị ban đầu.

Các nghiên cứu về quá trình hấp thụ, phân phối, chuyển hóa và loại bỏ thuốc của cơ thể (pharmacokinetic study) đã đưa ra các kết quả giống nhau.  Trong một nghiên cứu chéo ngẫu nhiên, 12 cá nhân khỏe mạnh được cho sử dụng một liều đơn 12,5 mg clozapine uống bằng miệng đi kèm và không đi kèm với caffeine (400 đến 1000 mg/ngày).  Caffeine đã làm tăng một cách vừa phải nồng độ clozapine trong huyết tương, nhưng nằm trong phạm vi: từ giảm 14% đến tăng 97%.  Các kết quả tương tự cũng được thu thập trong một nghiên cứu chéo ngẫu nhiên khác về các bệnh nhân nhập viện đang sử dụng dài hạn thuốc clozapine và được cho tiêu thụ cà phê chứa caffeine so với cà phê khử caffeine, một lần nữa với những thay đổi lớn về hiệu ứng.

Cơ Chế

Chất caffeine xem ra có tác dụng ức chế quá trình chuyển hóa của thuốc clozapine, có lẽ bằng cách ức chế gen CYP1A2 (loại gen viết mã cho protein).  Tuy nhiên, với quá trình hấp thụ, phân phối, chuyển hóa và loại bỏ thuốc clozapine, thì có thể rằng các cơ chế khác cũng tham gia vào cùng với (hoặc thay vì) sự ức chế gen CYP1A2.

Tính Biến Thiên

Nồng độ clozapine trong huyết tương ở mỗi người thay đổi khác nhau thậm chí khi không có sự hiện diện của caffeine, có nhiều khả năng là do có nhiều yếu tố mà có thể ảnh hưởng đến quá trình hấp thụ, phân phối, và chuyển hóa thuốc clozapine.  Mặc dù thuốc clozapine chủ yếu được gen CYP1A2 chuyển hóa, nhưng xem ra loại thuốc này cũng được chuyển hóa bởi các dạng men đồng phân (isozyme) CYP3A và có thể các dạng men đồng phân CYP, chẳng hạn như CYP2C19, và bởi các chất vận chuyển, chẳng hạn như P-glycoprotein (ABCB1).

Điều này mở ra khả năng cho một số tác động di truyền lên sự phân phối thuốc clozapine, cũng như các tác dụng của các chất kích hoạt quá trình tổng hợp gen (inducer) mà có thể làm tăng khả năng hoạt động của các men và các chất vận chuyển này.  Ví dụ, hút thuốc lá được chứng minh có thể làm giảm đáng kể nồng độ thuốc clozapine, có thể bằng cách làm tăng khả năng hoạt động của gen CYP1A2.  Các chất kích hoạt tổng hợp gen khác, chẳng hạn như carbamazepine, cũng có thể làm giảm nồng độ thuốc clozapine.  Để theo kịp với tính biến thiên cao độ này, các tác động của caffeine đối với thuốc clozapine đã được tìm thấy có tính biến thiên khá lớn ở mỗi người.

Các Đề Xuất

Xem ra các bệnh nhân đang sử dụng thuốc clozapine không nhất thiết phải tránh caffeine hoàn toàn, nhưng việc tiêu thụ caffeine nên được xem là một trong nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến nồng độ thuốc clozapine trong huyết tương.  Sự tương tác này có thể khá phổ biến vì các bệnh nhân đang sử dụng thuốc clozapine có thể cũng đang tiêu thụ cà phê chứa caffeine, nước ngọt cola, hoặc các loại thức uống có chứa caffeine khác mà chúng có khả năng làm mất tác dụng an thần của thuốc clozapine.  Nếu có thể, các bệnh nhân đang sử dụng thuốc clozapine nên tránh những thay đổi lớn trong việc tiêu thụ caffeine, và nên xem xét thay đổi việc tiêu thụ caffeine ở các bệnh nhân đang sử dụng thuốc clozapine mà các bệnh nhân này phát triển tình trạng ngộ độc clozapine đột ngột hoặc không có phản ứng đối với thuốc clozapine. (Trở về đầu trang)



CÁC TÁC DỤNG HỦY TIỂU CẦU CỦA THUỐC ASPIRIN: TƯƠNG TÁC VỚI THUỐC KHÁNG VIÊM KHÔNG STEROID NÀO?

Thuốc aspirin hàm lượng thấp (low-dose aspirin) được sử dụng rộng rãi như một phương pháp ngăn ngừa nhồi máu cơ tim (myocardial infarction) và các bệnh tim mạch khác, nhưng có chứng cứ cho thấy rằng sử dụng cùng lúc với các loại thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) có thể sẽ ức chế tác dụng hủy tiểu cầu (antiplatelet effect) của thuốc aspirin.  Tuy nhiên, xem ra có những khác biệt trong khả năng tương tác với aspirin của các loại thuốc kháng viêm không steroid khác nhau.



Cơ Chế

Thuốc aspirin hoạt động bằng cách đưa nhóm acetyl kết bám vào tiểu cầu COX-1, vì thế ức chế vĩnh viễn chức năng hoạt động của tiểu cầu.  Thuốc ibuprofen có khả năng ngăn chặn bước tiến của thuốc aspirin đến vị trí kết bám (active site) của tiểu huyết cầu (platelet), mặc dù rằng các cơ chế khác cũng có thể tham gia vào.  Các loại thuốc kháng viêm không steroid có thể có hoặc có thể không tương tác theo cách tương tự, như được mô tả dưới đây.

Các Nghiên Cứu về Tiểu Cầu

Ở những người có sức khỏe tốt sử dụng aspirin 81 mg mỗi ngày trong vòng 6 ngày, thì thuốc ibuprofen 400 mg, được cho sử dụng 2 giờ trước mỗi liều aspirin, đã ngăn chặn tác dụng hủy tiểu cầu của aspirin, cũng như thuốc ibuprofen được cho sử dụng nhiều lần mỗi ngày trong thời gian 2, 7, và 12 giờ sau khi dùng aspirin.  Nhưng một liều đơn ibuprofen mỗi ngày được cho sử dụng 2 giờ sau mỗi liều aspirin lại không cho thấy có sự tương tác.  Thuốc aspirin có chu kỳ bán rã (half-life) rất ngắn (khoảng 15 – 20 phút), vì thế điều này phù hợp với lập luận cho rằng sử dụng thuốc ibuprofen 2 giờ sau khi dùng thuốc aspirin sẽ tránh được sự tương tác.

Các nghiên cứu khác ở những người có sức khỏe tốt cũng phát hiện thuốc ibuprofen có khả năng ức chế tác dụng hủy tiểu cầu của thuốc aspirin.  Thuốc naproxen và indomethacin cũng có thể ức chế các tác dụng hủy tiểu cầu của aspirin, nhưng thuốc acetaminophen, diclofenac, meloxicam, và sulindac có thể không có khả năng ức chế này.  Có một nghiên cứu đã tìm thấy thuốc celecoxib không tác động lên tính năng hủy tiểu cầu của thuốc aspirin, trong khi đó, có một nghiên cứu khác lại cho thấy có sự tương tác.

Các Nghiên Cứu Ở Bệnh Nhân

Ở các bệnh nhân sử dụng ibuprofen hoặc naproxen, đồng thời cũng được tiếp nhận aspirin để ngăn ngừa đột quỵ (tai biến mạch máu não), thì tiểu cầu được tìm thấy có chức năng hoạt động tương tự như ở những người không sử dụng aspirin.  Khi các bệnh nhân được ngưng cho sử dụng thuốc kháng viêm không steroid hoặc được cho sử dụng theo lịch trình để tránh thuốc aspirin, thì xét nghiệm lặp lại trong 2 đến 4 tuần đã phát hiện tác dụng hủy tiểu cầu được dự đoán của thuốc aspirin.

Đa số các thử nghiệm kết quả cuối cùng (outcome trial: nghiên cứu các kết quả cuối cùng của các dịch vụ sức khỏe, sử dụng các dữ liệu và thông tin của bệnh nhân) ở các bệnh nhân sử dụng thuốc aspirin để bảo vệ tim cho thấy rằng sử dụng cùng lúc với thuốc ibuprofen sẽ làm giảm hiệu lực của thuốc aspirin.

Các thử nghiệm kết quả cuối cùng này cũng phát hiện rằng Diclofenac, naproxen, và một loại thuốc ức chế COX-2 (lumiracoxib) có thể không tương tác với aspirin.  Không phải tất cả các nghiên cứu đều tìm ra khả năng làm giảm hiệu lực thuốc aspirin của các loại thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs), nhưng đa số chứng cứ cho thấy rằng thực sự có sự tương tác.


ỨC CHẾ TÍNH HIỆU LỰC CỦA ASPIRIN

Hầu Như Chắc Chắn

Có Khả Năng
Hầu Như Không Xảy Ra
Chưa Biết
Ibuprofen
Celecoxiba
Indomethacin
Naproxena
Acetaminophen
Diclofenac
Meloxicam
Sulindac
Tất cả các loại thuốc khác

Các Loại Thuốc Kháng Viêm Không Steroida


a Các dữ liệu chưa thống nhất; cần thêm các thông tin


Các Đề Xuất

Với số lượng đáng kể các chứng cứ cho thấy sự tương tác, và tính nghiêm trọng tiềm tàng về khả năng hạ giảm hiệu lực của thuốc aspirin (ví dụ: nhồi máu cơ tim, đột quỵ), điều quan trọng là phải hết sức thận trọng khi gặp phải các tương tác này.  Do đó, bạn nên cho rằng thuốc ibuprofen có thể làm giảm tính hiệu lực của aspirin, do đó tránh không nên dùng chung với ibuprofen hoặc sử dụng ibuprofen 2 giờ sau khi dùng aspirin.  Bệnh nhân có thể không tránh khỏi tình trạng bị tương tác thuốc nếu sử dụng thuốc ibuprofen mỗi ngày từ 2 lần trở lên.  Naproxen và celecoxib hầu như ít có khả năng như ibuprofen tương tác với aspirin, nhưng cũng có một số chứng cứ cho thấy có sự tương tác.  Do đó, trong lúc chưa có các thông tin bổ sung, phải thận trọng để tránh các tương tác thuốc có thể xảy ra.  Các loại thuốc ít có khả năng tương tác với aspirin xem ra là acetaminophen và Diclofenac, nhưng chứng cứ cho thấy rằng thuốc meloxicam và sulindac cũng có thể không tương tác với aspirin.  Tác động của các loại thuốc kháng viêm không steroid lên tính hiệu quả của các loại thuốc hủy tiểu cầu khác (ví dụ: clopidogrel, prasugrel) chưa được thành lập, nhưng sử dụng phối hợp các loại thuốc kháng viêm không steroid với các loại thuốc hủy tiểu cầu này có thể làm tăng nguy cơ bị xuất huyết dạ dày và ruột. (Trở về đầu trang)



CÁC BỆNH DỊ ỨNG DO NGHỀ NGHIỆP

Mọi người chúng ta ai cũng phải làm việc, nhưng khi công việc làm cho bạn phát bệnh, thì đó thật là một bi kịch.  Các bệnh dị ứng do công việc gây ra thường là các nguồn gây bệnh phổ biến và đáng kể, với bệnh viêm da tiếp xúc (contact dermatitis) và bệnh suyễn nghề nghiệp (occupational asthma) là các dạng bệnh dị ứng thịnh hành nhất.



Dị Ứng Da

Bệnh viêm da do nghề nghiệp (occupational dermatitis), đặc biệt là bệnh viêm da tiếp xúc gây ngứa (irritant contact dermatitis) và bệnh viêm da tiếp xúc do dị ứng (allergic contact dermatitis), là các nguyên nhân phổ biến nhất gây bệnh nghề nghiệp và chịu trách nhiệm cho những tổn thất lớn nhất về ngày làm việc trong số các bệnh dị ứng do nghề nghiệp.  Chất nhựa mủ (latex) được tìm thấy trong bao tay, ống thông, các bộ nhỏ thuốc, và các nút chặn thuốc tiêm, là nguyên nhân gây ra các bệnh dị ứng.

Chất nhựa mủ là một chất gây dị ứng phổ biến nhất có liên quan đến bệnh viêm da.  Tỷ lệ mắc bệnh viêm da đã tăng cao vào những năm 1980 khi các bao tay nhựa trở nên phổ biến và các nhà sản xuất đã thay thế bột tan (talcum powder) bằng tinh bột (starch) để ngăn chặn u hạt (granuloma) hình thành; tinh bột giúp khuếch tán các chất gây dị ứng rất hiệu quả.

Dị ứng nhựa mủ có thể xuất hiện dưới dạng phát ban (rash), bệnh suyễn, viêm màng nhầy mũi (rhinitis), hoặc thậm chí bị sốc mẫn cảm (anaphylaxis) và có thể bị tử vong.  Những cá nhân bị mẫn cảm với chất nhựa mủ nên đeo vòng tay báo động y tế (medic alert bracelet) và luôn mang theo bên mình thuốc tiêm epinephrine cũng như thuốc kháng histamin (antihistamine).  Chất nhựa mủ xuất hiện trong nhiều loại dụng cụ được dùng cho việc chăm sóc sức khỏe, mặc dù các nhà sản xuất đã loại bỏ chất nhựa mủ trong đa số các sản phẩm.

Chất nhựa mủ cũng xuất hiện trong nhiều sản phẩm dành cho người tiêu dùng, do đó những người bị dị ứng với dạng bệnh dị ứng này cần phải hết sức cẩn thận khi mua đồ chơi (toys), đồ đạc trong gia đình, và các dụng cụ dùng cho giải trí.  Lên đến 58% các bệnh nhân bị dị ứng với nhựa mủ sẽ gặp phải các phản ứng chéo (cross reactivity) với quả bơ, chuối, hạt dẻ, và quả kiwi.  Các bệnh nhân có thể phát triển các tình trạng dị ứng với các loại trái cây (hoa quả) khác (ví dụ, quả sung, đu đủ, cà chua).  Tình trạng dị ứng với nhựa mủ được điều trị tốt nhất bằng các loại thuốc steroid và kháng histamine (antihistamine) khi xuất hiện lần đầu, và nên tránh sử dụng các sản phẩm nhựa mủ sau này.


Các Chất Gây Dị Ứng Phổ Biến Ở Nơi Làm Việc

Nghề Nghiệp
Chất Gây Dị Ứng Tiềm Tàng và Sự Biểu Thị

Nhân Viên Lò Bánh và Phục Vụ Ăn Uống
-      Tiếp xúc với bột mì có thể gây ra các triệu chứng ở mũi (ví dụ, viêm màng nhầy mũi, dị ứng mũi, v.v…) hoặc một bệnh ảnh hưởng toàn thân      
-      Đậu nành, cá, động vật dưới nước có vỏ, và trứng có thể gây phản ứng ảnh hưởng toàn thân (systemic reaction)
-      Các sản phẩm làm từ đậu phụng có thể gây phản ứng dị ứng toàn thân

Thợ Mộc và Những Người Làm Gỗ 
Các loại gỗ cứng lạ có thể gây viêm màng nhầy mũi (rhinitis), bệnh suyễn, hoặc viêm da tiếp xúc (contact dermatitis)



Những Người Làm Trong Nhà Máy Hóa Học và Dược Phẩm

-      Enzyme, thuốc, và các loại bụi sinh học (biological dusts) có thể gây dị ứng mẫn cảm
-      Amoniac, chất tẩy trắng, và các hợp chất chloramine có thể gây viêm màng nhầy mũi 

Nhân Viên Vệ Sinh
Các loại chất tẩy trắng (bleach) và enzyme từ các chất tẩy rửa (detergent) có thể gây viêm da tiếp xúc hoặc bệnh suyễn      

Nhân Viên Ngành Điện,
Thợ Sửa Máy

Khói hàn có thể gây ung thư phổi     
 Benzen có thể gây viêm da tiếp xúc   

Công nhân Nông Trại, Công Nhân Bốc Xếp Bến Tàu, Công Nhân Xử Lý Bông Vải
-      Cỏ khô bị mốc meo trữ trong các kho có thể gây ra bệnh viêm mô phổi tăng mẫn cảm (hypersensitivity pneumonitis: tình trạng này hiện nay hiếm xảy ra)
-      Gia cầm, bụi cây có thể gây ra bệnh suyễn.

Người Trồng, Bán Hoa
Cây báo xuân (primula), cây thường xuân (ivy), và hoa loa kèn (lily) có thể gây bệnh viêm da tiếp xúc (contact dermatitis)

Thợ Cắt (Làm) Tóc
 
-      Hợp chất hữu cơ paraphenylenediamine trong thuốc nhuộm tóc và dung dịch tẩy trắng có thể gây ra bệnh viêm da tiếp xúc và chàm bội nhiễm (eczema).
-      Các hợp chất persulfate trong các dung dịch uốn tóc có thể gây rối loạn hô hấp, viêm da, hoặc chàm bội nhiễm.

Nhân Viên Phòng Thí Nghiệm
-      Vẩy bụi từ động vật, các thành phần trong nước miếng, hoặc protein của các loài chim có thể gây ra bệnh suyễn
-      Các độc tố từ vi khuẩn có thể gây ra bệnh suyễn
-      Hơi bốc ra từ dung môi và hơi cũng như sương từ các axit vô cơ có thể gây viêm màng nhầy mũi (rhinitis).

Công Nhân Xây Dựng

Crom (chromium) trong xi măng có thể gây ra bệnh viêm da tiếp xúc.

Nhân Viên Y Tế
Chất nhựa mủ (latex) trong găng tay, ống, và các thiết bị y tế có thể gây ra bệnh viêm da tiếp xúc.

Thợ Mỏ
-      Bụi than có thể gây ra các triệu chứng ở mũi hoặc bệnh phổi mãn tính
-      Hợp chất silic dioxyt (SiO2) có thể gây ra các biến chứng ở phổi.

Dược Sĩ
-      Bụi thuốc psyllium có thể gây viêm màng nhầy mũi
-      Tiếp xúc với thuốc kháng sinh (trụ sinh) có thể dị ứng gây mẫn cảm hoặc viêm da tiếp xúc

Thợ In
Thuốc nhuộm acrylic có thể gây ra bệnh viêm da tiếp xúc và phát ban.


Viêm Màng Nhầy Mũi hoặc Các Chứng Bệnh Dị Ứng Mũi do Nghề Nghiệp

Hắt hơi, chảy nước mũi (nasal discharge), sung huyết (congestion), và viêm màng nhầy mũi (rhinitis) ở nơi làm việc có thể là các dấu hiệu của bệnh nghề nghiệp.  Những nhân viên tiếp xúc với các loại thuốc, bụi gỗ, các hóa chất, kim loại, và các hợp chất hóa học tiêu diệt vi sinh vật (biocide) sẽ có nhiều nguy cơ mắc phải bệnh nghề nghiệp.  Viêm màng nhầy mũi do nghề nghiệp (occupational rhinitis) có thể đến trước bệnh suyễn nghề nghiệp (occupational asthma), do đó việc chẩn đoán sớm có thể ngăn ngừa các biến chứng trong tương lai.  Những người có nguy cơ cũng có thể phát triển bệnh viêm xoang (sinusitis), suy giảm chức năng khứu giác (olfactory dysfunction), và các rối loạn ở dây thanh âm (vocal cord).  Việc quản lý bệnh sau khi loại trừ chất gây dị ứng có thể bao gồm rửa mũi bằng dung dịch nước muối (saline), các loại thuốc steroid bôi (thoa, nhỏ mũi, nhỏ mắt), và các loại thuốc kháng histamin (antihistamine).

Bệnh Suyễn Nghề Nghiệp


Các Chất Gây Bệnh Suyễn Nghề Nghiệp Phổ Biến Nhất

Các phần tử trong không khí từ thực phẩm (đặc biệt từ cá)
Andehyt (Aldehyde)
Các động vật (đặc biệt các động vật trong phòng thí nghiệm)
Nhựa thông (colophony: đặc biệt dùng trong véc-ni (varnish), mực, và thùng nhạc cụ )
Bột mì và bụi hạt ngũ cốc
Các chất gây cháy bằng nhựa thông dùng trong kỹ nghệ hàn
Isocyanate (được sử dụng trong cao su urethane, polyurethane, keo dán, sơn và véc-ni, và việc sản xuất thuốc diệt cỏ)
Bụi gỗ


Các nhân viên (người lao động) thường xuyên tiếp xúc, hít vào, và trở nên mẫn cảm với một số chất trong không khí có thể phát triển bệnh suyễn nghề nghiệp (occupational asthma).  Sự tiếp xúc ở nơi làm việc là nguyên nhân gây ra 5% đến 15% trong tổng số các trường hợp bị bệnh suyễn ở những nước công nghiệp hóa.  Có trên 250 chất được báo cáo là nguyên nhân gây ra bệnh suyễn nghề nghiệp.  Thông thường, các nhân viên (người lao động) có nguy cơ sẽ phát triển chứng viêm màng nhầy mũi với tình trạng ho, thở khò khè và khó thở tiến triển chậm.  Bệnh suyễn nghề nghiệp có thể tiến triển trong vòng vài ngày đến vài tuần sau khi tiếp xúc với các chất gây dị ứng, hoặc sau nhiều năm tiếp xúc thường xuyên với các chất gây bệnh.  Những nhân viên (người lao động) đang có bệnh suyễn nhẹ đồng thời hút thuốc lá sẽ có nguy cơ gia tăng.  Có những trường hợp chưa được phát hiện và các chuyên gia cho rằng con số này rất lớn.  Sau khi trở nên mẫn cảm, những nhân viên (người lao động) này có thể gặp phải các phản ứng thậm chí sau khi tiếp xúc với số lượng chất gây dị ứng rất nhỏ.  Các chuyên gia tin rằng bệnh suyễn nghề nghiệp được chẩn đoán với con số ít hơn con số thực sự.  Một dấu hiệu có thể giúp ích cho việc chẩn đoán: bệnh nhân báo cáo rằng các triệu chứng được cải thiện vào cuối tuần hoặc vào những ngày nghỉ.

Tất cả bệnh nhân bị suyễn nên được điều trị theo các hướng dẫn hiện hành.  Nếu bệnh suyễn nghề nghiệp trở thành một chứng bệnh mãn tính, thì các bệnh nhân sẽ cần đến chế độ quản lý bệnh bằng thuốc.

Nghi Ngờ Dị Ứng Do Nghề Nghiệp

Các nhà điều tra sức khỏe nghề nghiệp đánh giá cao các ngành công nghệ có liên quan đến các chất gây dị ứng ở nơi làm việc và nên thường xuyên giám sát các biện pháp ngăn ngừa và đánh giá các mẫu không khí.  Những nơi làm việc này thường có các bác sĩ chăm sóc sức khỏe nghề nghiệp để thi hành các chương trình ngăn ngừa và phát hiện sớm các trường hợp bệnh mới.  Các biện pháp ngăn ngừa bao gồm kiểm tra phổi, da, và giáo dục nhân viên.  Các nghiệp chủ (employer) thường cung cấp các biện pháp kiểm soát môi trường chẳng hạn như thông gió đầy đủ, giày ống của thợ sơn, quạt hút hơi, quần áo bảo hộ, mặt nạ bảo vệ, mặt nạ phòng hơi độc, và kính che mắt.  Tuy nhiên, có những nhân viên (người lao động) có thể thực hiện theo cách của riêng họ để tiết kiệm thời gian hoặc để cảm thấy được thoải mái.  Ví dụ, những người thợ hàn có thể không sử dụng các thiết bị an toàn nếu họ cho rằng “họ đang làm một công việc rất đơn giản”, hoặc một nhân viên phòng thí nghiệm có thể nghĩ rằng mặc quần áo bảo hộ và các thiết bị bảo vệ chỉ làm mất thời gian.

Các dược sĩ, với kỹ năng phỏng vấn giỏi và dễ tiếp xúc, có thể là các nhà lâm sàng đầu tiên xem xét các trường hợp bị dị ứng do nghề nghiệp.  Dược sĩ có thể đóng vai trò tiền tiêu bằng cách tìm hiểu về các ngành công nghệ trong khu vực của họ và các chất gây dị ứng phổ biến có liên quan.  Đặt câu hỏi về nghề nghiệp của bệnh nhân khi thu thập các thông tin cơ bản không chỉ giúp tạo bầu không khí thư giãn, mà nó còn giúp phát hiện các bệnh nhân có nguy cơ.  Sau khi bệnh nhân giải thích về nghề nghiệp của họ, hãy bước thêm một bước trong tiến trình đặt câu hỏi, và hỏi:

-      Bệnh nhân giải thích về tính chất công việc của họ
-      Đặc biệt về các chất hóa học, sơn, bụi, hoặc khói
-      Các triệu chứng có trở xấu ở nơi làm việc, đầu giờ chiều, cải thiện vào cuối tuần, hoặc ngày nghỉ không
-      Những người làm chung có cùng các triệu chứng không.  Nếu tình trạng dị ứng do nghề nghiệp được phát hiện và thành lập, thì cách tốt nhất – nhưng rõ ràng không phải là cách dễ dàng nhất – là bệnh nhân phải thay đổi công việc.  Việc điều trị các triệu chứng thường sẽ cần đến.

Kết Luận:

Can thiệp đúng lúc đối với các tình trạng dị ứng nghề nghiệp bị nghi ngờ - bắt đầu với việc phòng tránh các chất gây dị ứng – là một vấn đề rất quan trọng, vì các triệu chứng có thể đảo ngược được nếu được phát hiện sớm.  Một cách đáng tiếc là, sau khi tình trạng dị ứng do nghề nghiệp được thành lập, việc tránh xa môi trường hoặc tránh xa các chất gây bệnh có thể không giúp cải thiện các triệu chứng.  Sau khi các nhân viên (người lao động) biết cách tránh xa các chất gây dị ứng đặc biệt, thì thuốc và các biện pháp kiểm soát triệu chứng sẽ trở nên rất quan trọng trong việc ngăn ngừa bệnh mãn tính. (Trở về đầu trang)



TÍNH QUAN TRỌNG CỦA CHẤT SẮT VÀ VIỆC SỬ DỤNG CÁC THỰC PHẨM CHỨC NĂNG CHỨA CHẤT SẮT

Chất Sắt Là Gì?

Sắt là một khoáng chất rất quan trọng cho sự phát triển của tất cả tế bào.  Nó được cần đến để giúp các hồng cầu (red blood cell) vận chuyển khí oxy đi khắp cơ thể.  Hầu như 2 phần 3 hàm lượng chất sắt trong cơ thể được tìm thấy trong hemoglobin, một loại protein trong các hồng cầu.  Tình trạng thiếu chất sắt (iron deficiency) là tình trạng thiếu dinh dưỡng đứng đầu trên thế giới, và là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra chứng thiếu máu (anemia) ở Hoa Kỳ.

Chất Sắt Trong Chế Độ Ăn Của Chúng Ta

Có 2 dạng chất sắt dinh dưỡng.  Chất sắt chứa nhóm heme (heme iron) được cơ thể hấp thụ tốt hơn so với chất sắt không chứa nhóm heme (non-heme iron).  Chất sắt chứa nhóm heme được tìm thấy trong các sản phẩm từ động vật, chẳng hạn như thịt đỏ (red meat), cá, và thịt gia cầm.  Chất sắt không chứa nhóm heme được tìm thấy trong các sản phẩm từ thực vật, chẳng hạn như đậu lăng, các loại đậu, và ngũ cốc được tăng cường (fortified cereal); loại chất sắt này là nguồn cung cấp chất sắt dinh dưỡng chính.



Bạn Có Nguy Cơ Bị Thiếu Hụt Chất Sắt Không ?

Các nguyên nhân chính gây ra tình trạng thiếu hụt chất sắt là do không tiêu thụ đủ số lượng chất sắt dinh dưỡng, nhu cầu về chất sắt gia tăng, khả năng hấp thụ kém, và mất máu.  Những người có nguy cơ bị thiếu chất sắt bao gồm các vận động viên, phụ nữ trẻ tuổi, phụ nữ mang thai, những người cao tuổi, và những người không ăn thịt.  Vận động viên thường có nhiều nhu cầu về chất sắt do mức độ tập thể dục cao, do đó kích thích sự sản sinh hồng cầu nhiều hơn.  Những phụ nữ vị thành niên thường không tiêu thụ đủ chất sắt trong chế độ ăn để bù đắp lại số lượng kinh nguyệt bị mất đi.  Quá trình mang thai làm tăng nhu cầu chất sắt từ người mẹ và thai nhi.  Việc tiêu thụ chất sắt dinh dưỡng thường giảm xuống ở những người cao tuổi do chế độ ăn uống không đủ chất.  Những người không ăn thịt (vegetarian) có nhiều nguy cơ bị thiếu hụt chất sắt vì họ chỉ ăn các sản phẩm từ thực vật (nghĩa là, chỉ tiêu thụ chất sắt không chứa nhóm heme).



LIỀU LƯỢNG DINH DƯỠNG ĐƯỢC ĐỀ XUẤT CHO CHẤT SẮT

Độ Tuổi
Đàn Ông
(mg/ngày)
Phụ Nữ
(mg/ngày)
Mang Thai
(mg/ngày)
Cho Con Bú
(mg/ngày)
14 – 18
11
15
27
10
19 – 50
8
18
27
9
51+
8
8



Các Triệu Chứng

Các triệu chứng thông thường của tình trạng thiếu chất sắt bao gồm mệt mỏi, giảm hiệu suất làm việc và thành tích học tập, cảm giác bị lạnh hoặc khó duy trì thân nhiệt bình thường, suy giảm chức năng miễn dịch, khó thở, và đau ngực.  Mệt mỏi là triệu chứng phổ biến nhất; tuy nhiên, nó có thể không liên quan đến chứng thiếu máu do thiếu chất chất sắt, vì nhiều chứng bệnh, tình trạng bệnh lý, hoặc các chọn lựa về lối sống có thể gây mệt mỏi.  Một số cá nhân bị thiếu chất sắt có thể không xuất hiện các triệu chứng.  Xét nghiệm máu và đánh giá của bác sĩ được đề xuất để chẩn đoán chính xác tình trạng thiếu chất sắt.

Chẩn Đoán Tình Trạng Thiếu Chất Sắt

Nếu bạn có bất kỳ triệu chứng nào được mô tả trên đây hoặc nếu bạn quan tâm đến việc tiêu thụ đủ chất sắt, thì bạn nên thảo luận với bác sĩ.  Chỉ có bác sĩ mới có thể xác định được bạn có bị chứng thiếu máu do thiếu chất sắt hay không.  Hai xét nghiệm máu phổ biến nhất để đánh giá chứng thiếu máu do thiếu chất sắt là xét nghiệm hemoglobin và hematocrit (phần trăm số lượng hồng cầu trong thể tích máu tổng cộng).  Ngoài ra, bác sĩ có thể yêu cầu thêm xét nghiệm đếm tế bào máu (complete blood count) để xác định số lượng hồng cầu tổng cộng và xét nghiệm hàm lượng ferritin trong máu của bạn (ferritin là một loại protein trong cơ thể được sử dụng để lưu trữ chất sắt).  Bác sĩ cần phải xác định nguyên nhân gây ra chứng thiếu máu do thiếu chất sắt và đề xuất kế hoạch điều trị tốt nhất.

Các Loại Thực Phẩm Chức Năng Chứa Chất Sắt

Các thực phẩm chức năng chứa chất sắt có thể được sử dụng để điều trị chứng thiếu máu do thiếu chất sắt.  Điều quan trọng là phải sử dụng các loại thực phẩm chức năng này theo sự hướng dẫn của bác sĩ; các thông tin dưới đây sẽ giúp cho bạn hiểu rõ hơn bạn có thể kỳ vọng gì từ việc sử dụng các thực phẩm chức năng chứa chất sắt và các hướng dẫn sử dụng chúng hợp lý.  Một loại đa vitamin (multivitamin) thường không được đề xuất như một chọn lựa điều trị vì nó có thể không chứa đủ số lượng chất sắt cần thiết.  Ngoài ra, các khoáng chất khác, chẳng hạn như canxi (calcium), photpho (phosphorus), và magie (magnesium), có thể làm giảm khả năng hấp thụ chất sắt.

Có vô số các thương hiệu thực phẩm chức năng chứa chất sắt uống bằng miệng được bán không cần toa bác sĩ (over the counter), và các dạng khác bao gồm ferrous sulfate, carbonyl iron, và chất sắt chứa nhóm heme.  Các dạng thực phẩm chức năng khác nhau thay đổi tùy theo khả năng hấp thụ và các tác dụng phụ, đặc biệt là các tác dụng phụ về đường tiêu hóa.  Các tác dụng phụ về đường tiêu hóa phổ biến nhất là buồn nôn, táo bón, và tiêu chảy.  Các tác dụng phụ này thường liên quan đến liều lượng sử dụng và thường có thể được kiểm soát bằng cách điều chỉnh liều lượng và sử dụng các loại thuốc đặc trị cho các triệu chứng.



THỰC PHẨM, THỨC UỐNG, THUỐC, VÀ CÁC YẾU TỐ KHÁC ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG HẤP THỤ CHẤT SẮT UỐNG BẰNG MIỆNG

Ức Chế Hấp Thụ

Gia Tăng Hấp Thụ
-      Cà phê, trà, sữa, ngũ cốc, chất xơ dinh dưỡng, các thức uống có ga
-      Đa vitamin hoặc các thực phẩm chức năng chứa canxi, kẽm, magie hoặc đồng
-      Thuốc kháng axit (antacids), thuốc kháng histamine, và thuốc ức chế bơm proton
-      Các loại thuốc kháng sinh quinolone và tetracycline

-      Vitamin C
-      Các thực phẩm có tính axit (ví dụ, sốt cà)
-      Thực phẩm chức năng chứa chất sắt không có lớp bọc đường
-      Sử dụng thực phẩm chức năng chứa chất sắt khi bụng đói

Các Thực Phẩm Chức Năng Feosol

Feosol có 3 dạng thực phẩm chức năng chứa chất sắt không cần đơn bác sĩ để phù hợp với khả năng tài chính và lối sống của mỗi người.  Dạng Feosol thế hệ mới giúp bạn dễ dàng so sánh và chọn lựa loại chất sắt mà bạn cần đến.

Feosol Nguyên Thủy

- Chứa chất sắt dạng ferrous sulfate (FeSO4)
- Dạng phổ biến và kinh tế nhất

Dạng này chứa 65 mg nguyên tố sắt, tương đương một viên 325 mg, cung cấp 360% số lượng dinh dưỡng được đề xuất (RDA), là một loại thực phẩm chức năng chứa chất sắt có hiệu lực cao.

Feosol Phóng Thích Tự Nhiên

- Chứa carbonyl iron, một dạng sắt nguyên chất
- Dễ chịu đối với cơ thể

Không đòi hỏi hợp chất phụ hoặc lớp bọc đường để giúp khả năng hấp thụ chất sắt từ từ.  Loại chất sắt này thường được điều tiết bởi cơ thể, do đó bao tử phải tiết ra axit để giúp hấp thụ.  Nhiều người cảm thấy dạng thuốc này dễ dung nạp, là loại thay thế nhẹ hơn cho các dạng truyền thống khác.  Dạng này chứa 45 mg chất sắt, cung cấp 250% số lượng dinh dưỡng được đề xuất.

Feosol Hoàn Thiện Với Bifera®

- Chứa chất sắt có nhóm heme và không có nhóm heme
- Dễ chịu hơn đối với cơ thể, giảm thiểu các tác dụng phụ như táo bón và buồn nôn

Dạng này chứa 28 mg chất sắt, 22 mg phức chất sắt polysaccharide và 6 mg sắt polypeptit chứa nhóm heme (heme iron polypeptide), cung cấp 155% số lượng dinh dưỡng được đề xuất.  Dạng này tạo sự thuận lợi là có thể tiêu thụ với thực phẩm hoặc không cần thực phẩm; vì nó bao gồm sắt chứa nhóm heme, những chất thêm vào như vitamin C sẽ không cần thiết để gia tăng khả năng hấp thụ.

Các Cân Nhắc Đặc Biệt Khi Tiêu Thụ Thực Phẩm Chức Năng Chứa Chất Sắt

Một số loại thực phẩm, thức uống, và các yếu tố khác ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ chất sắt, đặc biệt là dạng không chứa nhóm heme.  Các sản phẩm chứa chất sắt uống bằng miệng có thể ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ của một số loại thuốc kháng sinh, do đó nên sử dụng các loại thuốc này cách nhau trên 2 tiếng.  Các loại thuốc ức chế bơm proton ảnh hưởng đến vitamin C và các chức năng của nó bên trong dạ dày; do đó, chúng có thể ảnh hưởng đến mức độ hấp thụ chất sắt.

Nói Chuyện Với Bác Sĩ Hoặc Dược Sĩ

Bạn không nên sử dụng các loại thực phẩm chức năng chứa chất sắt nếu chưa tham khảo với bác sĩ hoặc dược sĩ để có được sự chẩn đoán chính xác.  Các bác sĩ hoặc dược sĩ có thể giúp bạn chọn lựa các sản phẩm chứa chất sắt thích hợp và có thể trả lời bất kỳ câu hỏi nào của bạn.  Luôn luôn thông báo cho bác sĩ hoặc dược sĩ biết nếu bạn đang sử dụng bất kỳ loại thuốc hoặc thực phẩm chức năng nào, vì chúng có thể ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ chất sắt hoặc loại thuốc đặc trị nào.

CẢNH BÁO: Vô tình sử dụng quá liều các sản phẩm chứa chất sắt là một nguyên nhân đứng đầu gây ngộ độc nguy hiểm đến tính mạng ở các trẻ em dưới 6 tuổi.  Giữ các sản phẩm này ngoài tầm với của trẻ em.  Trong trường hợp vô tình bị quá liều, điện thoại (đến khám) bác sĩ hoặc trung tâm kiểm soát chất độc ngay.

Feosol không được đề xuất để chẩn đoán, điều trị, chữa khỏi, hoặc ngăn ngừa bất kỳ chứng bệnh nào. (Trở về đầu trang)


Nguồn (Source):