About

Friday, June 7, 2013

BỆNH TĂNG NHÃN ÁP (GLAUCOMA) - Do LQT Biên Dịch


SỬ DỤNG THUỐC

Hầu như tất cả các loại thuốc trị bệnh tăng nhãn áp đều được bác sĩ kê đơn nhằm giúp hạ áp suất trong mắt.

Thuốc Chặn Beta (Beta-blockers)

Các loại thuốc bôi (thoa, nhỏ mắt) chặn beta là những loại thuốc thường được kê đơn nhiều nhất để trị bệnh tăng nhãn áp.  Chúng có tác dụng hạ áp suất bên trong mắt bằng cách ức chế sự sản sinh thể dịch nước.

Các Nhãn Hiệu.  Những loại thuốc này được phân loại thành thuốc chặn beta không chọn lọc hoặc chọn lọc (nonselective or selective beta-blocker):

-      Thuốc chặn beta không chọn lọc.  Timolol (Timoptic, Betimol) là một loại thuốc chặn beta tiêu chuẩn được sử dụng nhiều năm.  Các loại thuốc chặn beta không chọn lọc thế hệ mới bao gồm levobunolol (Betagan), carteolol (Ocupress), và metipranolol (OptiPranolol).  Một vài nghiên cứu cho thấy rằng một số loại thuốc này mang lại hiệu quả cao hơn so với thuốc timolol với các tác dụng phụ tương tự.
-      Thuốc chặn beta chọn lọc.  Betaxolol (Betoptic) và levobetaxolol (Betaxon) là các loại thuốc chặn beta chọn lọc.  Các loại thuốc này tỏ ra có ít tác dụng phụ đối với tim hơn so với các loại thuốc chặn beta không chọn lọc, mặc dù chúng vẫn có nhiều tác dụng phụ.  Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng các loại thuốc này có khả năng làm chậm sự tiến triển của bệnh hơn so với thuốc timolol, mặc dù timolol tỏ ra hiệu quả hơn trong việc làm giảm áp suất trong máu.  Các loại thuốc chặn beta chọn lọc cũng có thể có các đặc tính bảo vệ thần kinh.

Tất cả các loại thuốc chặn beta đều tỏ ra hiệu quả và thường dễ dung nạp.  Vì chúng ít gây khó chịu ở mắt hơn so với nhiều loại thuốc trị bệnh tăng nhãn áp khác, cho nên các loại thuốc này thường được chỉ định cho các bệnh nhân mà họ cũng bị bệnh đục thủy tinh thể (cataract: cườm mắt).

Các Tác Dụng Phụ và Biến Chứng.  Sau khi thuốc chặn beta được sử dụng, chỉ có một số lượng nhỏ thuốc được giác mạc hấp thụ.  Đa số thành phần thuốc sẽ đi vào máu.  Do đó, các loại thuốc này có thể gây ra các tác dụng phụ ở các phần khác của cơ thể (tác dụng phụ hệ thống):

-      Các tác dụng phụ hệ thống có thể bao gồm giảm cảm giác ham muốn tình dục, mệt mỏi, trầm cảm, lo âu, và khó thở.
-      Các thuốc chặn beta sẽ ảnh hưởng đến tim.  Chúng làm giảm nhịp tim và hạ huyết áp.
-      Các thuốc chặn beta có thể làm cho bệnh suyễn nghiêm trọng hoặc các chứng bệnh về phổi trở xấu hơn.
-      Bệnh nhân chuyển sang sử dụng thuốc chặn beta thay cho các loại thuốc trị tăng nhãn áp khác có thể sẽ cảm thấy bị tăng áp suất mắt đột ngột.  Điều quan trọng là phải kiểm tra áp suất mắt ngay sau khi ngưng sử dụng các loại thuốc khác này.
-      Sau khi sử dụng các loại thuốc chặn beta để điều trị cho một mắt, thì mắt còn lại cũng sẽ cảm thấy giảm được áp suất trong mắt ít hơn, nhưng vẫn ở mức độ đáng kể.

Tương Tác với Các Loại Thuốc Khác.  Các tác dụng của thuốc trị mắt có thể tương tác với các loại thuốc uống bằng miệng khác, chẳng hạn như thuốc chặn beta, thuốc chặn kênh canxi (calcium-channel blockers), hoặc thuốc chống loạn nhịp tim quinidine.  Những người bị bệnh tiểu đường (đái tháo đường) sử dụng insulin hoặc các loại thuốc giảm glucose trong máu (hypoglycemic medications) nên lưu ý rằng các tác dụng phụ của thuốc chặn beta có thể che giấu các triệu chứng của tình trạng giảm glucose trong máu (hypoglycemia).

Các Loại Thuốc Prostaglandin

Prostaglandin là những hợp chất giống kích thích tố (hormone) có tác dụng mở các mạch máu.  Các loại thuốc có đặc tính giống prostaglandin giúp làm tăng dòng chảy ra của thể dịch nước trong mắt.  Khả năng dẫn lưu của thể dịch nước giúp hạ áp suất trong mắt (intraocular pressure).

Các Nhãn HiệuLatanoprost (Xalatan) và unoprostone (Rescula) là các nhãn hiệu thuốc tiêu chuẩn.  Latanoprost là loại thuốc prostaglandin đầu tiên được chấp thuận như phương pháp điều trị đầu tiên khi mắt bị tăng áp suất.  Hai loại thuốc prostaglandin thế hệ mới, travoprost (Travatan) và bimatoprost (Lumigan), có thể giúp một số bệnh nhân không có phản ứng khả quan đối với thuốc latanoprost.  Các loại thuốc này cũng có thể giúp cho các bệnh nhân bị chứng tăng nhãn áp thấp (normal-tension glaucoma).

Các Tác Dụng Phụ.  Những loại thuốc này không làm chậm nhịp tim và cũng tỏ ra an toàn cho những người mắc bệnh suyễn.  Các tác dụng phụ bao gồm ngứa, nổi đỏ, và cảm giác nóng rát trong lúc sử dụng.  Tình trạng đau khớp và đau cơ cũng có thể xảy ra.  Tất cả các loại thuốc này có thể làm thay đổi vĩnh viễn màu mắt, từ xanh dương hoặc xanh lá cây sang màu nâu.

Thuốc Ức Chế Men Carbonic Anhydrase

Các loại thuốc ức chế men carbonic anhydrase (carbonic anhydrase inhibitor - CAI) có tác dụng làm giảm áp suất máu bằng cách hạ giảm số lượng chất dịch trong các khoang mắt.  Các loại thuốc này được dùng cho bệnh tăng nhãn áp nếu các loại thuốc khác không mang lại hiệu quả.  Chúng có thể được sử dụng kết hợp với các loại thuốc khác.

Các loại thuốc ức chế men carbonic anhydrase cũng có thể cải thiện khả năng lưu thông máu trong võng mạc (retina) và dây thần kinh thị giác (các thuốc chặn beta không có tác dụng này).  Việc cải thiện khả năng lưu thông máu có thể làm cho căn bệnh không trở xấu thêm.

Các Nhãn Hiệu và Các Tác Dụng Phụ.  Các loại thuốc ức chế men carbonic anhydrase được sản xuất dưới nhiều dạng:

-      Dạng thuốc nhỏ mắt (eye drop) bao gồm dorzolamide (Trusopt) và brinzolamide (Azopt).  Có khoảng 10% số bệnh nhân báo cáo bị mệt mỏi, ngứa ở mắt, và mất khẩu vị khi sử dụng thuốc dorzolamide.  Các thay đổi về khẩu vị có thể xảy ra.  Brinzolamide là một loại thuốc thế hệ mới, nó có thể giảm được tình trạng ngứa mắt nhiều hơn so với thuốc dorzolamide.
-      Các dạng thuốc uống bằng miệng bao gồm acetazolamide (Diamox), methazolamide (Neptazane), và dichlorphenamide (Daranide).  Mặc dù các dạng thuốc này tỏ ra hiệu quả hơn so với dạng thuốc nhỏ mắt, nhưng chúng có nhiều tác dụng phụ hơn, do đó hiếm khi được sử dụng để điều trị dài hạn.  Các dạng thuốc uống bằng miệng có các tác dụng phụ gây khó chịu, bao gồm đi tiểu thường xuyên, trầm cảm, các vấn đề về bao tử, mệt mỏi, xuống cân, suy giảm chức năng tình dục, và ở các trẻ sơ sinh, mất khả năng tăng trưởng.  Trong các trường hợp hiếm, sử dụng dài hạn các dạng thuốc uống bằng miệng có thể gây ra bệnh thiếu máu và các vấn đề nghiêm trọng về thận, bao gồm nguy cơ bị sỏi thận.  Các loại thuốc này còn có thể gây ra phản ứng độc hại khi sử dụng kết hợp aspirin với những liều lượng lớn.

Thuốc Kích Thích Thụ Thể Adrenalin

Các loại thuốc kích thích thụ thể adrenalin (adrenergic agonist) kích hoạt các cơ ở mắt có tác dụng làm giãn đồng tử (con ngươi), do đó làm tăng dòng chảy ra của dịch thể nước.  Các loại thuốc thế hệ mới có tên là alpha 2-adrenergic agonist giúp giảm bớt sự sản sinh thể dịch nước đồng thời làm tăng khả năng dẫn lưu qua lộ trình khác đến lưới sợi mô liên kết.

Apraclonidine (Iopidine) và brimonidine (Alphagan) là các loại thuốc alpha 2-adrenergic agonist.  Hai loại thuốc này thường được dùng trước khi phẫu thuật cho bệnh tăng nhãn áp, nhưng có thể được sử dụng như phương pháp điều trị chính khi được kết hợp với các loại thuốc chặn beta hoặc các loại thuốc tiêu chuẩn khác.

Brimonidine đang tỏ ra đặc biệt hiệu quả cho việc trị liệu dài hạn.  (apraclonidine được dùng cho việc điều trị ngắn hạn).  Thuốc này cũng có thể có các đặc tính bảo vệ thần kinh và có thể an toàn hơn các loại thuốc khác trong thời gian mang thai và cho các bệnh nhân bị suyễn.

Các tác dụng phụ phổ biến nhất của thuốc brimonidine và apraclonidine là khô miệng và khẩu vị bị thay đổi.  Hai loại thuốc này cũng thường kích thích phản ứng dị ứng gây đỏ, ngứa ở mắt và mi mắt.  Thuốc brimonidine ít gây dị ứng hơn so với thuốc apraclonidine.  Tuy nhiên, không giống như thuốc apraclonidine, brimonidine có thể gây ra tình trạng hôn mê và hạ huyết áp nhẹ.

Thuốc Thu Hẹp Đồng Tử (Pilocarpine và Các Loại Khác)

Các loại thuốc thu hẹp đồng tử (miotic), còn được gọi là thuốc có tác dụng giống acetylcholine (cholinergic agonist), giúp thu hẹp các cơ ở tròng đen (iris) và thu nhỏ đồng tử mắt.  Tác dụng này giúp kéo tròng đen ra khỏi lưới sợi mô liên kết (trabecular meshwork) và cho phép dịch thể nước chảy ra ngoài qua các kênh dẫn lưu, làm giảm áp suất bên trong khoang trước của mắt.

Các Nhãn HiệuPilocarpine (Pilocar, Adsorbocarpine, Almocarpine, Isoptocarpine, Ocusert) là loại thuốc trị bệnh tăng nhãn áp được sử dụng rộng rãi nhất trước khi thuốc timolol được xem xét sử dụng.  Đây là loại thuốc thu hẹp đồng tử được ưa chuộng.  Tuy nhiên, vì thuốc pilocarpine được cơ thể hấp thụ tương đối nhanh, cho nên bệnh nhân phải sử dụng loại thuốc này vài lần mỗi ngày; do đó có nhiều người không sử dụng thuốc một cách đều đặn.  Một dạng phối hợp giữa timolol hoặc latanoprost với pilocarpine tỏ ra hiệu quả hơn so với việc sử dụng riêng lẻ từng loại.  Carbachol cũng là một loại thuốc thu hẹp đồng tử.

Epinephrine (adrenaline) và các chất dẫn xuất của nó là các loại thuốc ức chế acetylcholine thế hệ trước (older anticholinergic).  Dipivefrin (Dipivefrin), một dạng epinephrine thế hệ mới, sẽ không có tác dụng cho đến khi nó phản ứng với các men (enzyme) trong giác mạc.  Thuốc này tỏ ra hiệu quả khi sử dụng ở liều lượng thấp và gây ra một vài tác dụng phụ hệ thống.

Các Tác Dụng Phụ.  Các tác dụng phụ bao gồm:

-      Chảy nước mắt, đau vùng lông mày, đau mắt, và các phản ứng dị ứng.
-      Thuốc thu hẹp đồng tử có thể gây cận thị.  Bệnh nhân cũng có thể nhìn không rõ và có thể không nhìn thấy trong phòng tối hoặc vào ban đêm, do đó việc điều khiển xe có thể rất nguy hiểm.
-      Nhóm thuốc thu hẹp đồng tử ức chế men cholinesterase (anticholinesterase miotics) sẽ làm tăng nguy cơ phát triển bệnh đục thủy tinh thể mắt (cataract: cườm mắt), do đó các loại thuốc này được dùng chủ yếu cho các bệnh nhân đã chữa khỏi bệnh cườm mắt.  Tình trạng tách màng võng mạc (retinal detachment) là một tác dụng phụ không phổ biến nhưng nguy hiểm ở những cá nhân có nhiều nguy cơ.  Sử dụng quá nhiều những loại thuốc thu hẹp đồng tử này có thể gây ra các phản ứng gây hại, bao gồm chứng co giật (convulsion), liệt cơ (muscular paralysis), và thậm chí tử vong do suy giảm hô hấp.
-      Epinephrine (adrenaline) có thể gây đau rát ở mắt, giãn đồng tử, và các phản ứng dị ứng.  Thỉnh thoảng nó có thể gây ra tình trạng lo âu và nhức đầu.  Các tác dụng phụ hiếm bao gồm cao huyết áp và rối loạn nhịp tim.  Hiện nay, loại thuốc này hiếm khi được kê đơn.  Mặc dù dipivefrin, một dạng thuốc epinephrine thế hệ mới, có ít tác dụng phụ hệ thống hơn, nhưng nó vẫn gây ra các vấn đề ở mắt tương tự như các loại thuốc epinephrine khác.

Quản Lý Các Chế Độ Sử Dụng Thuốc

Các nghiên cứu cho thấy rằng có nhiều bệnh nhân bỏ qua liều sử dụng thuốc trị bệnh tăng nhãn áp, thỉnh thoảng do các phản ứng phụ và thỉnh thoảng do nhầm lẫn hoặc các chế độ thuốc mất nhiều thời gian.  Bỏ qua một vài liều sử dụng có thể làm tăng đáng kể tình trạng mất thị lực.  Điều quan trọng là các bệnh nhân phải nói cho bác sĩ biết nếu họ không sử dụng thuốc một cách đều đặn.  Nếu không, bác sĩ có thể gia tăng liều sử dụng, như thế có thể gây ra các tác dụng phụ ngoài ý muốn.

Các bệnh nhân không sử dụng thuốc trị tăng nhãn áp đều đặn sẽ có nhiều nguy cơ bị mù.  Nếu bạn có vấn đề về việc sử dụng thuốc hoặc không làm theo chế độ liều sử dụng, thì hãy thảo luận với bác sĩ của bạn.

Các Gợi Ý Cho Việc Quản Lý Chế Độ Sử Dụng Thuốc

-      Những nhà sản xuất thuốc sử dụng nắp lọ thuốc có màu, ví dụ màu vàng cho thuốc timolol, màu xanh lá cây cho thuốc pilocarpine, để giúp tránh tình trạng lầm lẫn.  Bệnh nhân nên tạo ra một biểu đồ sử dụng mỗi loại thuốc bằng màu sắc.
-      Các loại máy định giờ điện tử (electronic timer) nhỏ được bán trên thị trường có tác dụng báo giờ sử dụng thuốc cho bệnh nhân.  Thời gian sử dụng các loại thuốc phối hợp này rất quan trọng.
-      Một số bệnh nhân có thể là ứng viên cho các dạng thuốc đơn kết hợp hai loại thuốc, chẳng hạn như cosopt, chứa dorzolamide và timolol.  Loại thuốc này chỉ cần nhỏ 2 lần mỗi ngày, mỗi lần 1 giọt.  Tuy nhiên, đối với các bệnh nhân cần thêm các loại thuốc trị tăng nhãn áp, họ sẽ phải sử dụng hai loại thuốc này tách riêng ra.
-      Khi sử dụng bất kỳ loại thuốc nào trong một thời gian dài, thì đều có thể xuất hiện các tác dụng phụ.  Nếu các tác dụng trở nên nghiêm trọng, bệnh nhân nên thảo luận với bác sĩ để giảm bớt liều sử dụng hoặc thử các loại thuốc khác.

Sử dụng Thuốc Nhỏ Mắt.  Một lý do phổ biến mà thuốc không có tác dụng là do bệnh nhân không sử dụng đúng quy cách.  Bệnh nhân nên yêu cầu bác sĩ nhãn khoa (ophthalmologist) giám sát trong lúc họ tự nhỏ thuốc vào mắt để đảm bảo tiến trình này được thực hiện đúng cách.  Sau đây là một số bước được đề xuất:

-      Nếu bạn sử dụng cả hai loại thuốc mỡ và thuốc nhỏ mắt, hãy sử dụng thuốc nhỏ mắt trước.
-      Rửa sạch tay trước khi sử dụng thuốc nhỏ mắt
-      Dốc bình thuốc xuống.
-      Nghiêng đầu và dùng một tay kéo mi mắt dưới xuống để tạo thành hình một cái bao.
-      Dùng tay kia giữ bình thuốc gần với mắt.  Đừng để bình thuốc chạm vào mắt hoặc mi mắt.
-      Sau khi nhỏ giọt thuốc vào mắt, thì nhắm mắt lại hoặc dùng ngón trỏ ấn vào góc mắt gần mũi.  Nhẹ nhàng đưa mi mắt dưới lên trên cho đến khi mắt nhắm lại.  Nhắm mắt ít nhất khoảng 1 phút.  Điều này giúp cho thuốc không chảy ra ngoài.
-      Chờ ít nhất 5 phút trước khi nhỏ thêm thuốc hoặc sử dụng loại thuốc khác.

Trị Liệu Bằng Thuốc cho Bệnh Tăng Nhãn Áp Góc Đóng Cấp Tính

Bệnh tăng nhãn áp góc đóng cấp tính (acute closed-angle glaucoma) là một trường hợp bệnh khẩn cấp.  Các bác sĩ có thể sử dụng một dạng phối hợp của hai hoặc nhiều loại thuốc trị tăng nhãn áp để giảm áp suất mắt một cách nhanh chóng trước khi nó có thể phá hủy dây thần kinh thị giác và gây ra tình trạng mất thị lực.  Apraclonidine (Iopidine) là một loại thuốc mạnh được dùng trước và sau khi phẫu thuật bằng tia laze để ngăn ngừa tình trạng tăng áp suất thể dịch trong mắt và tỏ ra hiệu quả hơn so với các loại thuốc khác.  Bên cạnh các loại thuốc tiêu chuẩn, các bác sĩ cũng có thể sử dụng thuốc glycerin (Glyrol, Osmoglyn) uống bằng miệng hoặc thuốc mannitol hoặc acetazolamide truyền qua tĩnh mạch.  Phẫu thuật hầu như luôn luôn được tiến hành sau khi áp suất đã được giảm xuống.