About

Saturday, June 1, 2013

BỆNH TĂNG NHÃN ÁP (GLAUCOMA) - Do LQT Biên Dịch


ĐIỀU TRỊ

Hiện chưa có cách chữa khỏi bệnh tăng nhãn áp, nhưng phương pháp điều trị có thể giúp trì hoãn diễn tiến bệnh lý.  Đa số các phương pháp điều trị cho bệnh tăng nhãn áp tập trung vào phương án làm giảm áp xuất trong mắt và những thay đổi của áp suất.  Việc điều trị sớm bằng thuốc, phẫu thuật, hoặc cả hai hầu như luôn luôn có thể duy trì được mức áp suất an toàn của thể dịch nước, vì thế ngăn ngừa được tình trạng phá hủy thần kinh thị giác và tình trạng mù.

Quyết Định Bắt Đầu Điều Trị

Nhiều người bị cao áp suất trong mắt nhưng không có dấu hiệu bị hủy hoại thần kinh.  Trong vòng 20 năm, chỉ có khoảng 10 – 30% trong số những người này thực sự phát triển bệnh tăng nhãn áp.  Tuy nhiên, sau khi bệnh tăng nhãn áp đã phá hủy các sợi thần kinh thị giác, không có phương pháp trị liệu nào có thể làm đảo ngược được tình trạng hủy hoại này.

Tuy nhiên, không phải tất cả những người có dấu hiệu ban đầu bị tăng nhãn áp (tăng áp suất trong mắt hoặc tăng nhãn áp thấp) đều phát triển tình trạng phá hủy thần kinh thị giác và các vấn đề nghiêm trọng về thị lực, cũng như không có phương pháp điều trị ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh ở một số bệnh nhân.  Các loại thuốc được dùng cho bệnh tăng nhãn áp cũng có thể gây ra những tác dụng phụ và nguy cơ nghiêm trọng.

Một số bác sĩ đề xuất phương pháp điều trị chỉ dành cho những người có các dấu hiệu ban đầu của bệnh tăng nhãn áp, mà những người này có các yếu tố nguy cơ bị bệnh nghiêm trọng và mất thị giác (giác mạc mỏng, tỷ lệ khu vực trung tâm/đĩa thị giác lớn, cao tuổi, và tăng áp suất).

Các Cân Nhắc về Phương Pháp Điều Trị Bằng Thuốc

Có một số loại thuốc hiệu quả được dùng để điều trị bệnh tăng nhãn áp.  Các loại thuốc này giúp giảm áp suất trong mắt nhưng tất cả đều có một số tác dụng phụ ảnh hưởng đến các bộ phận khác của cơ thể.  Một số tác dụng phụ có thể rất nghiêm trọng.  Nhiều loại thuốc được dùng cho bệnh tăng nhãn áp cũng tương tác với các loại thuốc phổ biến dùng cho các tình trạng bệnh lý khác.  Để giải quyết những vấn đề này, nhiều bệnh nhân đòi hỏi sử dụng nhiều loại thuốc.  Kết quả là, chỉ có khoảng 1 nửa số bệnh nhân làm theo các phương pháp điều trị.

Các bác sĩ thường đề xuất sử dụng các loại thuốc bôi (thoa, nhỏ mắt) (chẳng hạn các loại thuốc nhỏ mắt hoặc thuốc mỡ) trước tiên.

-      Các loại thuốc nhỏ mắt (thoa, bôi) chặn beta là các loại thuốc được sử dụng đầu tiên, phổ biến nhất là timolol (Timoptic).  Các loại thuốc chặn beta (beta-blocker) thế hệ mới bao gồm betaxolol (Betoptic), levobunolol (Betagan), carteolol (Ocupress), và metipranolol (OptiPranolol).  Timolol đã được sử dụng nhiều năm, và những loại thuốc mới này cũng dễ dung nạp.
-      Các nhóm thuốc nhỏ mắt (thoa, bôi) prostaglandin là các phương án thay thế nếu các loại thuốc chặn beta không thành công.  Chúng bao gồm latanoprost (Xalatan) và unoprostone (Rescula).  Trong số các loại thuốc tiêu chuẩn dùng cho bệnh tăng nhãn áp, các loại thuốc này có tác dụng tốt nhất là làm giảm áp suất trong mắt.  Chúng cũng có ít tác dụng phụ hơn so với các loại thuốc chặn beta.
-      Các loại thuốc ức chế men carbonic anhydrase (carbonic anhydrase inhibitor - CAI) tỏ ra ít hiệu quả hơn so với các loại thuốc chặn beta tiêu chuẩn hoặc nhóm thuốc prostaglandin nhưng có ít tác dụng phụ hơn so với các loại thuốc chặn beta.  Chúng có thể có lợi trong một số trường hợp.  Các dạng thuốc nhỏ mắt (thoa, bôi) là dorzolamide (Trusopt) và brinzolamide (Azopt).  (Các loại thuốc ức chế men carbonic anhydrase uống bằng miệng đang được bán trên thị trường và tỏ ra hiệu quả hơn, nhưng chúng cũng có các tác dụng phụ nghiêm trọng hơn và hiếm khi được cho sử dụng dài hạn).
-      Các loại thuốc alpha2-adrenergics (có các tác dụng tương tự adrenalin), còn được gọi là selective alpha adrenergics, cũng tỏ ra hiệu quả nhưng có thể không dễ dung nạp như thuốc timolol.  Chúng bao gồm brimonidine (Alphagan).
-      Các loại thuốc có tác dụng thu hẹp đồng tử mắt (miotic), bao gồm pilocarpine và các loại khác, là các loại thuốc tiêu chuẩn trước khi sử dụng các loại thuốc bôi chặn beta (topical beta-blocker).  Hiện nay, các loại thuốc giúp thu hẹp đồng tử này đã được thay thế phần lớn bằng thuốc timolol và các loại thuốc khác, mặc dù thỉnh thoảng chúng cũng được dùng dưới hình thức phối hợp.
-      Hiện nay các loại thuốc chặn beta và những loại thuốc thế hệ mới (prostaglandin, các loại thuốc bôi CAI, và alpha adrenergic chọn lọc) được ưa chuộng hơn các loại thuốc thế hệ cũ, bao gồm thuốc thu hẹp đồng tử (miotic), thuốc CAI uống bằng miệng (oral CAI), và alpha adrenergic không chọn lọc (unselective alpha adrenergic).  Một số loại thuốc thế hệ cũ có thể được sử dụng dưới hình thức phối hợp.

Điều Trị Các Bệnh Nhân Đang Mang Thai.  Các cân nhắc điều trị cho các phụ nữ mang thai với bệnh tăng nhãn áp có thể khá phức tạp.  Tất cả các loại thuốc được dùng cho bệnh tăng nhãn áp đều được cơ thể hấp thụ, đi qua nhau thai, và được bài tiết ra ngoài theo đường sữa mẹ.  Nhiều loại thuốc có các tác dụng mà có khả năng ảnh hưởng đến hoặc gây hại cho quá trình mang thai.

Các bệnh nhân nữ đang mang thai nên thảo luận với bác sĩ về việc ngưng sử dụng thuốc, đặc biệt trong thai kỳ đầu tiên (3 tháng đầu mang thai), và cần phải được giám sát trong suốt thời gian này để kiểm tra áp suất mắt gia tăng.  Áp suất trong mắt có khuynh hướng xuống thấp trong thời gian mang thai, mặc dù ở mức độ không đáng kể.  Ngoài ra, các thay đổi về áp suất trong mắt (IOP) và mất thị lực có thể biến đổi rất khác nhau ở mỗi cá nhân.  Một số phụ nữ không bị thay đổi về áp suất trong mắt hoặc mất thị lực trong thời gian mang thai, trong khi đó, những người khác có thể gặp phải tình trạng gia tăng áp suất trong mắt hoặc tình trạng mất thị lực càng trở nên xấu đi.  Bác sĩ nhãn khoa của bạn phải hết sức cẩn thận trong việc xem xét trường hợp bệnh của bạn và sẽ cho bạn biết về các nguy cơ cũng như lợi ích khi tiếp tục sử dụng thuốc trị bệnh tăng nhãn áp trong thời gian mang thai.  Nếu các phụ nữ mang thai cần phải sử dụng các loại thuốc này, họ nên cố gắng sử dụng với liều lượng càng thấp càng tốt mà vẫn mang lại hiệu quả.

Các Cân Nhắc Về Phẫu Thuật

Mục đích của tiến trình phẫu thuật tiêu chuẩn cho bệnh tăng nhãn áp là để làm giảm áp suất trong mắt bằng cách gia tăng số lượng dịch thể nước chảy ra ngoài.  Có 2 phương pháp thường được sử dụng:

-      Thủ thuật cắt lưới sợi mô liên kết (trabeculectomy).  Phương pháp này sử dụng các dụng cụ phẫu thuật tiêu chuẩn để mở một đường dẫn trong mắt giúp dẫn lưu chất dịch.  Thỉnh thoảng phương pháp này không thành công và phải được thực hiện lại.  Đối với một số bệnh nhân, phương pháp ghép đĩa dẫn lưu (glucomas implant) là chọn lựa tốt nhất.  Các biến chứng khác của thủ thuật cắt lưới sợi mô liên kết bao gồm mất thị lực vĩnh viễn, cũng như chảy máu hoặc nhiễm trùng.
-      Thủ thuật điều chỉnh lưới sợi mô liên kết dùng tia laze (laser tracbeculoplasty).  Tiến trình này sử dụng tia laze để đốt thủng các lỗ nhỏ trong khu vực dẫn lưu.


Cả hai phương pháp này đều tỏ ra hiệu quả, nhưng một trong hai phương pháp sẽ tỏ ra hiệu quả hơn đối với một số nhóm bệnh nhân.  Ví dụ, những người Mỹ gốc Châu Phi có thể thích hợp hơn với thủ thuật dùng tia laser, trong khi đó, phương pháp cắt lưới sợi mô liên kết có thể là chọn lựa tốt hơn cho những người Da Trắng không có những tình trạng bệnh lý nghiêm trọng.

Thủ Thuật Rạch Mống Mắt Ngoại Biên Bằng Tia Laze (Laser Peripheral Iridotomy (LPI) – dành cho bệnh tăng nhãn áp góc đóng

Tiến trình này được sử dụng để mở một lỗ đi qua mống mắt (tròng đen), cho phép thể dịch nước chảy từ phía sau tròng đen đến ngăn trước của mắt.  Điều này cho phép chất đi vòng qua lộ trình bình thường của nó.  Phương pháp LPI là một tiến trình thích hợp để quản lý một loạt các chứng bệnh tăng nhãn áp góc đóng bị nghẽn dịch đồng tử (pupillary blockage) ở mức độ nào đó.  Phương pháp dùng tia laze này thường được sử dụng nhất để điều trị tình trạng góc hẹp và ngăn ngừa các cơn tấn công của bệnh tăng nhãn áp góc đóng.

Phẫu Thuật Ghép Dẫn Lưu (Drainage Implant Surgery)

Một số bộ phận khác nhau đã được phát minh để giúp dẫn lưu thể dịch nước ra khỏi ngăn trước của mắt và làm giảm áp suất trong mắt.  Tất cả bộ phận này đều có chung một kiểu thiết kế, đó là bao gồm một ống nhỏ bằng silicon nối dài đến ngăn trước của mắt.  Ống được được nối với một hoặc nhiều đĩa, các đĩa này được khâu vào bề mặt của mắt, thường không nhìn thấy.  Chất dịch được thu thập vào đĩa, sau đó được các mô ở mắt hấp thụ.  Loại phẫu thuật này được xem có khả năng hạ áp suất trong mắt ít hơn thủ thuật cắt lưới sợi mô liên kết, nhưng thích hơp sử dụng cho các bệnh nhân mà các phương pháp phẫu thuật truyền thống không thể kiểm soát được áp suất trong máu hoặc cho các bệnh nhân đã từng bị sẹo.

Thông thường, phẫu thuật là phương án cuối cùng.  Tuy nhiên, các bác sĩ có thể đề xuất phẫu thuật trước khi tiến hành các phương pháp trị liệu bằng thuốc cho các bệnh nhân không tuân thủ các chế độ dùng thuốc nghiêm ngặt hoặc cho các bệnh nhân mà họ có thể bị các phản ứng nghiêm trọng từ các loại thuốc trị bệnh tăng nhãn áp.  Phẫu thuật không chữa khỏi bệnh tăng nhãn áp, do đó trên một nửa số bệnh nhân sẽ cần sử dụng thuốc trong vòng 2 năm.


Nguồn bổ sung: