About

Thursday, March 5, 2015

TRÀ XANH - CHÈ XANH (GREEN TEA) - Do LQT Biên Dịch


Tất cả các loại trà (chè) theo đúng nghĩa, khác với các sản phẩm pha chế bằng thảo mộc và hoa, mà những nhà đạo trà (afficiandos) gọi là tisanes, được làm từ lá của một loại cây xanh quanh năm có tên khoa học là Camellia sinensis.  Mặc dù mọc nơi hoang dã với chiều cao khoảng 30 feet (9 mét), nhưng trong các đồn điền trà (chè), loại cây này lại mọc thành từng bụi (cụm), thường được cắt tỉa để có chiều cao khoảng 3 feet (0,9 mét) nhằm kích thích sự tăng trưởng và để dễ dàng hái lá.



Cây trà (chè) chỉ mọc ở những khu vực khí hậu ấm áp, nhưng có thể phát triển mạnh trong các khu vực có độ cao từ mực nước biển đến 7000 feet (2134 mét).  Tuy nhiên, các loại trà (chè) thơm ngon nhất lại bắt nguồn từ các cây trà (chè) được trồng các nơi cao hơn mà lá trà (chè) trưởng thành chậm hơn và tạo ra mùi vị đậm đà hơn.  Tùy theo độ cao, một cây trà (chè) non có thể mất khoảng từ 2 năm rưỡi đến 5 năm để có thể thu hoạch lá, nhưng sau khi đã trưởng thành, nó có thể cung cấp lá trà (chè) cho gần một thế kỷ.

Cây trà (chè) mọc rất nhiều tán lá, hoa trà, và quả trà, nhưng chỉ có những lá trà (chè) nhỏ nhất và non nhất sẽ được hái để chế biến thành trà (chè) – 2 lá và nụ trên ngọn của mỗi cành non.  Những cành non mọc ra, được gọi là sự đâm chồi (flush), có thể xảy ra mỗi tuần ở những nơi có độ cao thấp và mất khoảng vài tuần ở những nơi cao hơn.  Các lá non được những người hái trà (tea pluckers) hái bằng tay, người hái giỏi nhất có thể thu hoạch được khoảng 40 lbs (18 kg) mỗi ngày, đủ để chế biến 10 lbs (4,5 kg) trà (chè).


Tất cả cây trà (chè) đều bắt nguồn từ một loài có tên là Camellia sinensis, nhưng điều kiện trồng ở địa phương (độ cao, khí hậu, đất trồng,…) thay đổi khác nhau, tạo nên nhiều loại lá trà (chè) đặc thù.  Tuy nhiên, cách chế biến lá trà (chè) lại càng quan trọng hơn để tạo ra các đặc điểm riêng cho ba loại trà (chè) phổ biến: trà xanh (green tea), trà đen (black tea), và trà oolong.



trà xanh (green tea), 



trà đen (black tea)



trà oolong













Trà xanh ít trải qua các công đoạn chế biến nhất, do đó cung cấp nhiều các chất polyphenol chống oxy hóa nhất, đặc biệt là một loại chất catechin (C15H14O6) có tên là epigallocatechin-3-gallate (EGCG), mà người ta tin rằng nó tạo ra phần lớn các lợi ích sức khỏe có liên quan đến trà (chè) xanh.  Trà (chè) xanh được chế biến bằng cách hấp sơ các lá trà (chè) vừa được thu hoạch, làm cho lá trà (chè) mềm và ngăn không cho lá trà (chè) đổi màu.  Sau quá trình hấp, lá trà (chè) được cuộn lại, sau đó trải đều rồi sấy khô (được sấy bằng hơi nóng hoặc bằng chảo có đáy sâu) cho đến khi lá trà (chè) trở nên giòn.  Kết quả là, trà (chè) màu xanh vàng này có mùi vị tươi mới và hơi chát gần giống với mùi vị của lá trà (chè) tươi.

Trong quy trình sản xuất trà đen (black tea), lá trà (chè) được trải đều trên các giá phơi và được thổi hơi, công đoạn này giúp loại bỏ 1 phần 3 độ ẩm và làm cho lá trà (chè) trở nên mềm và dễ uốn.  Kế đến, các lá trà (chè) được cuộn lại để phá vỡ thành tế bào của chúng, làm cho nước ép trong lá tiết ra, cần thiết cho quá trình lên men.  Một lần nữa, lá trà (chè) được rải đều ra và được giữ ở độ ẩm cao để kích thích quá trình lên men, do đó giúp làm cho lá trà (chè) chuyển sang màu đồng đen và tạo ra mùi vị độc quyền của trà (chè) đen.  Cuối cùng, lá trà (chè) được sấy khô, tạo ra loại trà (chè) có màu nâu đen mà khi ngâm trong nước nóng sẽ cho ra loại nước trà (chè) có màu nâu đỏ với vị đậm hơn so với trà (chè) xanh và trà (chè) oolong.

Trà oolong, được làm từ lá trà (chè) đã được lên men phần nào trước khi được sấy khô, nằm giữa hai loại trà (chè) xanh và trà (chè) đen.  Oolong là một loại trà (chè) xanh nâu, có mùi vị và màu sắc đậm hơn so với trà (chè) xanh, nhưng nhẹ hơn so với trà (chè) đen.

Trà (chè) xanh luôn luôn, và duy trì cho đến ngày nay, là loại trà (chè) phổ biến nhất trên toàn khu vực Châu Á, mà đa số các sử gia và các nhà thực vật học tin rằng nó có nguồn gốc từ Trung Quốc.  Lý do có lẽ là vì trà (chè) xanh không chỉ hấp thu được mùi vị và màu sắc của mùa xuân, mà còn truyền đi hương thơm dễ chịu cùng với nồng độ cao nhất các chất phytonutrient có lợi cho sức khỏe và chứa ít caffeine nhất trong số các loại trà (chè).


Các Chất Dinh Dưỡng Trong Trà (Chè) Xanh
2,00 g (2,00 grams)

Chất Dinh Dưỡng
% Giá Trị Dinh Dưỡng Hàng Ngày

Calories (0)
0%


Biểu đồ này mô tả chi tiết giá trị dinh dưỡng mỗi ngày, trong đó một phần trà (chè) cung cấp các chất dinh dưỡng mà theo đó được đánh giá là tốt, rất tốt, và lý tưởng theo Hệ Thống Đánh Giá Thực Phẩm của chúng tôi. 

CÁC LỢI ÍCH SỨC KHỎE

Trà (chè) xanh đặc biệt chứa nhiều các chất flavonoid hỗ trợ sức khỏe (chiếm 30% trọng lượng khô của một lá trà), bao gồm các chất catechin và các chất dẫn xuất của catechin.  Loại chất catechin chiếm đa số trong trà (chè) xanh là epigallocatechin-3-gallate (EGCG), mà được tin rằng đóng một vài trò quan trọng trong các tính năng chống ung thư và chống oxy hóa của trà (chè) xanh.  Các chất catechin nên được xem, cùng với các chất chống oxy hóa phổ biến khác như vitamin E và C, là những chất có tác dụng phá hủy các gốc tự do và hỗ trợ cho sức khỏe vì lý do này.

Đa số nghiên cứu cho thấy lợi ích sức khỏe của trà (chè) xanh dựa trên số lượng trà (chè) xanh thường được tiêu thụ ở các nước Châu Á – khoảng 3 ly (tách, cốc) mỗi ngày (cung cấp khoảng 240 – 320 mg các chất polyphenol).  Một ly (tách, cốc) trà (chè) xanh cung cấp 20 – 35 mg chất EGCG, và chất này có nhiều tính năng chống oxy hóa nhất trong số các chất catechin trong trà (chè) xanh.

Các lợi ích sức khỏe của trà (chè) xanh đã được nghiên cứu rất nhiều, và khi sự nhận thức của cộng đồng khoa học về các lợi ích tiềm năng của trà (chè) xanh gia tăng, thì số lượng các nghiên cứu mới cũng tăng lên.  Vào tháng 11 năm 2004, cơ sở dữ liệu của Thư Viện Y Khoa Hoa Kỳ (PubMed) đã chứa hơn 1000 nghiên cứu về trà (chè) xanh, với hơn 400 nghiên cứu được đăng tải vào năm 2004.  Sau đây là một phần tóm tắt về một số điểm cao nhất của nghiên cứu gần đây nhất về trà (chè) xanh.

Những người uống trà (chè) xanh xem ra có ít nguy cơ bị một loạt các chứng bệnh, từ nhiễm khuẩn hoặc nhiễm virut nhẹ đến các bệnh mãn tính làm suy kiệt sức khỏe bao gồm bệnh tim mạch, ung thư, đột quỵ (tai biến mạch máu não), bệnh nha chu (periodontal disease), và bệnh loãng xương (osteoporosis).  Các nghiên cứu mới đây giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách thức trà (chè) xanh:

Bảo Vệ Chống Lại Tình Trạng Tử Vong Do Nhiều Nguyên Nhân, Đặc Biệt Do Bệnh Tim Mạch

Vào tháng 8 năm 2006, một nghiên cứu ở Châu Âu, được đăng trên Tạp Chí Dinh Dưỡng Lâm Sàng Châu Âu (European Journal of Clinical Nutrition), đã tìm thấy rằng trà (chè) là một chọn lựa có lợi cho sức khỏe hơn so với hầu như bất kỳ loại thức uống nào, bao gồm nước tinh khiết, bởi vì trà (chè) không chỉ có tác dụng tái bổ sung chất lỏng như nước, mà còn cung cấp một nguồn dồi dào các chất polyphenol có tác dụng bảo vệ chống lại bệnh tim.

Một nghiên cứu ở Nhật được đăng trên tạp chí JAMA (Journal of the American Medical Association) số ra tháng 9 năm 2006 cho thấy rằng uống trà (chè) xanh giúp hạ giảm nguy cơ tử vong từ mọi nguyên nhân, bao gồm bệnh tim mạch.

Tiến sĩ y khoa Shinichi Kuriyama của trường Đại Học Tohoku Khoa Chính Sách Công Cộng (Tohoku University School of Public Policy), ở Sendai, Nhật Bản, và các đồng nghiệp đã nghiên cứu mối liên hệ giữa việc tiêu thụ trà (chè) xanh và nguy cơ tử vong từ mọi nguyên nhân, bệnh tim mạch, và bệnh ung thư.

Nghiên cứu này, bắt đầu vào năm 1994, đã theo dõi 40 530 người thành niên, có độ tuổi từ 40 – 79, ở vùng đông bắc Nhật, kéo dài lên đến 11 năm.  Trong khu vực này, 80% dân số uống trà xanh với hơn một nửa tiêu thụ ít nhất 3 ly (tách, cốc) một ngày.

So với những người tham gia nghiên cứu tiêu thụ ít hơn 1 ly (tách, cốc) trà (chè) xanh mỗi ngày, những người uống từ 5 ly (tách, cốc) mỗi ngày có rất ít nguy cơ tử vong từ mọi nguyên nhân, và đặc biệt là, nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch, và phụ nữ nhận được sự bảo vệ nhiều hơn nam giới:


Các Lợi Ích Của Trà (Chè) Xanh

Ở Phụ Nữ

Ở Đàn Ông
Nguy cơ tử vong từ mọi nguyên nhân giảm 23%

Nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch giảm 31%

Nguy cơ tử vong do đột quỵ (tai biến mạch máu não) giảm 62%
Nguy cơ tử vong từ mọi nguyên nhân giảm 12%

Nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch giảm 22%

Nguy cơ tử vong do đột quỵ (tai biến mạch máu não) giảm 42%


Các lợi ích của trà (chè) đen hoặc trà (chè) oolong xem ra không liên quan mật thiết hoặc không liên quan đến tỷ lệ tử vong từ mọi nguyên nhân hoặc từ bệnh tim.

Mặc dù nghiên cứu này không tìm thấy các chứng cứ về lợi ích ngăn ngừa ung thư từ việc uống trà (chè) xanh, nhưng các nghiên cứu có quy mô lớn khác, bao gồm một quá trình tổng hợp các kết quả của 13 nghiên cứu được đăng trên tạp chí Carcinogenesis (Sun CL et al) vào tháng 7 năm 2006, cho thấy rằng trà (chè) xanh giúp giảm bớt nguy cơ ung thư ngực.  Trong nghiên cứu này, khi so sánh với những phụ nữ không uống trà (chè) xanh, thì những người tiêu thụ nhiều trà (chè) xanh có 22% khả năng ít phát triển bệnh ung thư ngực hơn.

Thông thường trong các nghiên cứu, các hiệu ứng của một phản ứng hỗ trợ sức khỏe nào đó có nhiều khả năng bị làm xáo trộn bởi yếu tố rằng những người cố gắng theo đuổi một lối sống khỏe mạnh lại thường có nhiều thói quen sống lành mạnh.  Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, vì trà (chè) xanh là một loại thức uống được tiêu thụ phổ biến nhất ở Nhật, cho nên không có khả năng những người tham gia nghiên cứu chọn uống trà (chè) xanh chủ yếu vì sức khỏe, do đó cũng không có khả năng là hiện tượng nguy cơ tử vong từ mọi nguyên nhân và từ bệnh tim mạch giảm xuống là do các thói quen khác có liên quan đến ý thức về sức khỏe.

Với lợi ích sức khỏe quan trọng của trà (chè) xanh, ngay cả đối với những người không đặc biệt quan tâm đến sức khỏe, hãy tưởng tượng tiềm năng bảo vệ sức khỏe của trà (chè) xanh như một phần trong chế độ ăn uống lành mạnh của bạn.

Nếu thực sự bạn không thể bắt đầu một ngày nếu không có một ly (tách, cốc) cà phê, thì hãy thử thưởng thức một ly (tách, cốc) trà (chè) xanh vào giờ ăn trưa, hoặc như một bữa trà (chè) chiều giúp khôi phục sự tỉnh táo (afternoon pick-me-up).  Bạn sẽ nhanh chóng khám phá ra sự phối hợp độc đáo các đặc tính giúp tăng lực và thư giãn của trà (chè) xanh, cộng với mùi vị thơm ngon của nó, làm cho trà (chè) xanh là một trong những thói quen lành mạnh được ưa chuộng nhất của bạn.

Bảo Vệ Chống Lại Bệnh Mạch Vành

Trong các nghiên cứu ở Nhật, việc tiêu thụ trà (chè) xanh đã được tìm thấy là một yếu tố tiên đoán độc lập về nguy cơ mắc bệnh mạch vành.  Trong một nghiên cứu, những người mỗi ngày uống từ 5 ly (tách, cốc) trà (chè) xanh trở lên đã được tìm thấy có tỷ lệ 16% ít mắc bệnh mạch vành hơn.  Mối liên hệ trở nên quá rõ rệt đến nỗi các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng, “Bệnh nhân càng tiêu thụ nhiều trà (chè) xanh thì họ càng có ít khả năng mắc bệnh mạch vành”.

Sự gia tăng số lượng các gốc tự do trong các động mạch là một vấn đề quan trọng trong nhiều dạng bệnh tim mạch.  Nghiên cứu mới nhất cho thấy rằng các chất catechin trong trà (chè) xanh có khả năng ngăn chặn các men liên quan đến quá trình sản sinh các gốc tự do ở màng trong của các động mạch.  Màng trong của động mạch là một lớp lót có độ dày 1 tế bào, đóng vai trò làm bề mặt phân ranh dòng chảy của máu và thành động mạch, nơi các mảng vữa có thể hình thành.  Bằng cách bảo vệ màng trong tránh khỏi bị các gốc tự do phá hủy, các chất catechin trong trà (chè) xanh giúp ngăn ngừa sự phát triển của bệnh tim mạch.

Ngăn Chặn Chứng Xơ Vữa Động Mạch

Trà (chè) xanh được chứng minh có khả năng hạ giảm nguy cơ bị xơ vữa động mạch một cách hiệu quả bằng cách hạ giảm hàm lượng cholesterol “xấu” LDL, chất béo trung tính (triglycerides), peroxyt lipit (lipid peroxides: các gốc tự do có tác dụng phá hủy cholesterol LDL và các loại lipit hoặc chất béo khác) và fibrinogen (một loại protein trong máu liên quan đến quá trình hình thành các huyết khối), cùng lúc cải thiện tỷ lệ cholesterol “xấu” LDL/cholesterol “tốt” HDL.

Trong các nghiên cứu ở động vật, trong đó trà (chè) xanh được cho chuột hamster uống với các liều lượng tương đương với liều lượng tiêu thụ ở người, chứng xơ vữa động mạch được ngăn chặn với tỷ lệ từ 26 – 46% đối với những chú chuột nhận được liều lượng thấp (tương đương với 3 – 4 ly mỗi ngày ở người), và 48 – 63% ở những chú chuột nhận được liều lượng cao hơn (10 ly mỗi ngày ở người)

Các Lợi Ích Đặc Biệt Cho Những Người Bị Tăng Chất Béo Trung Tính

Trà (chè) xanh có thể cung cấp các lợi ích bảo vệ tim đặc biệt cho những người bị tăng chất béo trung tính (triglycerides), theo một nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, được đăng trên Tạp Chí Dinh Dưỡng (Journal of Nutrition) trong số ra tháng 2 năm 2005.

Một loạt các thí nghiệm đã tiết lộ rằng sự phối hợp một cách tự nhiên các chất catechin trong trà (chè) xanh theo liều lượng được chỉ định có tác dụng ức chế hoạt động của men lipase do tuyến tụy tiết ra (pancreatic lipase), men này có tác dụng tiêu hóa chất béo.  Kết quả là, tốc độ theo đó cơ thể phân nhỏ các chất béo thành các chất béo trung tính, và hiện tượng tăng cao của hàm lượng chất béo trung tính trong máu thường xảy ra sau bữa ăn, đã bị kéo chậm lại một cách đáng kể.

Vì sự gia tăng đáng kể các chất béo trung tính trong máu sau bữa ăn là một yếu tố nguy cơ quan trọng gây bệnh mạch vành, do đó việc uống một ly (tách, cốc) hai túi trà (chè) xanh trong bữa ăn là một thói quen tốt, đặc biệt nếu như mức chất béo trung tính của bạn cao hơn bình thường.

Làm Loãng Máu và Giúp Ngăn Ngừa Huyết Khối

Các chất catechin trong trà (chè) xanh giúp làm loãng máu và ngăn ngừa quá trình hình thành các huyết khối (blood clot) bằng cách ngăn ngừa quá trình hình thành các hợp chất trợ viêm bắt nguồn từ các axit béo omega-6, các axit béo này được tìm thấy trong thịt và các loại dầu rau quả không bão hòa đa liên kết (polyunsaturated vegetable oils) chẳng hạn như dầu bắp, dầu rum (safflower oil), và dầu đậu nành.  Các hợp chất trợ viêm này – đặc biệt là, axit arachidonic sản sinh ra các chất cytokine thromboxane A2 và prostaglandin D2 – giúp cho các tiểu huyết cầu kết dính lại với nhau.

Bảo Vệ Tim ở Các Bệnh Nhân Mắc Bệnh Tim Mạch Cấp Tính

Chất catechin chính trong trà (chè) xanh, EGCG (epigallocatechin-3-gallate), tạo ra đặc tính bảo vệ đặc biệt này mà nó có thể giúp ngăn ngừa tình trạng hoại tử của các tế bào cơ tim sau khi bị tổn thương do thiếu máu cục bộ/tái cung cấp máu.  Thiếu máu cục bộ (ischemia) là một thuật ngữ y khoa ám chỉ nguồn cung cấp máu bị hạn chế và do đó oxy và các chất dinh dưỡng cũng bị thiếu hụt.  Khi quá trình tuần hoàn được khôi phục, sự hủy hoại do oxy hóa xuất hiện, và đây chính là sự tổn thương của các mô được tái cung cấp máu sau khi bị thiếu máu cục bộ (reperfusion injury).

Chất EGCG ngăn ngừa tình trạng hủy hoại cơ tim bằng cách chặn sự kích hoạt các hợp chất trợ viêm (bao gồm NF-kappa-B và STAT-1), các chất này đóng một vai trò quan trọng trong việc kích thích sự hủy hoại do oxy hóa tiêu diệt các tế bào tim trong quá trình tái cung cấp máu.  Các nhà nghiên cứu tin rằng chất EGCG có thể được dùng để giúp giảm thiểu thương tổn ở các bệnh nhân có bệnh mạch vành cấp tính.

Giảm Thiểu Sự Hủy Hoại và Gia Tăng Tốc Độ Hồi Phục Sau Khi Cơn Nhồi Máu Cơ Tim

Nghiên cứu trong vài năm qua do bác sĩ Anastasis Stephanou và nhóm nghiên cứu của ông tại Viện Sức Khỏe Trẻ Em Anh Quốc (UK Institute of Child Health) và đã được trên Tạp Chí FASEB, tạp chí Federation of Experimental Biology và tạp chí Journal of Cellular and Molecular Medicine đã chú trọng vào khả năng ngăn chặn hoạt động của một loại protein có tên là STAT-1.  Thường được kích hoạt trong các tế bào sau một cơn nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ (tai biến mạch máu não), STAT-1 đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra hiện tượng hoại tử của các tế bào.

Không chỉ có tác dụng giảm thiểu hiện tượng hoại tử của các tế bào tim sau một cơn nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ (tai biến mạch máu não), chất ECGC còn tỏ ra có khả năng tăng tốc tiến trình hồi phục của các tế bào tim sau khi bị tổn thương, cho phép các tổ chức mô hồi phục nhanh chóng và làm giảm bớt những tổn thương đến các cơ quan.

Bác sĩ Stephanou, một nhà sinh vật học phân tử (molecular biologist), lưu ý: “Chúng tôi hết sức phấn khích bởi những phát hiện này và hy vọng sử dụng chúng trong lâm sàng để giảm thiểu sự kích hoạt tình trạng hoại tử của các tế bào ở các bệnh nhân có bệnh tim mạch vành cấp tính”.


Giảm Thiểu Tình Trạng Não Bị Tổn Thương Sau Một Cơn Đột Quỵ

Chất EGCG còn được chứng minh là có khả năng bảo vệ các tế bào não bằng các cơ chế này, và do đó có thể giúp giảm thiểu tình trạng tổn thương não xảy ra sau một cơn đột quỵ (stroke: tai biến mạch máu não).  Trong một số nghiên cứu ở động vật, trà (chè) xanh tỏ ra rất hiệu quả với khả năng hạ giảm sự hình thành các gốc tự do trong mô não đến nỗi các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng, “Việc tiêu thụ hàng ngày các chất catechin trong trà (chè) xanh có thể giúp bảo vệ não một cách hiệu quả khỏi tình trạng hủy hoại não không thể đảo ngược do thiếu máu não cục bộ (cerebral ischemia), và những rối loạn thoái hóa thần kinh theo sau”.

Hạ Huyết Áp và Giúp Ngăn Ngừa Tình Trạng Cao Huyết Áp

Một nghiên cứu được đăng trên tạp chí Archives of Internal Medicine số ra tháng 7 năm 2004 đã tìm thấy rằng trong số những cá nhân tiêu thụ trà (chè) thường xuyên trong vòng ít nhất một năm, nguy cơ phát triển tình trạng cao huyết áp giảm 46% trong số những người uống nửa ly (tách, cốc) – 2 ly rưỡi (tách, cốc) mỗi ngày, và giảm 65% trong số những người tiêu thụ trên 2 ly rưỡi (tách, cốc) mỗi ngày.

Trong một nghiên cứu khác, được thực hiện ở các chú chuột được lai tạo không chỉ bị cao huyết áp mà còn có khuynh hướng bị đột quỵ, những chú chuột được cho uống trà (chè) xanh có áp suất tâm thu (systolic) và tâm trương (diastolic) xuống thấp đáng kể khi được so sánh với những chú chuột trong nhóm kiểm soát chỉ được uống nước tinh khiết.  Các động vật trong nghiên cứu này, đã được đăng trong Tạp Chí Dinh Dưỡng (Journal of Nutrition) số ra tháng giêng năm 2004, tiêu thụ số lượng tương đương với người là 1 lít (khoảng trên 4 ly) trà (chè) xanh mỗi ngày.

Giúp Ngăn Ngừa Sự Phát Triển của Chứng Xơ Vữa Động Mạch và Bệnh Ung Thư

Trong cả hai trường hợp xơ vữa động mạch (atherosclerosis) và ung thư, sự phát triển và sinh sôi nảy nở của các tế bào là vấn đề trung tâm của tiến trình bệnh.  Trong trường hợp xơ vữa động mạch, các mảng vữa hình thành trong màng lót các động mạch, sau đó trở nên dày hơn và ít đàn hồi hơn, ngăn cản dòng chảy của máu.  Trong trường hợp bệnh ung thư, cơ chế kiểm soát sự phát triển của các tế bào ngưng hoạt động, và chúng sinh sản ở mức độ không thể kiểm soát được.  Trà (chè) xanh có thể giúp ngăn cản sự sinh sôi nảy nở bất thường này của tế bào.

Các chất catechin, nằm trong số những hợp chất hoạt tính chính trong lá trà (chè) xanh, làm cho trạm kiểm soát chính ngưng hoạt động, thông qua trạm kiểm soát này các yếu tố tăng trưởng trong hai trường hợp xơ vữa động mạch và bệnh ung thư gửi đi các thông tin về sự tăng trưởng tế bào.  Các trạm kiểm soát này, được gọi là các thụ thể tyrosine kinase, rất cần thiết cho việc chuyển tải các thông tin được truyền đi bởi yếu tố tăng trưởng bắt nguồn từ tiểu huyết cầu, yếu tố tăng trưởng giống insulin, yếu tố tăng trưởng biểu bì, yếu tố tăng trưởng nguyên sợi bào, và yếu tố tăng trưởng màng trong mạch.  Kết quả là khả năng ngăn chặn hoặc tạm dừng các tiến trình bệnh lý phụ thuộc vào sự tăng trưởng thừa.

Hai yếu tố gây hủy hoại khác làm cho các tế bào lót các mạch máu trong cơ thể chúng ta tăng trưởng nhanh là AGEs (advanced glycation end products: các sản phẩm cuối của phản ứng tạo glycoprotein phức) và MAPK (mitogen-activated protein kinase).  Các chất AGE hình thành khi chất đường bám vào không phù hợp và làm biến dạng các protein.  Hoạt động của protein MAPK thường gia tăng khi mức cholesterol “xấu” LDL tăng cao.  Trong các nghiên cứu ở phòng thí nghiệm, các chất polyphenol trong trà (chè) xanh được chứng minh, khi sử dụng ở liều lượng được chỉ định, sẽ có khả năng ức chế sự tăng trưởng nhanh (do AGE kích thích) của các tế bào cơ trơn trong mạch máu và có khả năng ngăn ngừa sự gia tăng số lượng protein MAPK mà thường được phát hiện khi hàm lượng cholesterol LDL tăng cao.

Bảo Vệ Chống Lại Bệnh Ung Thư

Trong vòng 10 năm qua, các tác dụng ngăn ngừa ung thư của trà (chè) xanh đã được các nghiên cứu lâm sàng, ở động vật, nuôi cấy tế bào và dịch tễ học hỗ trợ một cách rộng rãi.  Đối với tác dụng ngăn ngừa ung thư, đã có quá nhiều chứng cứ hỗ trợ đến nỗi Chi Nhánh Ngăn Ngừa Hóa Học của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ (Chemoprevention Branch of the National Cancer Institute) đã đề xướng một kế hoạch phát triển các hợp chất trong trà (chè) thành các chất hóa học ngăn ngừa ung thư trong các thử nghiệm ở người.

Khi phải chạm trán với các tế bào ung thư, trà (chè) xanh sẽ giúp hủy diệt các tế bào này theo một số phương pháp đặc biệt.

Các nghiên cứu nuôi cấy tế bào trong phòng thí nghiệm cho thấy rằng những chất polyphenol trong trà (chè) xanh là các chất kích thích rất mạnh làm cho tế bào tự hủy diệt và chu kỳ phát triển của tế bào ung thư bị chặn lại, nhưng chu kỳ phát triển của các tế bào bình thường vẫn hoạt động.  (Cell cycle: chu kỳ phát triển của tế bào là một quá trình mà các tế bào phải trải qua để phân bào và tái tạo bản sao). 

Các hoạt động chống ung thư này đã được xem là do các tác dụng chống oxy hóa mạnh của những chất catechin trong trà (chè) xanh, đặc biệt là chất epigallocatechin-3-gallate (EGCG).  Đây là một giả thuyết hợp lý, với một số các nghiên cứu đã chứng minh rằng trà (chè) xanh sở hữu các đặc tính chống oxy hóa đặc biệt.  Trong một nghiên cứu được đăng trong tạp chí Mutation Research số ra tháng 11 năm 2004, các tính năng bảo vệ chống oxy hóa của EGCG chống lại một số chất gây ung thư được tìm thấy có mức độ mạnh hơn so với các chất trong vitamin C là 120%.

Mặc dù tính năng chống oxy hóa của trà (chè) xanh thật ấn tượng, nhưng các nghiên cứu gần đây cho thấy loại thức uống đa chức năng này không đơn thuần là một phương pháp duy nhất bảo vệ chúng ta chống lại bệnh ung thư.

Một trong số các cơ chế này là khả năng ức chế quá trình tạo mạch máu mới (angiogenesis) của trà (chè) xanh.  Các tế bào ung thư, luôn cố gắng phân bào và di căn, có một nhu cầu vô tận mà chỉ có thể tạm thời bị làm cho im lặng bằng cách gia tăng số lượng mạch máu cung cấp chất dinh dưỡng cho chúng.  Với khả năng ức chế quá trình tạo mạch máu mới (angiogenesis), trà (chè) xanh giúp tiêu diệt bệnh ung thư bằng cách ngăn chặn nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho các tế bào ung thư.

Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng trà (chè) xanh hoạt động ở cấp gen, “tắt” đi các gen trong các tế bào ung thư liên quan đến sự tăng trưởng của tế bào, trong khi đó “bật” lên các gen điều khiển các tế bào ung thư tự hủy diệt.  Chất EGCG đã được tìm thấy là có khả năng hoạt động với vai trò một chất hỗ trợ oxy hóa hoặc gốc tự do, nhưng chỉ bên trong các tế bào ung thư, là nơi mà chất này gây tổn thương nhiều đến nỗi các cơ chế tự hủy diệt của các tế bào ung thư được kích hoạt.

Một nghiên cứu về các tác dụng của chất ECGC đối với các tế bào biểu bì tổng hợp keratin (keratinocytes) đã tìm thấy rằng hợp chất trong trà (chè) xanh này hiện nay cũng là một phương pháp để điều chỉnh bệnh ung thư, đó là “bật” lên các gen điều khiển tế bào ung thư trở lại bình thường.

Các tác dụng chống ung thư của trà (chè) xanh bao gồm khả năng ức chế sự sản sinh quá nhiều men cyclooxygenase (COX)-2, một loại protein khi được sản sinh quá nhiều được xem là một yếu tố gây ra nhiều chứng bệnh, bao gồm viêm khớp và ung thư.  Men COX-2 có một phiên bản đối xứng, có tên là COX-1, men này có thể hữu hiệu nếu không đụng chạm đến khi ngăn ngừa sự sản sinh quá nhiều men COX-2.  Các loại thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) chẳng hạn như aspirin và ibuprofen (có tác dụng ức chế cả hai loại men COX-1 và COX-2), các loại thuốc ức chế COX-2 đặc biệt, chẳng hạn như Vioxx và Celebrex (chỉ ức chế COX-2), đã được xem là các loại thuốc có khả năng ngăn chặn một số dạng bệnh ung thư, nhưng các tác dụng phụ độc hại của các loại thuốc này đối với các tế bào bình thường đã hạn chế tính hiệu quả của chúng.  Trong các nghiên cứu về các tế bào ung thư tuyến tiền liệt (nhiếp hộ tuyến), chất EGCG tỏ ra có khả năng chỉ chặn men COX-2 và không gây ra các tác dụng phụ độc hại nào.

Các chất phytonutrient trong trà (chè) xanh, đặc biệt là các chất catechin, giúp làm tăng sự sản sinh và hoạt động của các men khử độc trong cơ thể con người, và có thể gia tăng khả năng tiêu diệt các chất gây ung thư, các kết quả nghiên cứu được sự ủng hộ của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ (National Cancer Institute).

42 người tham gia có sức khỏe tốt đã ngưng sử dụng trà (chè) hoặc các sản phẩm trà (chè) trong vòng 1 tháng, sau đó đã được lấy các mẫu máu để đánh giá các hoạt động và mức glutathione S-transferases (GST), là một nhóm chính các men khử độc.  Sau đó, những người tham gia được cho tiêu thụ các chất catechin trong trà (chè) xanh với số lượng tương đương với 8 – 16 ly (tách, cốc) trà (chè) xanh mỗi ngày.  Hoạt động của nhóm các men GST được tăng lên một cách đáng kể ở những người có mức GST hoạt động cơ sở thấp hơn nhưng người có nhiều nguy cơ bị ung thư.


Ung Thư Tuyến Tiền Liệt (Nhiếp Hộ Tuyến)

Chất EGCG còn cung cấp các lợi ích khác đặc biệt trong việc ngăn ngừa ung thư tuyến tiền liệt (prostate cancer).  Một nghiên cứu được đăng trong Tạp Chí Quốc Tế về Ung Thư (International Journal of Cancer) số ra tháng 12 năm 2004 đã tìm thấy rằng chất EGCG, với liều lượng được chỉ định, có khả năng ức chế một cách đáng kể sự sản sinh chất PSA (protaste-specific antigen: một men có tác dụng xúc tác quá trình phân nhỏ protein do các tế bào biểu mô của tuyến tiền liệt tiết ra), một dấu chỉ báo hiệu nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt.  Chất EGCG không chỉ giúp hạ giảm hàm lượng PSA, mà còn có tác dụng ức chế toàn bộ hoạt động của chất PSA, mà các hoạt động này được kiểm tra có khả năng thúc đẩy phát triển bệnh ung thư tuyến tiền liệt.

Các Chất Polyphenol Trong Trà (Chè) Xanh Ngăn Chặn Ung Thư Tuyến Tiền Liệt Ở Nhiều Cấp Độ

Các chất polyphenol trong trà (chè) xanh giúp ngăn chặn bệnh ung thư tuyến tiền liệt lan rộng bằng cách huy động một số phản ứng giữa các phân tử trong tế bào (molecular pathways) có tác dụng chặn đứng sự sinh sôi nảy nở và sự lan rộng của các tế bào ung thư, đồng thời ức chế sự phát sinh của các mạch máu cung cấp chất dinh dưỡng cho các tế bào ung thư, theo nghiên cứu được đăng trong tạp chí Nghiên Cứu Ung Thư (Cancer Research) số ra tháng 12 năm 2004.

Các chất polyphenol trong trà (chè) xanh:

-      Có tác dụng làm giảm hàm lượng yếu tố tăng trưởng 1 giống insulin (insulin-like growth factor-1 - IGF-1), đồng thời làm tăng hàm lượng IGF liên kết protein-3, chất này liên kết với IGF-1, tiếp tục giảm bớt hoạt động của IGF-1.  (Hàm lượng IGF-1 tăng cao được xem không chỉ liên quan đến bệnh ung thư tuyến tiền liệt, mà còn liên quan đến các bệnh ung thư ngực, phổi và ruột già).
-      Ức chế các protein quan trọng giúp tế bào sinh tồn, thúc đẩy quá trình tự hủy diệt ở các tế bào ung thư.
-      Giảm bớt tính thể hiện của một số hợp chất (chất kích hoạt urokinase plasminogen và matrix metalloproteinase 2 và 9) liên quan đến sự di căn và lan truyền của các tế bào ung thư
-      Giảm bớt số lượng yếu tố tăng trưởng màng trong mạch (vascular endothelial growth factor - VEGF), yếu tố này có tác dụng tạo ra các mạch máu mới để đưa các chất dinh dưỡng đến các khối u đang phát triển.

Tất cả các tác dụng này được nhìn thấy trong nghiên cứu ở động vật được liên tục truyền vào trong vòng 6 tháng.  Mặc dù rõ ràng chưa tỏ ra hiệu quả ở người, nhưng nghiên cứu này đề xuất rằng tiêu thụ trà (chè) xanh mỗi ngày có thể có khả năng bảo vệ cao.

Chọn uống trà (chè) xanh và ăn trái cây (hoa quả) cũng như rau củ giàu chất carotenoid, lycopene thường xuyên, có thể giúp hạ giảm đáng kể nguy cơ phát bệnh ung thư tuyến tiền liệt ở đàn ông, theo đề xuất của nghiên cứu được đăng trong Tạp Chí Dinh Dưỡng Lâm Sàng Châu Á Thái Bình Dương (Asia Pacific Journal of Clinical Nutrition). (Jian L, Lee AH, et al).

Trong nghiên cứu kiểm soát trường hợp (case-control study) này, bao gồm 130 bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt và 274 cá nhân trong nhóm kiểm soát (controls), những người đàn ông uống nhiều trà (chè) xanh nhất được tìm thấy có khả năng giảm 86% nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt khi được so sánh với những người uống ít nhất.

Một mối liên hệ nghịch đảo tương tự đã được phát hiện giữa việc tiêu thụ các loại trái cây (hoa quả) giàu chất lycopene và các loại rau củ như cà chua, quả mơ (apricot), bưởi ruột hồng, dưa hấu, và ổi ở những người đàn ông. Những người thường xuyên tiêu thụ các loại thực phẩm này nhiều nhất giảm được 82% nguy cơ phát triển bệnh ung thư tuyến tiền liệt khi được so sánh với những người tiêu thụ các loại thực phẩm này ít nhất.

Các nhà nghiên cứu cũng lưu ý thêm rằng tiêu thụ thường xuyên trà (chè) xanh và các loại thực phẩm giàu chất lycopene có thể tạo ra hiệu ứng bảo vệ đồng vận (synergistic protective effect), mạnh hơn tác dụng bảo vệ của từng loại.

Các hướng dẫn hữu ích: Hãy tạo thói quen uống trà (chè) xanh và ăn các loại thực phẩm giàu chất lycopene.

-      Mang theo 1 lít nước trà (chè) đá đến nơi làm việc và uống suốt ngày hoặc mang nước trà (chè) đến phòng tập thể dục dùng để giải khát sau khi tập.
-      Bắt đầu bữa ăn sáng với nửa quả bưởi hoặc một ly nước ép đu đủ hoặc nước ổi.
-      Bắt đầu bữa ăn trưa hoặc bữa ăn tối với một ít nước ép cà chua pha với chanh.  Ăn nhẹ bằng món tomato crostini: trong lò nướng, cho bánh mì vào lò nướng cho đến khi giòn, cho vào nước xốt cà chua, một số rau thơm (rau mùi), một ít phó mát, và nướng lại cho đến khi phó mát tan ra.
-      Trộn dầu oliu, các loại quả hạch (nuts), phó mát và xốt cà chua vào món nui, dùng cho bữa trưa hoặc bữa tối.

Uống 5 ly (tách, cốc) trà (chè) xanh mỗi ngày có thể giảm được 50% nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt nghiêm trọng, theo các dữ liệu được thu thập trong Nghiên Cứu Triển Vọng của Trung Tâm Sức Khỏe Công Cộng Nhật Bản (The Japan Public Health Center-based Prospective Study).  Nghiên cứu này đã theo dõi 49 920 đàn ông người Nhật tuổi từ 40 – 69 từ năm 1990 đến 2004.  Khi được so sánh với những người đàn ông uống chưa đến một ly (tách, cốc) trà (chè) xanh mỗi ngày, thì những người tiêu thụ từ 5 ly (tách, cốc) mỗi ngày đã giảm được 48% nguy cơ phát triển bệnh ung thư tuyến tiền liệt nghiêm trọng.

Nếu bạn chưa bao giờ uống trà (chè) xanh, hãy nên biến loại thức uống tạo năng lượng và thơm ngon này thành một thói quen lành mạnh.  Mỗi năm, trên toàn thế giới có hơn nửa triệu trường hợp mới được chẩn đoán mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt, và tỷ lệ mắc bệnh này, nguyên nhân gây ra 200 000 ca tử vong mỗi năm, đang trên đà gia tăng ở mức 1,7% trong 15 năm.  (Kurahashi N, Sasazuki S, et al., Am J Epidemiol).  

Ung Thư Buồng Trứng

Tiêu thụ trà (chè) xanh được chứng minh có khả năng giúp gia tăng tỷ lệ sống sót ở các phụ nữ mắc bệnh ung thư buồng trứng (ovarian cancer).  Trong một nghiên cứu được đăng trong Tạp Chí Quốc Tế về Ung Thư (International Journal of Cancer), những phụ nữ với bệnh ung thư buồng trứng và uống ít nhất 1 ly (tách, cốc) trà (chè) xanh mỗi ngày giảm được 56% nguy cơ tử vong trong 3 năm nghiên cứu khi được so sánh với những người không uống trà (chè).  Một nghiên cứu ở phòng thí nghiệm về các tế bào ung thư buồng trứng được đăng trong tạp chí Ung Thư Phụ Khoa (Gynecologic Oncology) số ra tháng 9 năm 2004 giải thích: chất EGCG không chỉ ức chế sự tăng trưởng của các tế bào ung thư buồng trứng, mà còn gây ra quá trình tự hủy diệt ở các tế bào này bằng cách tác động đến một số gen và protein.

Một nghiên cứu về dịch tễ học (epidemiological study) được đăng trên tạp chí Archives of Internal Medicine số ra tháng 12 năm 2005, đưa ra thêm chứng cứ cho thấy rằng thưởng thức 1 hoặc 2 ly (tách, cốc) trà (chè) mỗi ngày có thể giúp hạ giảm đáng kể nguy cơ ung thư buồng trứng ở phụ nữ.

Các dữ liệu từ nhiều nghiên cứu khác đã cho thấy rằng cả trà (chè) xanh và trà (chè) đen đều có thể giúp bảo vệ chống lại nhiều dạng bệnh ung thư, và các chất polyphenol được xem là các chất có khả năng bảo vệ nhiều nhất.  Trong nghiên cứu này, Sasanna Larsson và Alicja Wolk ở Viện Y Học Môi Trường Quốc Gia (National Institute of Environmental Medicine), thành phố Stockholm, Thụy Điển, đã quyết định tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa việc tiêu thụ trà (chè) và bệnh ung thư buồng trứng.

Những người tham gia nghiên cứu là 61 057 phụ nữ Thụy Điển tuổi từ 40 – 76, đã được chụp X-quang vú và hoàn tất những câu hỏi thăm dò về 67 loại thực phẩm thường tiêu thụ ở mức chuẩn (từ năm 1987 – 1990), sau đó những người phụ nữ này đã được theo dõi trong vòng 15,1 năm.

Kết quả phân tích các dữ liệu cho thấy rằng ngay cả những phụ nữ tiêu thụ chưa đến 1 ly (tách, cốc) trà (chè) mỗi ngày cũng giảm được 18% nguy cơ ung thư buồng trứng khi được so sánh với những người không uống trà (chè).

Uống thêm một ly (tách, cốc) trà mỗi ngày được xem có khả năng giảm được 18% nguy cơ ung thư buồng trứng.

Mặc dù tiêu thụ nhiều trà (chè) thường được xem có liên quan đến những thói quen hỗ trợ sức khỏe, bao gồm tiêu thụ nhiều trái cây (hoa quả) và rau củ, tuy nhiên khi được so sánh với những thói quen sống của những người hiếm khi hoặc không bao giờ uống trà (chè), thì tỷ lệ nguy cơ ung thư buồng trứng hạ giảm đáng kể được phát hiện khi gia tăng tiêu thụ trà (chè), điều này cho thấy rằng trà (chè) có khả năng tạo ra sự bảo vệ đáng kể.

Trà Giàu Chất Kaempferol và Cây Bông Cải Xanh (Broccoli) Bảo Vệ Chống Lại Bệnh Ung Thư Buồng Trứng

Một nghiên cứu tiềm năng xem xét việc tiêu thụ trong bữa ăn 5 loại chất flavonoid phổ biến ở 66 940 phụ nữ trong Nghiên Cứu Sức Khỏe Điều Dưỡng (Nurses Health Study) trên 18 năm theo dõi đã phát hiện những người có chế độ ăn bao gồm phần lớn các chất flavonoid phổ biến (myricetin, kaempferol, quercetin, và luteolin), giảm được 25% nguy cơ ung thư buồng trứng, khi được so sánh với những người tiêu thụ với số lượng ít nhất.

Những phụ nữ tiêu thụ nhiều chất kaemferol nhất, một loại chất flavonoid tập trung trong trà (như trà xanh), rau bông cải xanh (broccoli) và hành, được phát hiện có khả năng giảm được 40% nguy cơ ung thư buồng trứng, khi được so sánh với những phụ nữ tiêu thụ chất kaempferol với số lượng ít nhất.

Tương tự, những phụ nữ có chế độ ăn uống cung cấp nhiều chất luteolin nhất có khả năng hạ giảm 34% nguy cơ ung thư buồng trứng, khi được so sánh với những người tiêu thụ ít luteolin nhất.  Cần tây (celery) và ngò tây (parsley) là 2 trong số các loại rau chứa nhiều chất luteolin nhất, ngoài ra chất này còn được tìm thấy trong củ cải vàng (rutabagas), ớt và rau bina (spinach).  (Gates MA, Tworoger SS, et al., Int J Cancer).

U Não ở Trẻ Em

Khả năng ức chế men telomerase (được tìm thấy ở các điểm cuối của nhiễm sắc thể trong các nguyên bào, tế bào gốc và các tế bào ung thư) của trà (chè) cũng có thể có lợi cho các trẻ em bị các khối u ác tính phổ biến nhất, các khối u thần kinh ngoại bì nguyên thủy (primitive neuroectodermal tumors).  Hoạt động của men telomerase cho phép các tế bào ung thư tránh được các hạn chế được quy định về số lần một tế bào có thể tái tạo bản sao trước khi tự hủy diệt.  Trong một nghiên cứu được đăng trên tạp chí Ung Thư Thần Kinh (Neuro-Oncology) số ra tháng giêng năm 2004, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy rằng ở các trẻ với các khối u này, men telomerase có khả năng hoạt động ít nhất cao gấp 5 lần so với các tế bào não bình thường, và phát hiện rằng chất EGCG có khả năng ức chế tối đa hoạt động của men telomerase với liều lượng được chỉ định. 

Ung Thư Ruột Già

Trà (chè) xanh cũng có thể giúp giảm bớt nguy cơ gia tăng bị ung thư ruột già (colon cancer) do chế độ ăn giàu chất béo gây ra.  Một nghiên cứu ở động vật được đăng trên tạp chí Dinh Dưỡng và Ung Thư (Nutrition and Cancer) vào năm 2003 đã tìm thấy rằng khi trà (chè) xanh được cho tiêu thụ cùng với một chế độ ăn giàu chất béo omega 6 (dưới dạng dầu bắp), thì số lượng các hợp chất trợ viêm được sản sinh trong ruột già (5-lipoxygenase, leukotriene A4 hydrolase, và leukotriene B4) đã giảm xuống đáng kể, cũng như số lượng các tế bào ruột già tiền ung thư (aberrant crypt foci: các tuyến bất thường có cấu trúc hình ống lót bên trong ruột già và ruột thẳng).  Tiêu thụ trà (chè) xanh thậm chí còn có khả năng hạ giảm số lượng mỡ bụng được sản sinh ở các động vật được cho tiêu thụ trà (chè) xanh khi được so sánh với các động vật trong nhóm kiểm soát (nhóm không tiêu thụ trà xanh).

Thường Xuyên Uống Trà (Chè) Xanh Cắt Giảm 50% Nguy Cơ Ung Thư Ruột Già

Để đánh giá mối liên hệ giữa việc tiêu thụ trà (chè) xanh và nguy cơ ung thư ruột già, các nhà nghiên cứu đã theo dõi 69 710 phụ nữ Trung Quốc, có độ tuổi từ 40 – 70 trong vòng 6 năm.

Những phụ nữ thường xuyên uống trà (chè) xanh khi nghiên cứu này bắt đầu có khả năng cắt giảm 37% nguy cơ phát triển bệnh ung thư ruột già khi được so sánh với những người không uống trà (chè) xanh thường xuyên.  Những phụ nữ tiếp tục uống trà (chè) xanh thường xuyên trong suốt cuộc nghiên cứu đã có được các kết quả tốt hơn, giảm bớt 57% nguy cơ phát triển bệnh ung thư ruột già. (Yang G, Shu XO, et al., Cancer Epidemiol Biomarkers Prev).  

Các Hướng Dẫn Pha Trà (Chè): Thưởng thức trà (chè) xanh dưới dạng thức uống nóng và lạnh.

-      Pha trà (chè) xanh với một lát gừng mỏng và chanh, hoặc các ngọn bạc hà lục (spearmint: rau húng cây, húng duỗi).  Thêm một muỗng cà phê mật ong vào mỗi ly (tách, cốc), khuấy đều và uống nóng, hoặc sử dụng một nửa số lượng nước nóng (hoặc số lượng trà gấp 2 lần), chờ cho trà (chè) ngấm và nguội, sau đó pha một nửa lượng nước trà với nước ép trái cây chẳng hạn như nước ép đào, nước ép dứa (thơm), hoặc nước ép đu đủ.  Cho vào máy xay sinh tố, xay đều rồi cho đá vào, uống lạnh.
-      Làm nước green tea chai bằng cách pha trà (chè) xanh với sữa đậu nành nóng.  Cho thêm quế, tiêu đen, gừng và tiêu Jamaica (allspice).

Sỏi Mật và Ung Thư Đường Mật

Trà (chè) xanh giúp hạ giảm nguy cơ bị sỏi mật và các chứng bệnh ung thư đường mật (biliary tract cancers), theo một nghiên cứu lớn dựa trên cộng đồng, kiểm soát trường hợp, dẫn đầu bởi Ann Hsing của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ (National Cancer Institute), thành phố Bethesda, bang Maryland, và đã được đăng trên Tạp Chí Quốc Tế về Ung Thư (International Journal of Cancer), số ra tháng 6 năm 2006.

Nhóm nghiên cứu của tiến sĩ Hsing thu thập các dữ liệu về nhân khẩu học, y tế và chế độ ăn từ 627 cá nhân có bệnh ung thư đường mật, 1037 cá nhân bị sỏi mật (gallstones), và 959 người trong nhóm kiểm soát ở Thượng Hải, Trung Quốc.

Trong số những phụ nữ, sau khi xem xét tuổi tác, trình độ giáo dục và chỉ số trọng lượng cơ thể, thì những người tiêu thụ ít nhất 1 ly (tách, cốc) trà (chè) mỗi ngày trong vòng ít nhất 6 tháng đã có thể giảm được 27% nguy cơ phát triển sỏi mật, giảm 44% nguy cơ phát triển bệnh ung thư túi mật, và giảm 35% nguy cơ ung thư ống dẫn mật.

Trong số những người đàn ông, phần lớn những người uống trà (chè) đều hút thuốc lá, điều này có khả năng ảnh hưởng đến các kết quả nghiên cứu.  Những người đàn ông tiêu thụ trà (chè) có ít nguy cơ bị bệnh đường mật, nhưng sự hạ giảm nguy cơ này được xem là không đáng kể về mặt thống kê.


Ung Thư Phổi

Mặc dù các chuyên gia không khuyến khích hút thuốc lá, nhưng nếu bạn hoặc một người nào đó mê hút thuốc lá, hoặc nếu bạn thường ở gần những người hút thuốc lá, thì uống nước trà (chè) xanh có thể cung cấp nhiều tác dụng bảo vệ chống lại bệnh ung thư phổi.  Một nghiên cứu mẫu ở người gần đây đã chứng thực các tác dụng bảo vệ của trà (chè) xanh chống lại bệnh ung thư phổi đã được phát hiện trong các nghiên cứu ở động vật và nuôi cấy tế bào.  Nghiên cứu này, được đăng trên tạp chí Dinh Dưỡng Phân Tử và Nghiên Cứu Thực Phẩm (Molecular Nutrition and Food Research) số ra tháng 11 năm 2004 đã đánh giá tác dụng của trà (chè) xanh (5 ly mỗi ngày) đối với 3 người nghiện hút thuốc lá (hút trên 10 điếu thuốc mỗi ngày) và 3 cá nhân chưa từng hút thuốc lá.  Khi những người tham gia nghiên cứu uống trà (chè) xanh, thì tình trạng phá hủy DNA do hút thuốc lá gây ra đã giảm xuống, khối u tế bào đã bị ngăn chặn, và quá trình tự hủy tế bào ở các tế bào bất thường đã tăng lên.

Một nghiên cứu có tầm mức lớn kéo dài 4 tháng về những người nghiện hút thuốc lá, bao gồm 100 phụ nữ và 33 người đàn ông, đã phát hiện rằng hàm lượng 8-hydroxy deoxyguanosine trong nước tiểu, một dấu hiệu của tình trạng phá hủy DNA do gốc tự do, đã giảm xuống đáng kể ở các cá nhân uống trà (chè) xanh khử caffeine (decaffeinated) nhưng không uống trà (chè) đen.

Trà (chè) xanh khử caffeine đặc biệt tỏ ra hiệu quả trong việc hạ giảm tình trạng phá hủy DNA ở các cá nhân thiếu khả năng (do di truyền) sản sinh số lượng bình thường một loại men (enzyme) có tên là glutathione S-transferase, men này đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp gan tiêu diệt nhiều chất gây ung thư được tìm thấy trong khói thuốc lá.  Những cá nhân bẩm sinh thiếu các loại gen GSTM1 và GSTT1 (có tác dụng hướng dẫn tế bào sản sinh men glutathione S-transferase) là những người có nhiều nguy cơ phát triển nhiều dạng bệnh ung thư khác nhau.  Đối với các cá nhân này, trà (chè) xanh có thể đặc biệt có lợi.

Ung Thư Bàng Quang (Bọng Đái)

Nghiên cứu được thực hiện bởi một nhóm kết hợp nhiều khoa của trường UCLA (University of California Los Angeles) đã cung cấp những kiến thức sâu rộng về cách thức trà (chè) xanh có thể có khả năng chống lại sự tăng trưởng mang tính xâm lấn của các khối u ung thư bàng quang (bọng đái).  Chất chiết xuất từ trà (chè) xanh đã được chứng minh, theo một cơ chế ảnh hưởng đến sự di chuyển của tế bào, có khả năng tấn công các tế bào ung thư nhưng không gây hại cho các tế bào khỏe mạnh.

Để cho bệnh ung thư phát triển và lan rộng, các tế bào ung thư phải di chuyển, và sự di chuyển này phụ thuộc vào một quá trình được gọi là tái tổ chức actin (actin remodeling), mà bản thân nó được kiểm soát chặt chẽ bởi những lộ trình trao đổi thông tin của các tế bào phức tạp (complex signaling pathways), bao gồm lộ trình Rho (Rho pathway).  

Bằng cách kích thích lộ trình Rho, trà (chè) xanh làm cho các tế bào ung thư trưởng thành nhanh hơn và liên kết với nhau chặt chẽ hơn, một quá trình được gọi là liên kết tế bào (cell adhesion).  Sự trưởng thành nhanh và tiến trình liên kết của các tế bào gia tăng sẽ ức chế khả năng di chuyển của các tế bào ung thư, theo lời ông Rao, tác giả chỉ đạo nghiên cứu này, được đăng trong tạp chí Nghiên Cứu Ung Thư Lâm Sàng (Clinical Cancer Research) số ra tháng 2 năm 2005, trong đó các tác dụng của trà (chè) xanh đối với lộ trình Rho đã được lưu ý đến.

Ông Rao giải thích, “Các tế bào ung thư thường mang tính xâm lấn và các chất chiết xuất trong trà (chè) xanh ngăn chặn quá trình xâm lấn này của các tế bào ung thư.  Thật vậy, chất chiết xuất trong trà (chè) xanh có thể kiềm chế và khoanh vùng các tế bào ung thư, nhờ đó có thể dễ điều trị các tế bào ung thư hơn và triển vọng hồi phục cũng khả quan hơn”.

Có khoảng 56 000 trường hợp bệnh ung thư bàng quang (bọng đái) mới được phát hiện mỗi năm, làm cho nó trở thành dạng bệnh ung thư phổ biến đứng thứ 5 ở Hoa Kỳ.  Khoảng 50% các trường hợp ung thư bàng quang được xem là có liên quan đến việc hút thuốc lá.  Ung thư bàng quang có thể khó phát hiện ở các giai đoạn đầu dễ điều trị, tuy nhiên, nếu không được phát hiện sớm, các khối u này có thể phát triển rất nhanh, và hơn một nửa số bệnh nhân bị ung thư ở giai đoạn sau sẽ bị tái phát.

Trong giai đoạn tiếp theo của cuộc nghiên cứu này, ông Rao và nhóm nghiên cứu sẽ phân tích mẫu nước tiểu của các bệnh nhân bị ung thư bàng quang, tìm kiếm các yếu tố sinh học liên quan đến quá trình tái tổ chức actin và sự kích hoạt lộ trình Rho, để xác định nhóm bệnh nhân nào có thể có lợi nhiều nhất khi tiêu thụ trà (chè) xanh.

Cải Thiện Tính Hiệu Quả của Các Loại Thuốc Chống Ung Thư Đồng Thời Giảm Bớt Các Tác Dụng Phụ Gây Hại Của Thuốc

Trong cuộc chiến chống ung thư, các chất polyphenol trong trà (chè) xanh là những đồng đội, hỗ trợ các loại thuốc chống ung thư phát huy khả năng.  Trong một nghiên cứu được đăng trên Tạp Chí Dược Khoa và Dược Lý (Journal of Pharmacy and Pharmacology) số ra tháng 10 năm 2004, các chất polyphenol trong trà (chè) xanh làm cho các tế bào ung thư kháng thuốc (các tế bào này có khả năng đẩy lui một trong các loại thuốc chống ung thư thường được sử dụng nhất, đó là doxorubicin) giữ lại thuốc này, để nó có thể tiêu diệt các tế bào ung thư.

Theo một nghiên cứu được đăng trong tạp chí Cancer Letters số ra tháng 8 năm 2004, một hợp chất khác trong trà (chè) xanh, axit amin theanine, giúp giảm bớt các tác dụng phụ gây hại của thuốc doxorubicin bằng cách gia tăng hàm lượng của một trong số các chất oxy hóa quan trọng nhất được cơ thể sản sinh, glutathione, trong các tổ chức mô bình thường của gan và tim, nhưng không được sản sinh trong các khối u.

Tìm Hiểu Cách Thức Trà (Chè) Xanh Chống Ung Thư

Theo một nghiên cứu được đăng trên tạp chí Nghiên Cứu Ung Thư (Cancer Research) số ra tháng 3 năm 2005, các nhà khoa học Tây Ban Nha và Anh Quốc đã khám phá ra ít nhất một trong số các cơ chế qua đó trà (chè) xanh giúp ngăn ngừa một số dạng ung thư.

Chất ECGC, một loại chất catechin hiện diện trong trà (chè) xanh với số lượng cao gấp 5 lần so với số lượng có trong trà (chè) đen, ức chế men dihydrofolate reductase (DHFR), là men mà các tế bào ung thư cần đến để có thể tăng trưởng, và là một mục tiêu được các loại thuốc chống ung thư nhận ra dễ dàng.

Các nhà khoa học đã quyết định điều tra về chất ECGC sau khi họ nhận ra chất catechin trong trà (chè) xanh nhìn rất giống thuốc trị ung thư methotrexate, thuốc này ngăn chặn các tế bào ung thư tạo DNA bằng cách ức chế men DHFR.  Họ đã khám phá ra rằng chất ECGC có khả năng tiêu diệt các tế bào ung thư theo cách thức giống như loại thuốc này.

Mặc dù chất ECGC bám chặt vào men DHFR, điều này rất cần thiết đối với cả những tế bào khỏe mạnh và ung thư, nhưng chất này không bám chặt như thuốc methotrexate, do đó các tác dụng phụ của ECGC đối với các tế bào khỏe mạnh tỏ ra ít nghiêm trọng hơn so với các tác dụng phụ của loại thuốc này.

Sự liên kết giữa chất ECGC và men DHFR cũng có thể giải thích lý do tại sao phụ nữ uống nhiều trà (chè) xanh vào thời điểm họ bắt đầu mang thai và thời gian đầu mang thai có thể có nhiều nguy cơ sinh con có tật nứt đốt sống (spina bifida) hoặc có các rối loạn khác ở ống thần kinh (neural tube disorders).

Phụ nữ được khuyến khích sử dụng các loại thực phẩm chức năng chứa axit folic khi có ý định mang thai và trong thai kỳ đầu (3 tháng đầu mang thai) bởi vì chính trong thời gian này ống thần kinh của thai nhi bắt đầu phát triển.  Axit folic giúp đảm bảo sự phát triển bình thường cũng như bảo vệ chống lại tật nứt đốt sống bằng cách hỗ trợ tiến trình sản sinh men DHFR.

Mặc dù một hoặc hai ly (tách, cốc) trà (chè) xanh không có khả năng gây ra bất kỳ vấn đề sức khỏe nào, nhưng uống trà (chè) xanh với số lượng lớn có thể làm giảm chức năng hoạt động của men DHFR, làm tăng nguy cơ bị các rối loạn ống thần kinh.

Cải Thiện Tính Mẫn Cảm Insulin của Cơ Thể Trong Trường Hợp Bệnh Tiểu Đường Loại 2

Các nghiên cứu dựa trên cộng đồng cho thấy rằng tiêu thụ trà (chè) xanh có thể giúp ngăn ngừa bệnh tiểu đường (đái tháo đường) loại 2.  Một số các nghiên cứu ở động vật bắt đầu giải thích lý do tại sao.  Các nghiên cứu mới cho rằng trà (chè) xanh có thể cải thiện khả năng dung nạp glucoza và tính mẫn cảm insulin (insulin sensitivity) ở những người bị bệnh tiểu đường (đái tháo đường).  Trong một nghiên cứu, sau khi tiêu thụ trà (chè) xanh trong vòng 12 tuần, những chú chuột bị tiểu đường (đái tháo đường) có mức glucoza lúc đói, mức insulin, hàm lượng chất béo trung tính (triglycerides) và các axit béo tự do xuống thấp hơn so với nhóm kiểm soát, cũng như khả năng đáp ứng lại insulin và khả năng hấp thụ đường trong máu đã gia tăng đáng kể.

Trong một nghiên cứu khác của nhóm các nhà khoa học này, các chú chuột bị tiểu đường (đái tháo đường) được chia thành 3 nhóm và được theo dõi trong vòng 12 tuần.  Một nhóm chuột được cho ăn loại thực phẩm thông thường dành cho chuột và nước (nhóm kiểm soát), nhóm thứ hai được tiếp nhận chế độ ăn giàu fructose và nước (nhóm fructose), và nhóm thứ ba cũng được tiếp nhận chế độ ăn giàu fructose nhưng được cho uống trà xanh (nhóm trà xanh).  Khi kết thúc cuộc nghiên cứu, nhóm fructose có hàm lượng đường trong máu, insulin và huyết áp tăng cao, trong khi đó, nhóm trà xanh cho thấy có sự cải thiện của cả 3 yếu tố này.

Một nghiên cứu được đăng trên tạp chí BMC Pharmacology số ra tháng 8 năm 2004, trong đó các kiểm tra khả năng dung nạp glucoza (glucose) đã được thực hiện ở những người có sức khỏe tốt sau khi họ tiêu thụ trà (chè) xanh, cho thấy rằng trà (chè) xanh đã gia tăng khả năng sử dụng đường huyết của cơ thể.

Một nghiên cứu khá thú vị khác ở động vật, so sánh tác dụng của chế độ ăn của người phương tây, chế độ của người ăn chay và chế độ ăn của người Nhật, kèm theo hoặc không kèm theo trà (chè) xanh.  Nồng độ đường trong máu của các động vật có chế độ ăn phương tây là cao nhất, kế đến là chế độ ăn chay, và chế độ ăn của người Nhật tạo ra lượng đường trong máu thấp nhất.  Khi được bổ sung với trà (chè) xanh, các chú chuột của cả ba chế độ ăn đều có lượng đường huyết giảm xuống đáng kể, và những chú chuột trong nhóm có chế độ ăn của người Nhật không chỉ có lượng đường huyết thấp nhất mà còn được đánh giá cao nhất về các yếu tố nguy cơ khác gây bệnh tiểu đường (đái tháo đường) loại 2.  Các chú chuột có chế độ ăn của người Nhật được cho uống trà (chè) xanh được phát hiện có hàm lượng chất béo trung tính và cholesterol thấp nhất cũng như có tỷ lệ axit béo omega-3/axit béo omega-6 cao nhất (các axit béo omega-6 có tác dụng trợ viêm).  Các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng thói quen ăn uống của người Nhật kết hợp với trà (chè) xanh có thể giúp ngăn ngừa bệnh tiểu đường (đái tháo đường) loại 2.

Một trong số những cơ chế qua đó trà (chè) xanh giúp cải thiện tính mẫn cảm insulin gần đây đã được xác định trong các nghiên cứu ở phòng thí nghiệm và cho thấy rằng chất EGCG (epigallocatechin 3-gallate) có nhiều tác dụng ngăn ngừa bệnh tiểu đường (đái tháo đường) loại 2 hơn so với việc giảm bớt sự sản sinh các gốc tự do (free radicals).  Chất EGCG còn hoạt động ở cấp độ di truyền, làm giảm số lượng các RNA thông tin điều khiển các tế bào gan sản sinh các men liên quan đến quá trình hình thành glucoza (đường).

Bảo Vệ Chống Lại Bệnh Thận

Một nghiên cứu ở động vật được đăng trên tạp chí Nghiên Cứu Dược Lý (Pharmacological Research) phát hiện thêm một tác dụng có lợi nữa của việc tiêu thụ trà (chè) xanh: khả năng ngăn ngừa tình trạng suy giảm chức năng thận ở những người phải sử dụng các loại thuốc ức chế miễn dịch mạnh, ví dụ sau khi cấy ghép cơ quan.

Một loại thuốc trong số này, cyclosporine A, mặc dù là một loại thuốc ức chế miễn dịch rất hiệu quả, nhưng nó cũng làm tăng quá trình sản sinh các gốc tự do gây độc hại cao cho thận.  Trong nghiên cứu này, các chú chuột được cho tiêu thụ trà (chè) xanh khi uống nước với thuốc cyclosporine A đã tạo ra ít gốc tự do có tính phá hủy hơn so với các chú chuột chỉ uống nước.  Ngoài ra, một số dấu hiệu khác về chức năng thận (hàm lượng creatinine trong máu, hàm lượng ni tơ trong máu do urê - blood urea nitrogen, axit uric và hàm lượng glucoza trong nước tiểu) cũng tỏ ra tốt hơn nhiều ở những chú chuột được cho uống trà (chè) xanh.

Một nghiên cứu khác ở động vật được đăng trên tạp chí Annals of Nutrition & Metabolism số ra tháng 5 năm 2004 đã giải thích lý do tại sao.  Những chú chuột bị tiểu đường đã được cho tiêu thụ các chất catechin trong trà (chè) xanh, sau đó được tiếp xúc với một loại thuốc gây tổn thương thận, streptozotocin, đã tạo ra ít hơn một nửa số gốc tự do superoxide (superoxide radicals: một dạng gốc tự do đặc biệt gây hủy hoại) khi được so sánh với các chú chuột bị tiểu đường có chế độ ăn không có chất catechin.  Kết quả là, một sản phẩm thải của tế bào được hình thành trong quá trình phá hủy các chất béo của các gốc tự do, có tên là lipofuscin, ở các chú chuột không tiêu thụ chất catechin có tỷ lệ 200% cao hơn so với các chú chuột tiêu thụ chất catechin.


Tạo Xương

Các nhà nghiên cứu tại trường Đại Học Tokyo (University of Tokyo) đã chứng minh việc uống trà (chè) xanh có thể làm tăng đáng kể mật độ khoáng chất của xương.

Nghiên cứu này, được báo cáo tại Hội Thảo Thế Giới của Hiệp Hội Loãng Xương Quốc Tế về Chứng Loãng Xương (International Osteoporosis Foundation World Congress on Osteoporosis), thành phố Toronto, Canada, ngày 5 tháng 6 năm 2006, bao gồm 655 phụ nữ tuổi từ 60 trở lên.  Những người tham gia nghiên cứu đã hoàn tất một bản câu hỏi thăm dò về việc tiêu thụ trà (chè) xanh, sữa, phó mát (cheese), sữa chua (yogurt), cá, rau củ, đậu hũ, natto (một loại thực phẩm làm từ đậu nành), thịt, cà phê, hút thuốc lá, và tiêu thụ rượu bia, hoạt động thể chất và việc sử dụng các loại thuốc chống loãng xương chẳng hạn như Fosamax.

Đối với mỗi hạng mục dinh dưỡng, những người tham gia được chia thành 2 nhóm: nhóm 1 bao gồm những người tiêu thụ hạng mục này từ 5 ngày trở lên mỗi tuần, và nhóm 2 bao gồm những người tiêu thụ hạng mục này chưa đến 5 ngày mỗi tuần.  Các nhà nghiên cứu sau đó đo mật độ khoáng chất của xương (bone mineral density – BMD) ở cột sống phần thắt lưng của phụ nữ, cũng như các yếu tố đánh dấu trong máu báo hiệu nguy cơ bị loãng xương, bao gồm hàm lượng canxi, photpho, kích thích tố tuyến cận giáp (parathyroid hormone), men phosphatase hoạt động trong môi trường kiềm, protein liên kết canxi trong xương (osteocalcin), và vitamin D.

Những phụ nữ uống trà (chè) xanh từ 5 ngày trở lên mỗi tuần có mật độ xương trung bình cao hơn (0,808 g canxi dạng hydroxyapatite trong mỗi cm vuông) so với những người phụ nữ uống trà (chè) xanh chưa đến 5 ngày mỗi tuần (0.738 g mỗi cm vuông).

Lợi thế về mật độ xương của những người uống trà (chè) xanh vẫn duy trì thậm chí sau khi các kết quả được điều chỉnh theo tuổi tác, chỉ số trọng lượng cơ thể (BMI), các hạng mục khác trong chế độ ăn, hút thuốc, rượu bia, hoạt động thể chất và việc sử dụng các loại thuốc chống loãng xương.

Nhóm nghiên cứu ở Tokyo đã đưa ra giả thuyết cho rằng các chất flavonoid thuộc nhóm catechin trong trà (chè) xanh đã tạo ra những lợi ích thông qua những hiệu ứng estrogen được xem là có tác dụng tạo độ cứng cho xương và thúc đẩy quá trình tự hủy (apoptosis) ở các tế bào phân hủy xương (osteoclasts).  Cả hai cơ chế có những cách thức giống với các loại thuốc bisphosphanate như Fosamax giúp ngăn ngừa loãng xương.  Trong khi các loại thuốc này có thể gây ra những rối loạn viêm mắt, đau bụng, buồn nôn, nôn mửa, khó tiêu (dyspepsia) và tiêu chảy (diarrhea), thì trà (chè) xanh không chỉ an toàn tuyệt đối, mà còn là một loại thức uống thơm ngon và cung cấp một loạt các lợi ích sức khỏe khác.

Trà (Chè) Xanh Cung Cấp Các Lợi Ích Cho Xương Tương Tự Như Canxi hoặc Thể Dục

Các nhà nghiên cứu người Úc báo cáo rằng những người uống trà (chè) xanh có mật độ khoáng chất trong xương (BMD) cao hơn so với những người không uống trà xanh là 2,8%.  Nghiên cứu này bao gồm 1500 phụ nữ (tuổi từ 70 – 85) trong một thử nghiệm triển vọng trong vòng 5 năm, tìm kiếm các tác dụng của những thực phẩm chức năng đối với tình trạng gãy (nứt) xương do loãng xương.  Những người uống trà (chè) không chỉ có mật độ xương lớn hơn những người không uống trà (chè) là 2,8%, mà trong khoảng thời gian 4 năm, những người uống trà (chè) còn giảm bớt được tình trạng loãng mật độ xương hông với tỷ lệ là 1,6%, trong khi đó, những người không uống trà (chè) bị tình trạng loãng mật độ xương hông cao gấp 2 lần (4%).

Bốn chất polyphenol chính trong trà (epigallocatechin gallate (EGCG), epigallocatechin, epicatechin gallate, và epicatechin) được xác định là những chất tạo ra các tác dụng này.  Trà (chè) xanh chứa khoảng 30 – 40% các chất polyphenol có thể chiết xuất, trong khi đó trà (chè) đen chứa khoảng 3 – 10%.

“Một cuộc xem xét gần đây cho thấy rằng các chất flavonoid từ trà (chè) xanh có thể liên quan đến hiện tượng gia tăng mật độ xương thông qua một tác dụng kích thích tiềm năng đối với chức năng của các tế bào tạo xương (osteoblast)”, theo lời của nhà nghiên cứu đứng đầu Amanda Devine.  (Devine A, Hodgson JM, et al., Am J Clin Nutr.).

Ngăn Ngừa Chứng Loãng Xương và Các Bệnh Nha Chu

Tình trạng loãng xương quá mức là một nét đặc thù không chỉ của chứng loãng xương mà còn là của bệnh nha chu (periodontal disease).  Trà (chè) xanh hỗ trợ cho xương và răng khỏe mạnh bằng cách bảo vệ các tế bào tạo xương (osteoblasts) không bị các gốc tự do phá hủy, và bằng cách ức chế quá trình hình thành các tế bào phân hủy xương (osteoclasts).

Một lợi ích khác của việc tiêu thụ trà (chè) xanh đối với những người có bệnh nha chu: trà (chè) xanh ngăn ngừa các tác hại của các vi khuẩn gây ra bệnh nha chu, Porphyromonas gingivalis.  Loại vi khuẩn này phá hủy lợi răng bằng cách sản sinh các sản phẩm phụ độc hại như axit phenylacetic và bằng cách kích thích sự sản sinh và hoạt động của các men metalloproteinases (MMPs), các men này tiêu diệt các thành phần khoáng chất và hữu cơ tạo nên chất nền cho xương.  Chất EGCG ức chế vi khuẩn P. gingivalis sản sinh axit phenylacetic và các men metalloproteinases.

Bảo Vệ Gan Chống Lại Cồn và Các Chất Hóa Học Độc Hại Khác

Quá trình chuyển hóa cồn dẫn đến sự sản sinh các gốc tự do gây hủy hoại mà chúng có thể lấn át nguồn cung cấp các chất chống oxy hóa của gan, do đó làm cho gan bị thương tổn.  Trong một nghiên cứu được đăng trong tạp chí Alcohol số ra tháng giêng năm 2004 trong đó các chú chuột được cho tiêu thụ chất cồn thường xuyên trong vòng 4 tuần, trà (chè) xanh đã ngăn ngừa tình trạng phá hủy gan của chúng.

Nghiên cứu khác ở động vật cho thấy rằng chất EGCG (epigallocatechin-3-gallate) giúp bảo vệ gan chống lại các gốc tự do được tạo ra khi các chú chuột tiếp xúc với CCl4 (carbon tetrachloride), một dung môi hóa học có tác dụng gây độc.  Nếu không có sự bảo vệ của chất EGCG, thì việc tiếp xúc với CCl4 sẽ sản sinh vô số các gốc tự do có khả năng tiêu diệt một số lượng đáng kể các tế bào gan của động vật.  Với sự hiện diện của chất EGCG, số lượng gốc tự do được sản sinh và các thương tổn ở gan giảm xuống đáng kể, do đó các nhà nghiên cứu đã đề xuất rằng trà (chè) xanh nên được sử dụng trong việc điều trị bệnh gan.

Không giống như một số dược thảo, các tác dụng bảo vệ của trà (chè) xanh xem ra không ảnh hưởng đến 2 trong số các men gan có nhiệm vụ khử độc và thải trừ các loại thuốc, 2 loại men này là P-450 2D6 và 3A4.  Điều này cho thấy rằng trà (chè) xanh có thể được tiêu thụ một cách an toàn khi đang sử dụng các loại thuốc phụ thuộc chủ yếu vào các lộ trình chuyển hóa của men CYP2D6 hoặc CYP3A4.  Hy vọng rằng các nghiên cứu trong tương lai sẽ chứng minh được lợi ích tiềm năng này.

Mặt khác, một nghiên cứu đã tìm thấy rằng trà (chè) xanh của người Nhật thực sự làm tăng hoạt động của men CYP1A1.  Các nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết rằng sự gia tăng hoạt động của loại men gan này có thể là một trong những cách trà (chè) xanh giúp bảo vệ chống lại bệnh ung thư do các chất gây ung thư từ chế độ ăn gây ra.

Thúc Đẩy Quá Trình Giảm Béo

Trà (chè) xanh không chỉ làm tăng khả năng giảm béo, mà một cách đặc biệt, nó còn giúp giảm bớt chất béo nội tạng (visceral fat), tích lũy trong các mô lót khoang bụng, bao quanh ruột và nội tạng.  Không giống chất béo tích lũy ở hông và bắp đùi (dẫn đến hình thể “quả lê”), chất béo nội tạng (tạo ra hình thể “quả táo”) liên quan mật thiết đến đến nguy cơ gia tăng bị hội chứng chuyển hóa (metabolic syndrome) và bệnh tiểu đường (đái tháo đường) loại 2.

Trà (chè) xanh chứa 3 thành phần chính có tác dụng thúc đẩy quá trình giảm béo: catechin, caffeine và theanine.  Các nghiên cứu cho thấy rằng các hợp chất trong trà (chè) xanh thúc đẩy quá trình giảm béo bằng cách ức chế cả hai loại men thủy phân chất béo của tuyến tụy và dạ dày lipase, các men này tiêu hóa chất béo trung tính (triglycerides), và men tổng hợp axit béo, loại men tổng hợp các axit béo dưới dạng mà chúng có thể được lưu trữ trong các tế bào mỡ của cơ thể.

Trong một nghiên cứu được đăng trên tạp chí In Vivo số ra tháng giêng năm 2004 trong đó các chú chuột được nuôi bằng chế độ ăn chứa 2% bột trà (chè) xanh trong vòng 16 tuần, số lượng chất béo nội tạng đã giảm với tỷ lệ khoảng 76,8% ở những chú chuột tiếp nhận trà (chè) xanh khi được so sánh với nhóm kiểm soát.  Trà (chè) xanh cũng giúp hạ giảm hàm lượng chất béo trung tính trong máu (một dạng chất béo hiện diện nhiều nhất trong cơ thể).

Một nghiên cứu ở người, được đăng trên Tạp Chí Dinh Dưỡng Lâm Sàng Hoa Kỳ (American Journal of Clinical Nutrition), chứng thực trà (chè) xanh không chỉ có khả năng hạ giảm chất béo trong cơ thể, mà còn giúp phân hủy cholesterol “xấu” LDL.  Sau 12 tuần uống một chai trà (chè) xanh mỗi ngày, 38 người đàn ông có cân nặng bình thường và quá cân ở Tokyo đã giảm được đáng kể cân nặng của cơ thể, chỉ số trọng lượng cơ thể (BMI), vòng eo, trọng lượng chất béo cơ thể và số lượng mỡ dưới da khi được so sánh với những người đàn ông được cho uống một chai trà (chè) oolong mỗi ngày.

Sau 2 tuần, những người đàn ông này được chia thành 2 nhóm, một nhóm uống một chai trà (chè) xanh chứa 690 mg catechin, còn nhóm kia uống 1 chai trà (chè) oolong chứa 22 mg catechin.  Những người đàn ông uống trà (chè) xanh không chỉ giảm cân và chất béo, mà số lượng cholesterol “xấu” LDL bị các gốc tự do phân hủy còn hạ xuống một cách đáng kể.  Vì các mảng vữa động mạch phát triển khi cholesterol tuần hoàn trong máu bị phá hủy hoặc bị oxy hóa, do đó khả năng ngăn ngừa các phản ứng oxy hóa này của trà (chè) xanh có thể giải thích cho một số tác dụng bảo vệ chống lại các chứng bệnh tim mạch.

Gia Tăng Sức Bền Thể Dục

Những chú chuột trong phòng thí nghiệm được cho tiêu thụ chất chiết xuất từ trà (chè) xanh trong vòng 10 tuần đã gia tăng thời gian bơi trong nước trước khi bị đuối sức với tỷ lệ là 24%.

Các chất catechin trong trà (chè) xanh có khả năng kích thích các tế bào gan và các tế bào cơ sử dụng axit béo.  Trong các tế bào cơ, khả năng đốt mỡ sẽ chuyển thành quá trình hạ giảm tỷ lệ glycogen, một dạng carbohydrate được lưu trữ, được tiêu thụ hết, do đó cho phép thời gian tập thể dục lâu hơn.  Tác dụng của trà (chè) xanh đối với khả năng hấp thụ và phân hủy các axit béo của các tế bào cơ cũng được xem là lý do tại sao trà (chè) xanh giúp giảm cân.

Ý tưởng của cuộc thí nghiệm này bắt nguồn từ lập luận cho rằng các cơ vân (skeletal muscle) sử dụng carbohydrate, lipit (chất béo) và axit amin (protein) dưới dạng các nguồn năng lượng, nhưng tỷ số trong đó các chất này được sử dụng thay đổi tùy theo cường độ và loại hình thể dục, và tình trạng sức khỏe của mỗi cá nhân.  Trong thời gian luyện tập sức bền, việc sử dụng quá nhiều carbohydrate có thể gây rắc rối bởi vì nó sẽ kích thích tiến trình phóng thích insulin, từ đó ức chế khả năng phân hủy các axit béo và kích thích chức năng sản sinh axit lactic.  (Sự tích lũy axit lactic là nguyên nhân gây ra cảm giác đau nhức ở cơ khi bạn tập thể dục).  Trái lại, gia tăng việc sử dụng các axit béo sẽ làm giảm khả năng sử dụng carbohydrate, do đó không cần đến glycogen (dạng carbohydrate được lưu trữ trong cơ để sử dụng nhanh) và ức chế quá trình sản sinh axit lactic, kết quả là làm tăng sức bền”.

Tuy nhiên, uống một ly (tách, cốc) trà (chè) xanh trước khi tập thể dục sẽ không mang lại hiệu quả.  Một liều lượng cao trà (chè) xanh không có khả năng cải thiện phong độ của các chú chuột trong phòng thí nghiệm.  Các động vật này đã phải tiêu thụ trà (chè) xanh mỗi ngày, và sức bền gia tăng dần dần trong vòng 10 tuần của cuộc nghiên cứu.

Để có được tác dụng có lợi về sức bền của các động vật trong cuộc nghiên cứu, các nhà nghiên cứu ước tính rằng một vận động viên có cân nặng 165 lbs (75 kg) cần phải uống khoảng 4 ly (tách, cốc) trà (chè) xanh mỗi ngày.

Bảo Vệ Chống Lại Tình Trạng Suy Giảm Chức Năng Nhận Thức, Bệnh Alzheimer và Bệnh Parkinson

Tình trạng phá hủy các tế bào não trong trường hợp bệnh Parkinson, Alzheimer và các bệnh thoái hóa thần kinh khác dường như do sự kết hợp của một số yếu tố gây hủy hoại bao gồm hiện tượng viêm nghiêm trọng và tăng hàm lượng chất sắt, cả hai tình trạng này sẽ dẫn đến số lượng các gốc tự do được sản sinh tăng lên, hiện tượng cạn kiệt nguồn cung cấp các chất chống oxy hóa có tính bảo vệ của não và kích thích việc sản sinh một số protein, chẳng hạn như amyloid-beta, mà quá trình này thúc đẩy quá trình tự hủy của tế bào (apoptosis).

Các chất catechin trong trà (chè) xanh, cho đến gần đây được xem chỉ có tác dụng chống oxy hóa, nhưng hiện nay được biết có khả năng kích hoạt một loạt các cơ chế tế bào có tính chất bảo vệ thần kinh.  Các cơ chế này bao gồm khử chất sắt (iron chelation), tiêu diệt các gốc tự do, kích hoạt các gen kiểm soát sự sống (survival genes) và các lộ trình phản ứng trao đổi thông tin của tế bào, cũng như sự kiểm soát chức năng của ty lạp thể chứa ATP (mitochondria).  (Ty lạp thể chứa ATP là cơ quan sản xuất năng lượng bên trong các tế bào.  Khi các ty lạp thể này hoạt động không bình thường, chúng sẽ tạo ra nhiều gốc tự do và rất ít năng lượng cho tế bào).  Kết quả cuối cùng là giúp giảm bớt đáng kể tình trạng hủy hoại các tế bào não.

Sự tích lũy chất sắt trong các khu vực đặc biệt của não và tình trạng các gốc tự do phá hủy các tế bào não được xem là các yếu tố hủy hoại chính đối với một loạt các rối loạn thoái hóa thần kinh, bao gồm bệnh Parkinson và bệnh Alzheimer.

Trong não, chất EGCG được chứng minh có vai trò liên kết với chất sắt dư thừa trong máu, do đó ngăn chặn sắt góp phần tạo ra các gốc tự do.  Ngoài khả năng khử chất sắt, chất EGCG còn có khả năng làm tăng hoạt động của hai men chống oxy hóa quan trọng, superoxide dismutase (SOD) và catalase, vì thế càng giúp giảm bớt tình trạng phá hủy tế bào của các gốc tự do.

Một hợp chất hoạt hóa khác trong trà (chè) xanh, epicatechin (EC), có tác dụng làm giảm số lượng protein amyloid-beta được hình thành.  Các chất bám giống mảng vữa của protein amyloid-beta trong não là một nét đặc thù của bệnh Alzheimer.

Các nghiên cứu ở động vật được tiến hành tại Trung Tâm Nghiên Cứu Bệnh Viện Douglas, trường Đại Học McGill (McGill Univeristy), Quebec, Canada, cho thấy rằng tiêu thụ 1 hoặc hai ly (tách, cốc) trà (chè) xanh hoặc trà (chè) đen mỗi ngày có thể giúp giảm bớt các rối loạn thoái hóa não liên quan đến tuổi tác như bệnh Alzheimer.

Các nhà nghiên cứu đã xem xét các tác dụng bảo vệ của hai loại trà (chè) này cũng như các thành phần chính của chúng, epigallocatechin gallate và epicatechin gallate, mà chúng có nồng độ khá cao trong trà (chè) xanh, đối với các tế bào não đang chết đi.  Cả hai loại trà (chè) xanh và đen cũng như các chất catechin có khả năng giúp ngăn chặn hiệu quả tình trạng hoại tử của các tế bào thần kinh ở não.

Khi các nhà nghiên cứu cho các tế bào thần kinh não được nuôi cấy tiếp xúc riêng với amyloid, thì mức độ độc hại của protein này quá mạnh đến độ các tế bào não đã bị chết đi, nhưng khi các mẫu nuôi cấy tế bào tiếp xúc với protein amyloid ngay sau khi tiếp nhận trà (chè) và các chất catechin, thì các tế bào thần kinh não đã được cứu sống và tiếp tục sinh tồn.  

Các chất polyphenol trong trà (chè) xanh cũng thể hiện khả năng tác động đến các lộ trình phản ứng trao đổi thông tin của các tế bào (cell signaling pathways), đặc biệt trong các lộ trình MAPK (MAPK pathways - Mitogen-activated protein kinases pathways), lộ trình này được kích hoạt bởi các gốc tự do, và bản thân chúng cũng thúc đẩy một loạt các phản ứng hóa học có tính hủy hoại cao đến nỗi có thể làm cho các tế bào chết đi.  Các lộ trình MAPK bên trong các tế bào não được xem đóng một vai trò quan trọng đối với các chứng bệnh thoái hóa thần kinh.

Một lộ trình phản ứng trao đổi thông tin tế bào quan trọng khác, lộ trình PKC, cũng được xem đóng một vai trò thiết yếu trong việc kiểm soát sự tồn tại của tế bào và quá trình tự hủy tế bào.  Chất EGCG cũng tạo ảnh hưởng có lợi cho lộ trình này.

Mặc dù chưa có nghiên cứu bệnh Alzheimer nào ở người báo cáo các lợi ích từ việc tiêu thụ trà (chè), nhưng các nghiên cứu dựa trên cộng đồng mới đây đã chứng minh rằng chỉ cần tiêu thụ từ hai ly (tách, cốc) trà (chè) xanh mỗi ngày cũng có thể hạ giảm nguy cơ bị suy giảm nhận thức và bệnh Parkinson.

Trà (Chè) Xanh Giúp Cho Người Cao Tuổi Minh Mẫn: Nghiên Cứu Cho Thấy Nhiều Cách Thức

Trà (chè) xanh giúp làm chậm bớt tình trạng suy giảm chức năng não liên quan đến tuổi tác chẳng hạn như giảm trí nhớ, suy giảm nhận thức, chứng mất trí (dementia) và bệnh Alzheimer, theo một nghiên cứu ở người được đăng trên Tạp Chí Dinh Dưỡng Lâm Sàng Hoa Kỳ (The American Journal of Clinical Nutrition) số ra tháng 2 năm 2006.

Các nhà nghiên cứu tại trường Đại Học Tohoku (Tohoku University), Nhật Bản, đã nghiên cứu 1003 đối tượng trên 70 tuổi, so sánh việc tiêu thụ trà (chè) xanh của họ với tính minh mẫn của trí óc, bằng cách sử dụng một Kiểm Tra Nhỏ về Trạng Thái Tinh Thần (Mini Mental State Examination), một kiểm tra tiêu chuẩn hóa phổ biến được sử dụng để đo chức năng nhận thức.

Uống trên 2 ly (tách, cốc) trà (chè) xanh mỗi ngày đã cắt giảm được tỷ lệ suy giảm nhận thức ở những người đàn ông và phụ nữ Nhật cao tuổi khoảng 64%! Một ly (tách, cốc) trà (chè) xanh của người Nhật có dung lượng (3,2 oz – 95 ml) nhỏ hơn nhiều so với ly trà (chè) của người Mỹ.

Ở mỗi mức độ bị suy giảm nhận thức – từ nhẹ nhất cho đến nghiêm trọng – những người uống nhiều trà (chè) xanh nhất sẽ ít gặp phải tình trạng suy giảm nhận thức hơn một cách đáng kể so với những người uống ít nhất:

Khi được so sánh với những người Nhật cao tuổi uống chưa đến 3 ly (tách, cốc) một tuần, những người uống trên 2 ly (tách, cốc) một ngày đã giảm được 54% nguy cơ bị suy giảm trí nhớ, sự định hướng, khả năng làm theo yêu cầu và khả năng tập trung.

Những người uống từ 4 – 6 ly (tách, cốc) trà (chè) xanh một tuần (mỗi ngày 1 ly) giảm được 38% nguy cơ bị suy giảm chức năng não.

Chất có tính bảo vệ chính của trà (chè) xanh được xem là EGCG.  Nghiên cứu cho thấy chất chống oxy hóa mạnh này:

-      Giúp ngăn ngừa sự hình thành B-amyloid, một loại protein khi tích lũy nhiều sẽ gây ra bệnh Alzheimer (Basianetto S, Eur J Neurosci Jan 2006).
-      Bảo vệ các tế bào não bằng cách khử chất sắt, nếu không chất sắt có thể sản sinh các gốc tự do có tính phá hủy (Reznichenko L, J Neurochem, March 2006).
-      Giúp ngăn ngừa các tế bào não bị chết đi do các gốc tự do gây ra bằng cách “nói chuyện” với các gen của tế bào não có chức năng kiểm soát chu kỳ phân bào và khả năng tồn tại của tế bào.  Một cách đặc biệt, chất EGCG yêu cầu các gen ở các tế bào thần kinh giảm bớt việc sản sinh chất caspase 3, một loại men (enzyme) liên quan đến việc khởi xướng quá trình tự hủy của tế bào.  (Park HJ, Life Sci Jan 2006; Levites Y. J Biol Chem, 2002).
-      Kích thích khả năng ghi nhớ bằng cách bảo vệ các tế bào ở cấu trúc chân hải mã ở não (hippocampus), một khu vực của não liên quan đến nhận thức về không gian và khả năng ghi nhớ, không bị các gốc tự do phá hủy (Haque AM, J Nutr April 2006).

Trà (Chè) Xanh Chống Cảm Cúm

Một ly (tách, cốc) trà (chè) xanh có thể giúp ngăn ngừa hoặc giảm thời gian diễn tiến của bệnh cúm.  Trong một nghiên cứu ở phòng thí nghiệm, được đăng trên tạp chí Nghiên Cứu Kháng Virut (Antiviral Research) số ra tháng 11 năm 2005, chất EGCG đã ức chế đáng kể quá trình tái tạo bản sao của virut cúm trong mẫu nuôi cấy tế bào trong tất cả các chủng loại phụ của virut cúm đã được xét nghiệm.  Chất EGCG xem ra có khả năng ức chế quá trình tổng hợp RNA của virut bằng cách thay đổi các đặc tính hóa học của màng bao bọc virut.

Tiêu Đen Giúp Gia Tăng Số Lượng Chất EGCG

Một nghiên cứu ở động vật cho thấy rằng tiêu thụ tiêu đen trong khi đang uống trà (chè) xanh có thể làm tăng đáng kể số lượng chất EGCG được hấp thụ.  Trong nghiên cứu này, các chú chuột được cho tiêu thụ trà (chè) xanh cùng với piperine (một thành phần hoạt hóa sinh học trong tiêu đen) đã hấp thụ chất EGCG với tỷ lệ 130% cao hơn so với những chú chuột trong nhóm chỉ tiếp nhận chất EGCG.

Trong nghiên cứu này, chất piperine được tìm thấy có khả năng ức chế phản ứng cộng axit glucuronic (glucuronidation) vào EGCG trong ruột.  Phản ứng cộng axit glucuronic là một phản ứng hóa học có chức năng như một trong những cách cơ thể chuyển hóa thuốc, steroid, và nhiều chất khác thành các chất chuyển hóa mà sau đó có thể được thải vào nước tiểu hoặc mật.  Bằng cách ức chế phản ứng cộng axit glucuronic vào EGCG, chất piperine cho phép nhiều chất catechin được hấp thụ và được sử dụng hơn.  Do đó, lần sau khi bạn thưởng thức một ly (tách, cốc) trà (chè) xanh trong bữa ăn, hãy nhớ cho thêm một ít tiêu đen vào món canh, xà lách hoặc các món khai vị của bạn.