About

Monday, March 31, 2014

TIN TỨC Y HỌC - Do LQT Biên Dịch




CHƠI GIỠN NGOÀI TRỜI CÓ THỂ GIẢM CẬN THỊ Ở TRẺ EM

Các kết quả của một nghiên cứu mới đây cho thấy rằng trẻ em được yêu cầu chơi giỡn ngoài trời trong giờ nghỉ có thể có ít nguy cơ bị cận thị.




Nghiên cứu, được đăng trên tạp chí Nhãn Khoa (Ophthalmology) số ra tháng 5 năm 2013, là nghiên cứu đầu tiên sử dụng một chính sách về giáo dục như một phương pháp can thiệp sức khỏe thị lực công cộng ở Đài Loan và kết hợp với nghiên cứu trước đây về mối liên hệ giữa thời gian ở ngoài trời và chứng cận thị.

Tất cả 333 học sinh tại một trường tiểu học ở Đài Loan được yêu cầu dành thời gian ngoài trời trong giờ nghỉ từ 2009 đến 2010. Các trẻ em này đã dành ra tổng cộng 80 phút chơi giỡn ngoài trời mỗi ngày. Một trường tiểu học khác trong khu vực này đã không yêu cầu các trẻ dùng thời gian nghỉ để ra ngoài và đây là nhóm kiểm soát. Học sinh của cả hai trường đều được kiểm tra mắt vào lúc bắt đầu của cuộc nghiên cứu và một năm sau đó khi cuộc nghiên cứu kết thúc.

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện rằng có rất ít trẻ em bị cận thị hoặc có nguy cơ bị cận thị ở trường đã yêu cầu giờ nghỉ ngoài trời khi được so sánh với nhóm kiểm soát (control group). Các tác giả nghiên cứu đề xuất rằng các trường tiểu học ở Châu Á, nơi có nhiều trẻ em bị cận thị, nên cho học sinh có giờ chơi ngoài trời đồng thời thêm vào các hoạt động ngoài trời khác trong ngày để bảo vệ thị lực cho các trẻ.

“Bởi vì trẻ em dành nhiều thời gian trong trường, cho nên phương pháp can thiệp dựa vào trường học là một cách trực tiếp và thiết thực nhất để khắc phục tỷ lệ mắc chứng cận thị đang gia tăng”, theo lời của nhóm trưởng nhóm nghiên cứu, tiến sĩ y khoa Pei-Chang Wu, trong một công bố mới đây. 
(Trở về đầu trang)


BỘ NÃO SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TỪ THỰC PHẨM NHƯ THẾ NÀO?

Bộ não là một cơ quan “thèm khát” năng lượng. Cho dù chỉ chiếm 2% trọng lượng của cơ thể, nhưng bộ não sử dụng trên 20% số năng lượng hấp thụ hàng ngày. Vì não đòi hỏi một nhu cầu năng lượng cao như thế, cho nên các thực phẩm chúng ta tiêu thụ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chức năng hoạt động của não, bao gồm mọi hoạt động từ khả năng học và ghi nhớ đến các cảm xúc.




Cũng giống như các tế bào khác trong cơ thể, các tế bào não sử dụng một dạng đường (sugar) có tên là glucoza (glucose) để tạo nhiên liệu cho các hoạt động của tế bào. Nguồn năng lượng này bắt nguồn từ các loại thực phẩm chúng ta tiêu thụ mỗi ngày, và theo máu, nó được đưa đến các tế bào não (còn được gọi là neuron) một cách đều đặn.

Các nghiên cứu cho thấy chất lượng của các thực phẩm được tiêu thụ trong suốt thời gian sống sẽ ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng hoạt động của não. Ví dụ, việc tiêu thụ các axit béo omega-3 được tìm thấy trong cá sẽ cung cấp những chất liệu cấu tạo để duy trì các tế bào não. Các nghiên cứu cũng cho thấy các axit béo omega-3 rất cần thiết cho tiến trình trao đổi thông tin giữa các tế bào não. Ngược lại, các thực phẩm giàu chất đường và các chất béo bão hòa (saturated fats) đã được phát hiện có nguy cơ thúc đẩy các tiến trình hủy hoại oxy hóa, dẫn đến hiện tượng các màng tế bào bị phá hủy.

Thực phẩm bạn ăn vào cũng ảnh hưởng đến các phân tử có tác dụng hỗ trợ khả năng nhận thức trong não. Một số loại thực phẩm, chẳng hạn như các loại có thành phần của củ nghệ, có khả năng hỗ trợ khả năng nhận thức bằng cách giúp duy trì các phản ứng phân tử liên quan đến quá trình chuyển hóa năng lượng.

Các nghiên cứu mới đây cho thấy các chọn lựa về lối sống mà chúng ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa của các tế bào thần kinh, chẳng hạn như chế độ ăn và thể dục, trong một số trường hợp có thể cung cấp một chiến lược không xâm lấn và hiệu quả để đối phó với các rối loạn thần kinh và nhận thức. 
(Trở về đầu trang)


NÔNG SẢN TƯƠI CHỨA NHIỀU CHẤT DINH DƯỠNG HƠN NÔNG SẢN ĐÓNG LON?

CƠ SỞ LẬP LUẬN

Một phương pháp làm cho các bữa ăn lành mạnh trở nên kinh tế hơn là sử dụng các nông sản đóng lon, chúng thường rẻ và tiện lợi hơn so với các nông sản tươi. Nhưng điều này có nghĩa là phải hy sinh các chất dinh dưỡng cần thiết?




May mắn thay, chúng ta không phải hy sinh gì cả. Các nghiên cứu cho thấy rằng giống như các nông sản đông lạnh, các nông sản đóng lon – miễn là không được cho thêm đường và muối vào – vẫn có đầy đủ các chất dinh dưỡng như các nông sản tươi.

Trái cây (hoa quả) và rau củ vừa được hái thường có chứa nhiều vitamin và các chất dinh dưỡng hơn. Nhưng quá trình vận chuyển thường làm giảm chất lượng sản phẩm, và các nông sản được bán ở nhiều siêu thị (chợ) thường nằm trên các kệ trưng bày hoặc được lưu giữ trong kho vài ngày mới đến được với người tiêu thụ.

Các nông sản đóng lon cũng có thể mất đi một số giá trị dinh dưỡng, đặc biệt các chất dinh dưỡng hòa tan trong nước như các loại vitamin B và C. Nhưng nói chung, các chất dinh dưỡng trong các nông sản đóng lon tương đối ổn định vì chúng được bảo vệ không bị khí oxy làm hư hại, và đây là cơ sở lập luận được nhấn mạnh trong một báo cáo đăng trên Tạp Chí Khoa Học Thực Phẩm và Nông Nghiệp (The Journal of the Science of Food and Agriculture) của các nhà nghiên cứu tại trường Đại Học California (University of California), thành phố Davis.

“Trái cây (hoa quả) và rau củ tươi thường mất đi các chất dinh dưỡng ở tốc độ nhanh hơn so với các sản phẩm đóng lon hoặc đông lạnh”, theo báo cáo của các nhà nghiên cứu. “Tình trạng mất đi chất dinh dưỡng trong khi lưu kho có thể còn nghiêm trọng hơn là người tiêu thụ có thể tưởng tượng” và có thể không được đề cập đến trong các nhãn dinh dưỡng (nutrition labels).

Đương nhiên, chọn lựa nào (tươi sống hoặc đóng lon) cũng có lợi cho sức khỏe.

KẾT LUẬN

Mặc dù không được số đông ưa chuộng, nhưng các nông sản đóng lon vẫn giữ lại được nhiều chất dinh dưỡng cần thiết, trong một số trường hợp còn tốt hơn hàm lượng dinh dưỡng trong các nông sản tươi sống. 
(Trở về đầu trang)


CÀ PHÊ CÓ CHỮA ĐƯỢC CÁC CƠN NHỨC ĐẦU KHÔNG?




Có hai giả thuyết. Giả thuyết thứ nhất: Một cơn nhức đầu xuất hiện khi cơ thể tiết ra chất adenosine, một chất hóa học có tác dụng làm viêm (sưng tấy) các mạch máu, tạo ra tình trạng đau. Chất caffeine trong cà phê ngăn chặn chất adenosine và giúp cho các mạch máu thu hẹp lại. Giả thuyết thứ hai cho rằng chất caffeine làm tăng tính hiệu quả của các loại thuốc giảm đau, giúp cơ thể hấp thụ các loại thuốc này nhanh hơn để hạ giảm cơn đau mau hơn. Do đó, nhiều loại thuốc giảm đau có chứa chất caffeine, và đó là lý do tại sao uống thuốc Advil với cà phê có thể giúp cho cơn nhức đầu của bạn. (Trở về đầu trang)


NƯỚC CỨNG CÓ THỂ NGĂN NGỪA CÁC VẤN ĐỀ VỀ TIM

Các nhà nghiên cứu ở Phần Lan đã phát hiện ra rằng nước cứng (hard water: nước chứa một số loại muối chẳng hạn như muối canxi và magie, tạo chất kết tủa với xà phòng, và tạo chất lắng trong nước) và florua (fluoride) có tác dụng bảo vệ chống lại tình trạng nhồi máu cơ tim (heart attack).




Có những thay đổi khác nhau về tỷ lệ nhồi máu cơ tim ở Phần Lan, mà khó có thể được giải thích bằng các yếu tố nguy cơ truyền thống. Do đó, các nhà nghiên cứu của trung tâm Khảo Sát Địa Chất Phần Lan (Geological Survey of Finland), thành phố Kuopio, tiến hành phân tích cách thức các thành phần khoáng chất trong nước ngầm có thể ảnh hưởng đến nguy cơ nhồi máu cơ tim.

Họ đã nghiên cứu một nhóm gồm khoảng 19 000 người đàn ông tuổi từ 35 đến 74 đã từng bị một cơn nhồi máu cơ tim. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy rằng cứ mỗi đơn vị gia tăng trong độ cứng của nước, thì có tỷ lệ tương ứng là 1% hạ giảm nguy cơ bị một cơn nhồi máu cơ tim.

Tiến trình phân tích cho thấy không có mối liên hệ rõ rệt nào giữa thành phần khoáng chất trong nước ngầm và nguy cơ bị nhồi máu cơ tim, nhưng hàm lượng cao florua xem ra có khả năng bảo vệ. Hàm lượng cao chất sắt và đồng lại có tác dụng ngược lại. Cứ 1 mg florua trong mỗi lít nước uống của gia đình sẽ tương ứng với 3% khả năng hạ giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim. Nhưng 1 phần triệu gam đồng gia tăng và 1 mg sắt gia tăng trong mỗi lít nước uống sẽ làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim khoảng 4% và 10%, tương ứng với từng thành phần. Có nghiên cứu khác chỉ ra vai trò của các nguyên tố vi lượng (trace elements) trong nước và đất đối với bệnh mãn tính. Đất và đá ở nhiều nước Bắc Âu chứa rất ít các khoáng chất cần thiết. Nhưng bổ sung các chất này vào nước uống, đương nhiên, vẫn còn đang được tranh luận. 
(Trở về đầu trang)


DỊ ỨNG HAY CẢM LẠNH?

Cảnh báo: Các nhà nghiên cứu nói rằng mùa dị ứng năm nay có thể diễn tiến xấu nhất trong lịch sử, và cho rằng các mùa dị ứng sẽ kéo dài lâu hơn cũng như trở nên nghiêm trọng hơn mỗi năm.  Nhưng đó có phải là nguyên nhân đằng sau hiện tượng đột nhiên hắt hơi của bạn?  Có thể là không. 




Một nghiên cứu mới đây do Hiệp Hội Dị Ứng và Bệnh Suyễn (Asthma and Allergy Foundation) thực hiện đã tìm thấy rằng 51% những người tự chẩn đoán lầm bị dị ứng trong khi các triệu chứng của họ thực sự là dấu hiệu của những vấn đề sức khỏe khác.

Mặc dù các triệu chứng dị ứng theo mùa và một cơn cảm lạnh – hoặc thậm chí viêm xoang – có thể giống nhau, nhưng phương pháp điều trị hoàn toàn khác.  Hãy sử dụng hướng dẫn sau đây để nhận biết nguyên nhân thực sự làm cho xoang mũi của bạn có vấn đề, giúp bạn có thể hồi phục nhanh.

CÁC DẤU HIỆU BỊ DỊ ỨNG

Những nét đặc thù và sự lặp lại – sung huyết (congestion), ngứa mắt, và ho một phần do bệnh suyễn thường xuất hiện vào cùng thời điểm mỗi năm – là những dấu hiệu chính của các tình trạng dị ứng, theo lời bác sĩ y khoa Steven Lamm, giám đốc Trung Tâm Sức Khỏe Đàn Ông của Trường Đại Học New York (NYU’s Men’s Health Center).  Chưa từng bị dị ứng? Nếu bạn đang bị ho, và hắt hơi thường xuyên, hoặc có nhiều nước ở mắt, thì có thể bạn đã bị dị ứng.  Bác sĩ Lamm nói rằng, “Hiện nay chúng tôi đang tìm thấy những người phát triển chứng dị ứng ở tuổi 50”.

Phương pháp điều trị: Các loại thuốc kháng histamine (antihistamine) như Benadryl, các thuốc steroids xịt vào mũi (nasal steroids), và các loại thuốc chống sung huyết (decongestant) đều tỏ ra có hiệu quả nếu bạn phát hiện sớm các triệu chứng, theo lời bác sĩ Lamm.  Nhưng nếu bạn không thích sử dụng thuốc, bạn có thể làm theo các phương pháp sau đây:

-      Chạy ra ngoài đường trong khoảng từ 2 đến 3 giờ chiều (vì phấn hoa không xuất hiện vào buổi chiều)
-      Đi dạo bên ngoài sau cơn mưa (sau cơn mưa phấn hoa đã bị loại trừ khỏi không khí)
-      Bật máy lạnh lên (máy lạnh được lắp đặt ở cửa sổ có tác dụng lọc không khí, làm giảm số lượng phấn hoa trong nhà).
-      Giặt khăn trải giường và mền (chăn) mỗi tuần ở nhiệt độ 140 độ F (60 độ C)
-      Tắm nước nóng dưới vòi sen (hơi nóng có thể đi vào xoang mũi và giúp làm sạch mũi)
-      Ngưng tiêu thụ các sản phẩm từ sữa (dairy food) trong vài ngày.

CÁC DẤU HIỆU BỊ CẢM LẠNH

Các triệu chứng cảm lạnh tương đối giống với những phản ứng phụ của các trường hợp dị ứng với một yếu tố khác biệt, đó là lên cơn sốt.  Mặc dù các tình trạng dị ứng có thể làm cho bạn cảm thấy không khỏe, nhưng bác sĩ Lamm nói rằng bạn sẽ cảm thấy đau ốm nhiều hơn khi bạn bị cảm lạnh – cơ thể của bạn có thể bị đau nhức, đây là dấu hiệu chính của tình trạng nhiễm virut.  Vẫn chưa chắc ăn?  Hãy kiểm tra dịch nhầy khi bạn hỉ mũi.  Dịch nhầy có màu xanh lá cây hoặc màu vàng thì đó là dấu hiệu bị cảm lạnh, trong khi đó dịch nhầy khi bị dị ứng thường có màu trong suốt.

Phương pháp điều trị: Trước khi bạn có ý định sử dụng thuốc chống sung huyết, hãy xem lướt qua các thành phần trong thuốc.  Không nên tin tưởng tuyệt đối vào thành phần chất dextromethorphan (DM).  Lý do: chất này chưa được nghiên cứu kỹ hoặc không được đảm bảo có thể làm thuyên giảm tình trạng khó chịu của bạn, theo lời bác sĩ y khoa Mark Ebell.  Vào buổi chiều tối, hãy sử dụng loại thuốc không cần đơn bác sĩ mà có chứa thành phần chất diphenhydramineand hoặc chlorpheniramine.  Bên cạnh tính hiệu quả cao hơn so với chất DM, các thành phần này còn có thể làm cho bạn buồn ngủ, do đó hy vọng bạn có thể ngủ ngon giấc mà không bị các triệu chứng quấy rối.  Nếu bạn cảm thấy vẫn chưa khỏe sau một tuần, hãy kiên nhẫn.  Mặc dù các triệu chứng dị ứng thường biến mất sau khi bạn không còn tiếp xúc với các chất gây dị ứng, nhưng các nhà nghiên cứu tại trường Đại Học Georgia (University of Georgia) đã phát hiện rằng các triệu chứng cảm lạnh có thể mất 18 ngày mới có thể hoàn toàn biến mất. (Trở về đầu trang)


MIẾNG DÁN DA CHỐNG BỎNG (PHỎNG) NẮNG

Một nhóm kỹ sư thiết kế y sinh tại trường Đại Học Công Nghệ Michigan (MichiganTech University) đã phát minh một miếng dán ở da rẻ tiền có tác dụng cảnh báo người mang nó khi đi ra ngoài trời nắng tránh được tình trạng bị bỏng (phỏng) nắng.




Vào thời điểm chúng ta nhận ra rằng chúng ta đã ở ngoài nắng quá lâu, thì nó đã quá trễ. Có thể mất 24 giờ sau khi tiếp xúc với ánh nắng để chúng ta nhận ra đã bị bỏng (phỏng) nắng.

Hiện tại, một nhóm thiết kế của trường Đại Học Công Nghệ Michigan đã phát minh một loại cảm biến có thể báo cho bạn biết khi nào nên tìm chỗ mát để tránh nắng, trước khi da của bạn bị mẫn đỏ và chạm vào bị đau.

Các chuyên gia công nghệ y sinh đã phát minh một miếng dán da có in hình một gương mặt cười. Miếng dán này có kích cỡ bằng đồng 5 xu (5 cent) dần dần đổi sang màu tối khi gặp ánh sáng cực tím, loại ánh sáng gây bỏng nắng (sunburn) và ung thư da. Khi bạn không còn thấy hình gương mặt cười nữa, thì đó là lúc bạn nên tìm chỗ mát để tránh nắng.

Mọi người đều có mức độ bị bỏng nắng khác nhau, do đó nhóm phát minh đã dựa vào thông tin này. “Chúng tôi đã hiệu chuẩn nó dựa vào loại da”, theo lời của Anne Francois, một thành viên của nhóm phát minh. Các bản mẫu đã được chế tạo cho 3 loại da dễ bị bỏng nắng nhất.

Miếng dán này được làm bằng các màng mỏng nhạy cảm với ánh sáng cực tím được dán dính vào một loại băng dán đặc biệt với chất keo theo tiêu chuẩn y tế, có thể chịu đựng được nhiều lần ngâm trong hồ bơi. Bởi vì nó đo độ tiếp xúc với ánh sáng cực tím tổng cộng, do đó miếng dán này “biết được” khi nào người sử dụng bôi (thoa) kem chống nắng hoặc đi vào bóng mát và sẽ chuyển sang màu tối chậm hơn.

Nếu miếng dán này được bán trên thị trường, thì giá của nó sẽ khá rẻ: bản mẫu chỉ tốn khoảng 13 xu (13 cents) tiền vật liệu.

Theo lời của các sinh viên thì những thiết bị kiểm tra ánh sáng cực tím này sẽ rất lý tưởng cho những ai muốn tránh bị bỏng nắng và giảm bớt nguy cơ bị ung thư da trong khi vẫn có thể tham gia các hoạt động ngoài trời. Ngoài ra, các bậc phụ huynh có thể sử dụng các miếng dán này để kiểm tra mức độ tiếp xúc với ánh sáng cực tím của con trẻ của họ. Các miếng dán này có thể đặc biệt hữu dụng trong việc bảo vệ làn da mềm mại của trẻ nhỏ. Các miếng dán này thậm chí còn có thể có những ứng dụng trị liệu cho các trẻ nhỏ bị bệnh vàng da, là những trẻ cần đến một số lượng vừa đủ ánh nắng mặt trời.

“Hiện nay vẫn có những thiết bị kiểm tra ánh sáng cực tím khác ngoài thị trường, nhưng điều làm cho miếng dán này trở nên độc đáo là nó rất đơn giản và khá rẻ”, theo lời của Megan Frost, giáo sư trợ giảng về công nghệ y sinh và là đồng cố vấn của nhóm phát minh. “Đây không phải là một thiết bị định giờ. Họ đã hiệu chuẩn định lượng nó để phù hợp với năng lượng thiết bị này hấp thu, và nó tỏ ra rất bền”. 
(Trở về đầu trang)


NHỔ (CẠO) LÔNG Ở KHU VỰC BỘ PHẬN SINH DỤC CÓ NHIỀU NGUY CƠ BỊ NHIỄM VIRUT

Theo một nghiên cứu được đăng trên tạp chí Các Bệnh Lây Truyền Qua Đường Tình Dục (Sexually Transmitted Infections), thói quen nhổ (cạo) lông ở khu vực bộ phận sinh dục được tìm thấy có liên quan đến nguy cơ gia tăng bị nhiễm một loại virut pox (poxvirus: orthopox, parapox, yatapox, molluscipox), tình trạng nhiễm trùng này có tên là Molluscum contagiosum. Mặc dù tình trạng nhiễm trùng Molluscum thường có khuynh hướng xảy ra ở trẻ em hoặc ở những cá nhân có hệ miễn dịch bị suy yếu, nhưng nó cũng có thể bị lây truyền qua đường tình dục hoặc qua sự tiếp xúc trực tiếp với các vật bị nhiễm.




Các nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết rằng số lượng các trường hợp nhiễm virut này gia tăng trong thời gian gần đây có thể liên quan đến thói quen nhổ (cạo) lông ở khu vực bộ phận sinh dục đang trở nên phổ biến.

Các dữ liệu đã được thu thập sau khi xem xét các kỷ lục của bệnh nhân tại một bệnh viện tư ở Nice, Pháp, trong khoảng từ tháng giêng năm 2011 đến tháng 3 năm 2012. Trong thời gian nghiên cứu, 30 người đã được phát hiện bị nhiễm virut Molluscum. Trong số các trường hợp này, 93% số người đã tiến hành nhổ (13%), cạo (70%), và wax (10%) lông ở khu vực bộ phận sinh dục. Sự hiện diện của các bệnh da phụ, chẳng hạn như mụn cơm (warts: mụn cóc), u nang, viêm nang lông (folliculitis), sẹo (thẹo), lông mọc vào trong được phát hiện ở 10 trường hợp bị nhiễm virut Molluscum.

Các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng những vết rách siêu nhỏ ở lớp ngoài cùng của da sẽ làm thúc đẩy sự lan truyền của tình trạng nhiễm trùng, và những vết rách này có thể xảy ra khi nhổ (cạo) lông. Nhổ (cạo) lông cũng tạo ra hành động gãi trên da, chính vì điều này mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết cho rằng nó có thể làm cho các cá nhân này tự gây nhiễm trùng. 
(Trở về đầu trang)


ĂN CÁ TỪ LÚC CÒN NHỎ CÓ THỂ HẠN CHẾ ĐƯỢC NGUY CƠ DỊ ỨNG

Các nhà nghiên cứu đã từng nghĩ rằng trẻ em nếu bắt đầu ăn cá vào thời thơ ấu có nhiều khả năng phát triển các chứng dị ứng.

Nhưng mới đây, kết quả đã thay đổi.  Hiện nay, các nhà khoa học đưa ra giả thuyết rằng cho trẻ nhỏ ăn cá có thể giúp bảo vệ chống lại các chứng dị ứng.  Một số nhà khoa học thậm chí còn tranh luận rằng sự thịnh hành đang gia tăng của các chứng bệnh dị ứng có thể là do tình trạng thiếu hụt các axit béo omega-3 giúp tăng cường hệ miễn dịch trong chế độ ăn của chúng ta.




Mặc dù có nhiều nghiên cứu đã tìm ra các kết quả giống nhau, nhưng các nghiên cứu này đều mang tính quan sát, chỉ cho thấy mối liên hệ, chứ không đưa ra nguyên nhân và kết quả.  Một số nhà khoa học nói rằng tiêu thụ cá ở trẻ nhỏ có thể liên quan đến một lối sống có khả năng giúp hạ giảm nguy cơ mắc bệnh dị ứng theo những phương cách không cần ăn kiêng.

Những nguyên tắc hướng dẫn của chính phủ Hoa Kỳ đề xuất rằng trẻ nhỏ có thể có được những lợi ích về sức khỏe khi tiêu thụ khoảng 12 oz (340 g) cá mỗi tuần, hoặc khoảng 2 bữa ăn với các loại cá có hàm lượng thủy ngân thấp.

Các nghiên cứu cho thấy được mối liên hệ giữa việc tiêu thụ cá từ thời thơ ấu và khả năng hạ giảm nguy cơ bị các chứng dị ứng sau này, nhưng các chuyên gia vẫn chưa rõ nguyên nhân tạo nên mối liên hệ này. (Trở về đầu trang)


Nguồn (Source):