About

Wednesday, February 25, 2015

NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG TIẾT NIỆU - NGƯỜI THÀNH NIÊN (URINARY TRACT INFECTION - ADULTS) - Do LQT Biên Dịch


SỬ DỤNG THUỐC

Mặc dù các loại thuốc kháng sinh (trụ sinh) là chọn lựa điều trị đầu tiên cho các trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu, nhưng các chủng vi khuẩn E. coli kháng thuốc kháng sinh, nguyên nhân phổ biến nhất gây bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu, đang gia tăng trên toàn thế giới.  Khi càng ngày càng có nhiều vi khuẩn trở nên đề kháng với phương pháp điều trị bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu bằng thuốc trimethoprim-sulfamethoxazole (TMP-SMX), thì càng có nhiều bác sĩ chỉ định sử dụng các loại thuốc kháng sinh nhóm quinolone để điều trị cho các trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu.  Ở một số khu vực, hiện nay các loại thuốc quinolone đã thay thế thuốc TMP-SMX như loại thuốc kháng sinh được kê đơn phổ biết nhất để điều trị các trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu.  Các nhà nghiên cứu đã tỏ ra lo ngại rằng tính năng đề kháng của vi khuẩn cũng có thể phát triển đối với các loại thuốc thay thế này.


Sau đây là một số nhóm thuốc kháng sinh (trụ sinh) được sử dụng phổ biến nhất để điều trị các trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu:

Các Loại Thuốc Beta-Lactam

Các loại thuốc beta-lactam có chung các đặc tính hóa học và bao gồm nhóm penicillins, cephalosporins, và một số loại thuốc thế hệ mới tương tự.

Nhóm penicillin (Amoxicillin).  Cho đến những năm gần đây, phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho một người mắc bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu là sử dụng thuốc amoxicillin trong vòng 10 ngày, nhưng hiện nay phương pháp này trở nên không hiệu quả đối với vi khuẩn E. coli trong khoảng 25% các trường hợp.  Một dạng kết hợp amoxicillin-clavulanate (Augmentin) thỉnh thoảng được chỉ định cho các trường hợp bị kháng thuốc.  Amoxicillin hoặc Augmentin có thể có lợi cho các trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu do các sinh vật Gram-dương gây ra, bao gồm các loài EnterococcusS. saprophyticus.

Nhóm Cephalosporin.  Các loại thuốc kháng sinh (trụ sinh) thuộc nhóm cephalosporin cũng là các phương pháp thay thế cho những trường hợp nhiễm trùng không có kết quả khả quan đối với các phương pháp điều trị tiêu chuẩn hoặc được dùng cho các cộng đồng đặc biệt.  Các loại thuốc này thường được phân loại thành thế hệ thứ nhất, thứ nhì và thứ ba.  Nhóm cephalosporin được sử dụng điều trị cho các trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu bao gồm thuốc cephalexin (Keflex), cefadroxil (Duricef), cefuroxime (Ceftin), loracarbef (Lorabid), và cefixime (Suprax, trong số những thuốc khác).

Các Loại Thuốc Beta-Lactam Khác.  Các loại thuốc kháng sinh beta-lactam khác đã được sản xuất.  Ví dụ, pivmecillinam (một dạng của thuốc mecillinam), được dùng phổ biến ở Châu Âu để điều trị bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu.

Thuốc Trimethoprim-Sulfamethoxazole (TMP-SMX)

Phương pháp điều trị điển hình là chế độ sử dụng 3 ngày dạng kết hợp trimethoprim-sulfamethoxazole, thường được gọi là TMP-SMX (chẳng hạn như Bactrim, Cotrim, or Septra).  Chế độ sử dụng thuốc 1 ngày phần nào tỏ ra kém hiệu quả nhưng có ít nguy cơ xuất hiện các tác dụng phụ hơn.  Các chế độ sử dụng thuốc lâu hơn (7 – 10 ngày) tỏ ra không hiệu quả hơn chế độ 3 ngày đồng thời có tỷ lệ xuất hiện các tác dụng phụ cao hơn.

Các bệnh nhân bị nhiễm trùng sau khi làm răng hoặc các bệnh nhân bị dị ứng với các loại thuốc sulfa không nên sử dụng thuốc TMP-SMX.  Các phản ứng dị ứng có thể trở nên rất nghiêm trọng.  Thuốc Trimethoprim (chẳng hạn như Proloprim hoặc Trimpex) thỉnh thoảng được sử dụng riêng lẻ ở các bệnh nhân bị dị ứng với các loại thuốc sulfa.  Thuốc TMP-SMX có thể ảnh hưởng đến tính hiệu quả của các loại thuốc tránh thai uống bằng miệng.  Tỷ lệ khá cao các trường hợp vi khuẩn kháng thuốc TMP-SMX xuất hiện ở nhiều khu vực của Hoa Kỳ.

Nhóm Fluoroquinolone (Quinolone)

Nhóm Fluoroquinolone (còn được gọi là quinolone) hiện nay được sử dụng rộng rãi giống như thuốc TMP-SMX.  Nhóm quinolone là các loại thuốc thay thế tiêu chuẩn cho TMP-SMX.  Các ví dụ của nhóm thuốc quinolone bao gồm ofloxacin (Floxacin), ciprofloxacin (Cipro), norfloxacin (Noroxin), và levofloxacin (Levaquin).  Tuy nhiên, các loại thuốc này có thể có những tác dụng phụ nghiêm trọng mà bệnh nhân nên thảo luận với bác sĩ.

Các phụ nữ mang thai không nên sử dụng nhóm kháng sinh fluoroquinolone này.  Các loại thuốc này gây ra nhiều tác dụng phụ ở trẻ em hơn so với các nhóm kháng sinh khác, do đó không nên được chọn là phương pháp điều trị ưu tiên trong đa số các trường hợp.

Nhóm Tetracycline

Nhóm tetracycline bao gồm doxycycline, tetracycline, và minocycline.  Điều trị bằng thuốc tetracycline hoặc doxycycline có thể được sử dụng cho các trường hợp nhiễm khuẩn Mycoplasma hoặc Chlamydia.  Nhóm tetracycline có các phản ứng phụ đặc biệt trong số các loại thuốc kháng sinh, bao gồm da mẫn cảm với ánh nắng mặt trời, có thể bị cảm giác đau rát trong cổ họng, và răng đổi màu.  Trẻ em hoặc phụ nữ mang thai không thể sử dụng nhóm thuốc kháng sinh này.

Nhóm Aminoglycoside

Nhóm aminoglycoside (bao gồm gentamicin, tobramycin, amikacin) được sử dụng bằng cách tiêm cho các trường hợp nhiễm khuẩn quá nghiêm trọng.  Các thuốc này chỉ được sử dụng khi kết hợp với các nhóm kháng sinh khác.  Thuốc gentamicin được sử dụng phổ biến nhất trong nhóm aminoglycoside để điều trị các trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu nghiêm trọng.  Nhóm kháng sinh này có thể có những tác dụng phụ rất nghiêm trọng, bao gồm những tổn thương đến khả năng nghe, sự thăng bằng, và thận.

Các Nhóm Kháng Sinh Khác Được Dùng Chuyên Biệt Cho Các Trường Hợp Nhiễm Trùng Đường Tiết Niệu

Nitrofurantoin.  Nitrofurantoin (Furadantin, Macrodantin) là một loại thuốc kháng sinh (trụ sinh) được sử dụng chuyên biệt cho các trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu để thay thế cho thuốc TMP-SMX hoặc một loại thuốc của nhóm quinolone.  Tuy nhiên, không giống như nhiều loại thuốc khác, nitrofurantoin thường được sử dụng từ 7 – 10 ngày, ngay cả trong các trường hợp bị viêm bàng quang đơn giản.  Thuốc này không có lợi trong việc điều trị cho các trường hợp nhiễm trùng thận.  Thuốc nitrofurantoin thường gây khó tiêu (stomach upset) và tương tác với nhiều loại thuốc.  Các tình trạng bệnh lý mãn tính hoặc nghiêm trọng khác cũng có thể ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc.  Thuốc này không nên được sử dụng ở các phụ nữ mang thai trước khi sinh từ 1 – 2 tuần, ở các bà mẹ đang cho con bú, hoặc ở những người có bệnh thận.

Fosfomycin.  Thuốc kháng sinh fosfomycin (Monurol) có thể được chỉ định với chế độ sử dụng 1 liều để điều trị cho các phụ nữ đang mang thai.

Doripenem.   Doripenem (Doribax) là một loại thuốc kháng sinh mới thuộc nhóm carbapenem, được chấp thuận đưa vào sử dụng vào năm 2007 để điều trị cho các trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu có biến chứng.  Thuốc này được sử dụng bằng cách tiêm.

Các Loại Thuốc Dùng Để Điều Trị Các Triệu Chứng

Mặc dù các loại thuốc kháng sinh có thể chữa trị cho đa số các trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu, nhưng các triệu chứng nghiêm trọng có thể kéo dài vài ngày cho đến khi biện pháp trị liệu loại bỏ được hoàn toàn các vi khuẩn.  Hiện đã có một số các chọn lựa giúp hạ giảm các triệu chứng cho đến khi thuốc kháng sinh có hiệu lực.

Thuốc Phenazopyridine.  Phenazopyridine (chẳng hạn như Pyridium, Uristat, Barodium, Eridium, và AZO Standard) có tác dụng giảm đau và rát do tình trạng nhiễm trùng gây ra.  Các bệnh nhân không nên sử dụng thuốc này quá 2 ngày.

Các tác dụng phụ bao gồm đau đầu và khó chịu bao tử.  Thuốc này làm cho nước tiểu có màu đỏ hoặc cam, mà có thể làm bẩn quần áo và rất khó tẩy sạch.  Thuốc này hiếm khi gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng, bao gồm khó thở, da đổi sang màu xanh, hiện tượng giảm nước tiểu đột ngột, và rối loạn tinh thần.  Trong những trường hợp này, các bệnh nhân nên điện thoại (hoặc đến phòng khám) bác sĩ ngay.

Các Loại Thuốc Chống Co Thắt (Antispasm Drugs).  Thuốc methenamine (chẳng hạn như Atrosept, Prosed, và Urised) hoặc flavoxate (Urispas) có tác dụng làm giảm các cơn co thắt (vọp bẻ) bàng quang (bọng đái), mà có thể xảy ra ở một số trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu.  Tuy nhiên, các loại thuốc này có thể có các tác dụng phụ nghiêm trọng, do đó bệnh nhân nên thảo luận với bác sĩ.