About

Friday, March 22, 2013

VITAMIN B12 - Do LQT Biên Dịch


KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

Vitamin B12 là một trong số các thành viên được tranh cãi nhiều nhất của họ vitamin được gọi chung là vitamin “B-complex”.  Mặc dù cấu trúc hóa học đầy đủ của vitamin B12 chỉ mới được xác định vào những năm 1960, nhưng đã có hai giải Nobel dành cho nghiên cứu liên quan đến loại vitamin này.  Giải Nobel đầu tiên, được trao vào năm 1934, liên quan đến việc khám phá ra rằng một loại thực phẩm (gan, một nguồn dào dào vitamin B12) có thể được dùng để điều trị một dạng bệnh thiếu máu đặc biệt (máu mất khả năng vận chuyển oxy) có tên là bệnh thiếu máu ác tính (pernicious anemia).  Giải Nobel thứ hai được trao 30 năm sau, khi các nhà hóa học tìm ra cấu trúc chính xác của loại vitamin quan trọng này. 



Vitamin B12 có một chút khác thường so với nguồn gốc của nó.  Trong khi đa số các loại vitamin có thể được tạo ra bởi nhiều loại thực vật và động vật đặc biệt, thì không có loại thực vật hoặc động vật nào cho thấy có khả năng sản sinh vitamin B12, và nguồn độc quyền cho loại vitamin này lại xuất phát từ các loài vi sinh vật như vi khuẩn, nấm men, nấm mốc, và tảo.

Tương tự với đa số các loại vitamin khác, vitamin B12 có thể xuất hiện dưới nhiều dạng và có thể có nhiều tên khác nhau, bao gồm: cobrynamide, cobinamide, cobamide, cobalamin, hydroxcobalamin, aquocobalamin, nitrotocobalamin, and cyanocobalamin.  Những tên này đều có chứa từ “cobalt”, vì cobalt là một khoáng chất được tìm thấy ở trung tâm của loại vitamin này.

Vitamin B12 cũng khác thường ở đặc điểm là nó phụ thuộc vào một chất thứ hai, có tên là yếu tố bên trong (intrinsic factor), để tìm đường đi từ dạ dày và ruột đến các phần còn lại của cơ thể.  Nếu không có yếu tố cần thiết này, một loại protein được dạ dày sinh sản, thì vitamin B12 không thể đi đến những nơi cần đến nó trong cơ thể.

Vitamin B12, còn được gọi là cobalamin, là một trong 8 loại vitamin B.  Tất cả các loại vitamin B giúp cơ thể chuyển hóa thức ăn (carbohydrates) thành nhiên liệu (glucose), nhiên liệu này được dùng để sản sinh năng lượng.  Các loại vitamin B này, thường được gọi là vitamin B complex, cũng giúp cơ thể sử dụng chất béo và protein.  Các vitamin B complex rất cần thiết cho da, tóc, mắt, và gan khỏe mạnh.  Chúng còn giúp hệ thống thần kinh hoạt động đúng chức năng.

Vitamin B12, B6, và B9 cùng làm việc với nhau để kiểm soát hàm lượng axit amin homocysteine trong máu.  Hàm lượng homocysteine tăng cao có liên quan đến bệnh tim.  Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu vẫn chưa biết chắc rằng homocysteine có phải là nguyên nhân gây ra bệnh tim không hay chỉ là một dấu hiệu cho thấy một người có thể bị bệnh tim.

Vitamin B12 là một loại vitamin cần thiết có đặc điểm hòa tan trong nước, thường được tìm thấy trong nhiều loại thực phẩm, chẳng hạn như cá, động vật có vỏ dưới nước (shellfish), thịt, trứng, và các sản phẩm từ sữa.  Vitamin B12 thường được sử dụng phối hợp với các loại vitamin B khác trong một dạng vitamin B complex.  Vitamin B12 đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp các nhóm methyl cần thiết cho quá trình tổng hợp protein và DNA.  Vitamin B12 được liên kết với protein trong thực phẩm.  Axit clohyđric (Hydrochloric acid - HCl) trong dạ dày phóng thích vitamin B12 từ protein trong quá trình tiêu hóa.  Sau khi được phóng thích, vitamin B12 kết hợp với một chất được gọi là yếu tố bên trong (intrinsic factor) trước khi nó được hấp thụ vào máu.


Cơ thể con người lưu trữ số lượng vitamin B12 trong gan để sử dụng cho vài năm, do đó tình trạng thiếu hụt loại vitamin này là rất hiếm.  Tuy nhiên, tình trạng thiếu hụt có thể do cơ thể không thể sử dụng vitamin B12.  Mất khả năng hấp thụ vitamin B12 từ đường ruột có thể do bệnh thiếu máu ác tính (pernicious anemia) gây ra. 

Những người có nguy cơ bị thiếu hụt vitamin B12 bao gồm:

-      Những người không ăn thịt, sản phẩm từ sữa hoặc trứng – vitamin B12 chỉ có trong các sản phẩm từ động vật
-      Những người bị rối loạn hấp thụ chất dinh dưỡng, do các chứng bệnh như bệnh Crohn, bệnh tuyến tụy, và những người tiếp nhận phẫu thuật giảm cân
-      Những người bị nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori, một sinh vật cư trú trong ruột mà có thể gây viêm loét.  Vi khuẩn này hủy hoại các tế bào dạ dày tạo yếu tố bên trong (intrinsic factor), một chất mà cơ thể cần để hấp thụ vitamin B12.
-      Những người bị rối loạn về ăn uống
-      Những người bị nhiễm HIV
-      Những người cao tuổi

Chỉ có vi khuẩn mới có thể tổng hợp được vitamin B12.  Vitamin B12 hiện diện trong các sản phẩm từ động vật, chẳng hạn như thịt, gia cầm, cá (bao gồm các động vật có vỏ dưới nước), và sữa, nhưng nó thường không hiện diện trong các sản phẩm từ thực vật hoặc nấm men.  Sữa tươi được khử trùng chứa 0,9 mcg mỗi ly và là một nguồn quan trọng chứa vitamin B12 cho một số người không ăn thịt.  Nhưng người không ăn thịt cần bổ sung vitamin B12 để đáp ứng nhu cầu của họ.  Ngoài ra, những người trên 50 tuổi nên sử dụng các thực phẩm chức năng chứa vitamin B12 hoặc các thực phẩm được tăng cường như các loại bột ngũ cốc được tăng cường vì nguy cơ mất khả năng hấp thụ vitamin B12 từ thực phẩm gia tăng. 

Đa số người không gặp trở ngại trong việc hấp thụ 2,4 mcg vitamin B12 mỗi ngày từ thực phẩm.  Ở Hoa Kỳ, hàm lượng tiêu thụ vitamin B12 trung bình là khoảng 4,5 mcg/ngày cho đàn ông thành niên trẻ, và 3 mcg/ngày cho những phụ nữ thành niên trẻ.  Trong một nhóm người thành niên trên 60 tuổi, người ta tìm thấy nam giới có số lượng tiêu thụ trung bình là 3,4 mcg/ngày và phụ nữ có số lượng tiêu thụ trung bình là 2,6 mcg/ngày.  Một số loại thực phẩm với số lượng lớn vitamin B12 được liệt kê dưới đây cùng với hàm lượng vitamin B12 được đo bằng microgram (mcg).

Thực phẩm
Số lượng
Vitamin B12 (mcg)
Nghêu, sò (hấp)
3 ounces (85 g)
84,0
Con trai (hấp)
3 ounces (85 g)
20,4
Cua (hấp)
3 ounces (85 g)
8,8
Cá hồi (nướng lò)
3 ounces (85 g)
2,4
Cá quân - rockfish (nướng lò)
3 ounces (85 g)
1,0
Thịt bò (nấu chín)
3 ounces (85 g)
2,1
Thịt gà (quay)
3 ounces (85 g)
0,3
Thịt gà tây (quay)
3 ounces (85 g)
0,3
Trứng (kho)
1 ounces (28 g)
0,6
Sữa (không chất béo)
8 ounces (226 g)
0,9
1 ounces (28 g)
0,5


Nguồn bổ sung: