About

Wednesday, February 25, 2015

BỆNH PARKINSON (PARKINSON'S DISEASE) - Do LQT Biên Dịch


CÁC LOẠI THUỐC KHÁC

Thuốc Ức Chế Men Monoamine Oxidase B (MAO-B)

Selegiline (Eldepryl, Movergan, Zelepar), còn được gọi là deprenyl, là một loại thuốc chống oxy hóa có tác dụng chặn men monoamine oxidase B (MAO-B), một loại men có chức năng làm suy biến chất dopamine.  Cho đến gần đây, delegiline được dùng phổ biến trong thời gian bắt đầu căn bệnh và được sử dụng kết hợp với levodopa để duy trì.  Tuy nhiên, đang có những mối lo ngại về các tác dụng phụ nghiêm trọng. 


Một loại thuốc ức chế MAO-B mới, rasagiline (Azilect), được sử dụng riêng lẻ trong giai đoạn đầu bệnh Parkinson và kết hợp với thuốc L-dopa để điều trị bệnh Parkinson từ vừa đến nghiêm trọng.  Không giống như thuốc selegiline, thuốc rasagiline được sử dụng mỗi ngày 1 lần, trong khi thuốc selegiline được sử dụng mỗi ngày 2 lần.

Các Tác Dụng Phụ.  Các loại thuốc ức chế MAO-B có thể có các tác dụng phụ nghiêm trọng sau đây:

-      Một trong số những tác dụng phụ quan trọng nhất là chứng hạ huyết áp khi đứng lên (orthostatic hypotension), đặc biệt ở những người đang sử dụng thuốc Sinemet cộng với thuốc selegiline.  Tình trạng này là hiện tượng huyết áp hạ xuống đột ngột làm cho bệnh nhân bị chóng mặt và quay cuồng khi đứng lên.  Chứng hạ huyết áp khi đứng lên cũng có thể xảy ra khi sử dụng các loại thuốc trị Parkinson khác.
-      Có thể gây huyết áp cao (hypertension) nếu phối hợp với các loại thuốc có tác dụng làm tăng nồng độ serotonin – các loại thuốc này bao gồm hầu như các loại thuốc chống trầm cảm chính.  Các bệnh nhân bị trầm cảm và đang sử dụng thuốc selegiline nên thảo luận mọi chọn lựa trị liệu với bác sĩ riêng của họ.
-      Cũng có thể làm tăng huyết áp ở mức nguy hiểm nếu các bệnh nhân tiêu thụ các loại thực phẩm giàu axit amin tyramine.  Trong khi đang sử dụng thuốc selegiline hoặc rasagiline và trong vòng 2 tuần sau khi ngưng thuốc, bệnh nhân nên tránh các loại thực phẩm như phó mát để lâu ngày, các loại thịt được chế biến sẵn, cá trích (herring) ngâm, các chất chiết xuất từ nấm men, rượu vang (đỏ) để lâu ngày, bia chưa được khử trùng (draft beers), bắp cải sợi muối mặn (sauerkraut), và xì dầu (nước tương).

Tranh Luận về Tỷ Lệ Tử Vong.  Một số nghiên cứu quan trọng đã báo cáo tỷ lệ tử vong cao hơn ở các bệnh nhân bị Parkinson ở giai đoạn sau.  Các phát hiện này có thể do các tác động gây hại đến tim và mạch máu.  Mặc dù các nghiên cứu khác chưa báo cáo tỷ lệ sống sót ở mức thấp hơn, nhưng một số bác sĩ tin rằng, với hiệu quả khiêm tốn, thuốc selegiline có thể là một chọn lựa không thích hợp bằng các loại thuốc khác, đặc biệt ở các bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim.

Các Loại Thuốc Tạo Hiệu Ứng Dopamine

Các loại thuốc tạo hiệu ứng dopamine (dopamine agonists) kích thích các thụ thể dopamine trong lớp chất đen (substantia nigra), một phần của não được xem là nguồn gốc gây bệnh Parkinson.  Các loại thuốc tạo hiệu ứng dopamine rất hiệu quả trong việc trì hoãn các biến chứng về vận động trong 1 hoặc 2 năm đầu điều trị.

Các Loại Thuốc Tạo Hiệu Ứng Dopamine Mới.  Các loại thuốc tạo hiệu ứng dopamine thường được chỉ định là pramipexole (Mirapex) và ropinirole (Requip).  Chúng được sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với thuốc L-dopa.  Pramipexole xem ra có hiệu quả hơn và có ít tác dụng phụ hơn so với thuốc ropinirole.

Nghiên cứu mới đây cho thấy rằng thuốc L-dopa có hiệu quả hơn trong việc cải thiện tình trạng mất khả năng vận động, và các loại thuốc tạo hiệu ứng dopamine có hiệu quả hơn trong việc làm giảm các biến chứng về vận động.  Thuốc L-dopa tạo ra nhiều nguy cơ bị các tác dụng phụ về rối loạn vận động hơn so với các loại thuốc tạo hiệu ứng dopamine, nhưng rối loạn vận động (khó kiểm soát các chuyển động của cơ) cũng có thể xảy ra với các loại thuốc tạo hiệu ứng dopamine.  Có những tranh luận về giá trị của các loại thuốc tạo hiệu ứng dopamine trong vai trò liệu pháp điều trị ban đầu cho bệnh Parkinson.  Nghiên cứu gần đây cho thấy rằng phương án điều trị ban đầu bằng các loại thuốc tạo hiệu ứng dopamine (dopamine agonists) có thể không cung cấp bất kỳ lợi ích lâu dài nào khi được so sánh với phương án điều trị đầu tiên bằng thuốc L-dopa.

Các Tác Dụng Phụ: Các tác dụng phụ của thuốc pramipexole và thuốc ropinirole thay đổi khác nhau nhưng có thể nghiêm trọng và bao gồm:

-      Các tác dụng phụ về đường ruột và dạ dày (buồn nôn và táo bón).  Buồn nôn có thể được kiểm soát bằng thuốc, chẳng hạn như thuốc domperidone.
-      Nhức đầu
-      Hạ huyết áp khi đứng lên
-      Nghẹt mũi
-      Ác mộng, ảo giác, và rối loạn tâm thần (nghiêm trọng hơn khi phối hợp với L-dopa cho cả hai loại thuốc)
-      Cơn buồn ngủ đột ngột.  Các cơn buồn ngủ này có thể rất nghiêm trọng, đặc biệt nếu như bệnh nhân đang lái xe.

Các Loại Thuốc Tạo Hiệu Ứng Dopamine Khác.

-      Các loại thuốc tạo hiệu ứng dopamine chuyên biệt chứa các chất ankaloit nấm cựa gà (ergot alkaloid) bao gồm bromocriptine (Parodel), pergolide (Permax), cabergoline (Dostinex), và lisuride (Dopergin).  Bromocriptine là loại thuốc tạo hiệu ứng dopamine duy nhất chứa nấm cựa gà (ergot) được chấp thuận để điều trị bệnh Parkinson ở Hoa Kỳ.  Thuốc pergolide và cabergoline được tìm thấy có liên quan đến khả năng hủy hoại van tim và không được lưu hành ở Hoa Kỳ.
-      Apomorphine là một loại thuốc tạo hiệu ứng dopamine được sử dụng như một loại thuốc “cứu nguy” cho những người có các hiện tượng có tên là on-off effect nghiêm trọng đủ để ngưng sử dụng thuốc L-dopa trong một vài ngày.  Thuốc này đã được cơ quan FDA chấp thuận để điều trị cho các đợt giảm hiệu quả thuốc ở các bệnh nhân bị Parkinson.  Thuốc apomorphine được sử dụng dưới dạng tiêm.  Vì nó có thể gây buồn nôn và nôn mửa nghiêm trọng, do đó bệnh nhân sẽ được sử dụng phối hợp với một loại thuốc chống buồn nôn.

Các Loại Thuốc Ức Chế Men Catechol-O-Methyl Transferase (COMT)

Các loại thuốc ức chế men Catechol-O-Methyl Transferase (Catechol-O-methyl transferase (COMT) inhibitors) có tác dụng làm tăng nồng độ dopamine hiện diện trong não.  Entacapone (Comtan, Stalevo) là loại thuốc ức chế COMT tiêu chuẩn hiện nay.  (Stalevo kết hợp entacapone và levodopa trong một viên thuốc).  Thuốc này giúp cải thiện các rối loạn vận động liên quan đến hiệu ứng giảm hiệu quả thuốc và đã chứng minh có hiệu quả trong việc cải thiện đúng giờ và giảm bớt nhu cầu sử dụng thuốc L-dopa.  Nếu bệnh nhân không có phản ứng có lợi đối với loại thuốc này trong vòng 3 tuần, thì bác sĩ sẽ yêu cầu ngưng sử dụng.  Bệnh nhân không nên ngưng sử dụng các loại thuốc này một cách đột ngột.

Các Tác Dụng Phụ:

-      Các vận động cơ tự phát
-      Rối loạn tâm thần và ảo giác
-      Vọp bẻ, buồn nôn, và nôn mửa
-      Mất ngủ
-      Nhức đầu
-      Đổi màu nước tiểu (một tác dụng phụ không gây hại nhưng nên báo cáo cho bác sĩ)
-      Tiêu chảy
-      Ít phổ biến hơn là, táo bón, dễ bị nhiễm trùng đường hô hấp, chảy mồ hôi, khô miệng

Trong số những mối lo ngại chính là các báo cáo về một vài trường hợp tử vong do gan bị hủy hoại ở các bệnh nhân đang sử dụng thuốc ức chế COMT tolcapone (Tasmar).  Loại thuốc này đã được thu hồi ở nhiều nước và chỉ được đề xuất sử dụng ở Hoa Kỳ cho các bệnh nhân không thể dung nạp các loại thuốc khác.  Thuốc entacapone xem ra không có tác dụng tương tự đến gan và không cần thiết phải được giám sát.  Tuy nhiên, các bệnh nhân nên lưu ý đến các triệu chứng bị hủy hoại gan, bao gồm vàng da (jaundice), mệt mỏi, và mất khẩu vị.



Normal: Bình thường
Jaundice: Vàng da
Liver: Gan
Gallbladder: Túi mật

Yellowing is from accumulated bilirubin in the skin, often caused by liver and gallbladder disorders: Tình trạng vàng da là do sắc tố bilirubin tích tụ ở da, thường do các rối loạn về gan và túi mật gây ra.

Vàng da là một tình trạng xuất hiện khi có nhiều sắc tố bilirubin tuần hoàn trong máu hòa tan trong lớp mỡ dưới da (subcutaneous fat), làm cho da có màu vàng và mắt có màu trắng.  Ngoại trừ trường hợp trẻ sơ sinh bị vàng da trong tuần đầu sau khi sinh, còn tất cả các trường hợp vàng da khác cho thấy gan bị quá tải hoặc bị hủy hoại, hoặc cơ thể mất khả năng di chuyển sắc tố bilirubin từ gan qua ống mật đến ruột.

Các Loại Thuốc Chặn Acetylcholine

Các loại thuốc chặn acetylcholine (anticholinergics) đã được sử dụng đầu tiên để trị bệnh Parkinson, nhưng đã được thay thế phần lớn bằng các loại thuốc dopamine.  Thuốc chặn acetylcholine thường chỉ được dùng để kiểm soát tình trạng rung lắc cơ thể trong các giai đoạn đầu.  Chúng không tỏ ra có hiệu quả trong việc chống lại tình trạng chậm vận động và các rối loạn về dáng bộ, và có thể làm tăng nguy cơ bị mất trí nhớ trong các giai đoạn sau.  Các loại thuốc chặn acetylcholine bao gồm trihexyphenidyl (Artane, Trihexy), benztropine (Cogentin), biperiden (Akineton), procyclidine (Kemadrin), và ethopropazine (Parisdol).  Orphenadrine (Norflex) là một loại thuốc có các đặc tính chặn acetylcholine, nhưng nó cũng là một loại thuốc giúp thư giãn cơ và không gây bí tiểu.

Các Tác Dụng Phụ.  Các loại thuốc chặn acetylcholine thường gây khô miệng (mà có thể có lợi cho một số người bị chảy nước dãi).  Các tác dụng phụ khác là buồn nôn, bí tiểu, thị giác bị nhòe, và táo bón.  Các loại thuốc này cũng có thể làm tăng nhịp tim và làm cho tình trạng táo bón nghiêm trọng hơn.  Các loại thuốc chặn acetylcholine thỉnh thoảng có thể gây ra các rối loạn tâm thần nghiêm trọng, bao gồm mất trí nhớ, rối loạn tinh thần, và thậm chí ảo giác.  Những người bị tăng nhãn áp (glaucoma) phải sử dụng các loại thuốc này một cách thận trọng.

Thuốc Amantadine

Thuốc amantadine (Symadine, Symmetrel) kích thích quá trình phóng thích dopamine và có thể được sử dụng cho các bệnh nhân có các triệu chứng nhẹ ban đầu.  Thuốc này có một số lợi ích chống lại tình trạng đơ cứng cơ và chậm vận động, và có thể giúp một số bệnh nhân ở các giai đoạn sau mà họ không có phản ứng có lợi đối với các loại thuốc khác.  Thuốc này có tính thuốc nhẹ hơn levodopa và có thể mất đi hiệu quả sau 6 tháng.  Tuy nhiên, thuốc này cũng có thể giúp giảm bớt những thay đổi bất thường về vận động do thuốc levodopa gây ra, và các lợi ích này có khả năng kéo dài trong vòng ít nhất 1 năm.  Cần thêm các nghiên cứu lớn được thiết kế chặt chẽ để xác định các lợi ích thực sự và tính an toàn.

Các Tác Dụng Phụ.  Các tác dụng phụ cũng tương tự như các loại thuốc chặn acetylcholine (anticholinergics) và cũng có thể bao gồm tình trạng sưng mắt cá chân và da bị lốm đốm.  Thuốc này còn có thể gây ra tình trạng ảo giác.  Sử dụng quá liều có thể gây ngộ độc thuốc nghiêm trọng và thậm chí gây tử vong.  Các bệnh nhân bị Parkinson không nên ngưng sử dụng loại thuốc này một cách đột ngột.  Trong các trường hợp hiếm, nó có thể gây mê sảng cấp (tính) hoặc gây ra tình trạng dẫn đến tử vong có tên là hội chứng an thần ác tính (neuroleptic malignant syndrome).