About

Wednesday, February 25, 2015

SUY THẬN CẤP TÍNH - SUY THẬN CẤP (ACUTE KIDNEY FAILURE) - Do LQT Biên Dịch


DỰ ĐOÁN BỆNH

Chứng suy thận cấp (tính) có nguy cơ gây tử vong và bệnh nhân có thể cần được chăm sóc đặc biệt.  Tuy nhiên, thông thường thận sẽ bắt đầu hoạt động trở lại trong vòng vài tuần đến vài tháng sau khi nguyên nhân gây bệnh được điều trị.


Trong một số trường hợp, bệnh nhân có thể phát triển thành bệnh suy thận mãn tính (mạn) hoặc bệnh thận giai đoạn cuối.  Các trường hợp tử vong xảy ra phổ biến nhất khi nguyên nhân gây ra chứng suy thận là phẫu thuật, chấn thương, hoặc nhiễm trùng nghiêm trọng ở những người bị bệnh tim, bệnh phổi, hoặc gần đây bị đột quỵ (tai biến mạch máu não).  Cao tuổi, nhiễm trùng, xuất huyết đường ruột, và chứng suy thận trở xấu cũng làm tăng nguy cơ tử vong.

Triển vọng qua khỏi và khả năng hồi phục của các bệnh nhân bị suy thận cấp (tính) liên quan trực tiếp đến nguyên nhân gây ra suy thận, và ở mức độ lớn hơn, liên quan đến sự tồn tại và không tồn tại của bệnh thận (tỷ lệ lọc cuộn cầu thận ước lượng < 60 mL/phút), cũng như liên quan đến khoảng thời gian mất chức năng thận trước khi được điều trị can thiệp.  Trong quá khứ, chứng suy thận cấp (tính) được xem là có thể hoàn toàn hồi phục, nhưng việc theo dõi dài hạn những người bị chứng bệnh này cho thấy điều ngược lại.

Một nghiên cứu ở Canada cho thấy tỷ lệ mắc bệnh suy thận cấp (tính) cao hơn nhiều so với các báo cáo trước dây, với tỷ lệ là 18,3% (7856 trong số 43,008) trong số các bệnh nhân được nhập viện.  Số trường hợp mắc bệnh suy thận cấp (tính) tỷ lệ nghịch với tỷ lệ lọc cuộn cầu thận (GFR) và được xem gắn liền với tỷ lệ tử vong cũng như tỷ lệ mắc bệnh thận giai đoạn cuối kéo theo ở mỗi mức của tỷ lệ lọc cuộn cầu thận cơ sở.

Tuy nhiên, tác động lớn nhất lên tỷ lệ tử vong đã được nhìn thấy ở các cá nhân có tỷ lệ lọc cuộn cầu thận lớn hơn 60 mL/phút và những người này đã phát triển bệnh suy thận cấp (tính).  Những người bị chứng suy thận cấp (tính) ở giai đoạn 3 có tỷ lệ tử vong là 50%, trong khi tỷ lệ tử vong ở các cá nhân có tỷ lệ lọc cuộn cầu thận (eGFR) lớn hơn 60 mL/phút nhưng không phát triển bệnh suy thận cấp (tính) là chỉ có 3%.  Trong số các cá nhân có tỷ lệ lọc cuộn cầu thận thấp hơn 30, tỷ lệ tử vong là 12,1% ở những người không phát triển bệnh suy thận cấp (tính), so với 40,7% ở các bệnh nhân bị bệnh suy thận cấp (tính) giai đoạn 3.

Tỷ Lệ Tử Vong và Các Yếu Tố Liên Quan

Nếu chứng suy thận cấp (tính) được định nghĩa là một hiện tượng gia tăng đột ngột mức creatinine trong máu khoảng 0,5 - 1 mg/dL và có liên quan đến sự tăng cao từ nhẹ đến vừa phải chất creatinine, thì kết quả dự đoán bệnh có chiều hướng xấu.  (Mức gia tăng 0,3 mg/dL của creatinine trong máu có ý nghĩa quan trọng đối với tiến trình dự đoán bệnh).

Tỷ lệ tử vong trong bệnh viện đối với chứng suy thận cấp (tính) là 40 – 50%.  Tỷ lệ tử vong ở các bệnh nhân bị chứng suy thận cấp (tính) trong khoa chăm sóc đặc biệt (Intensive Care Unit - ICU) còn cao hơn nữa (trên 50% trong đa số các nghiên cứu), đặc biệt khi chứng suy thận cấp (tính) đủ nghiêm trọng để các bệnh nhân cần đến trị liệu thẩm tách (lọc máu).  Các bệnh nhân ở khoa chăm sóc đặc biệt bị chứng suy thận cấp (tính) liên quan đến nhiễm trùng có tỷ lệ tử vong đặc biệt cao hơn các bệnh nhân không bị nhiễm trùng.

Ngoài ra, bản đánh giá (ước lượng) các bệnh nhân bị suy thận cấp (tính) trong khoa chăm sóc đặc biệt cho thấy nguy cơ tử vong tăng dần lên thông qua những sự phân loại – nguy cơ (Risk), chấn thương (Injury), mất chức năng (Failure) – theo tiêu chuẩn RIFLE ở các bệnh nhân bị chứng suy thận cấp (tính) so với các bệnh nhân không bị suy thận cấp (tính).  Điều này cho thấy rằng tỷ lệ tử vong cao ở các bệnh nhân bị suy thận cấp (tính) cần thẩm tách có thể không liên quan đến tiến trình thẩm tách (lọc máu) hoặc các rối loạn đi kèm, và cho thấy rằng chứng suy thận cấp (tính) là một dấu hiệu độc lập với tỷ lệ tử vong.

Cân bằng chất lỏng và tỉ lệ tử vong

Trong một phân tích và đánh giá sau Thử Nghiệm Điều Trị Chất Lỏng và Ống Thông (Fluid and Catheter Treatment Trial – FACTT) có tác dụng kiểm tra việc quản lý chất lỏng tự do (liberal fluid management) so với quản lý chất lỏng hạn chế (conservative fluid management) ở các bệnh nhân được luồn ống trong khoa chăm sóc đặc biệt, việc cân bằng chất lỏng và sử dụng thuốc lợi tiểu được xác định là các yếu tố tiên lượng cho tỷ lệ tử vong ở các bệnh nhân bị suy thận cấp (tính).  Đặc biệt là, chất lỏng tích lũy khá nhiều trung bình trong vòng 6 ngày (10,2 L trong nhóm quản lý chất lỏng tự do so với 3,7 L trong nhóm quản lý chất lỏng hạn chế) được xem gắn liền với tỷ lệ tử vong thấp hơn.

Lưu ý, có trên một nửa số bệnh nhân trong thử nghiệm FACTT bị suy thận cấp (tính) giai đoạn 1 (theo tiêu chuẩn AKIN: Acute Kidney Injury Network), do đó người ta vẫn chưa rõ các kết quả  này có áp dụng cho các giai đoạn bị suy thận cấp (tính) nghiêm trọng hơn không.  Một cách giải thích cho nghiên cứu này là các bệnh nhân mà tình trạng sức khỏe được ổn định và ít bị mất chất lỏng trong khoảng không ngoài tế bào (volume resuscitation) hơn sẽ có tỷ lệ sống sót cao hơn.  Từ góc độ thực tế, một kết luận cho rằng tình trạng mất chất lỏng nghiêm trọng và kéo dài sẽ không cải thiện được việc tiên lượng bệnh suy thận cấp (tính) trong khoa chăm sóc đặc biệt.

Các Yếu Tố Tiên Lượng Khác:

Sau đây là các yếu tố tiên lượng khác:

-      Cao tuổi
-      Nhiều cơ quan mất chức năng hoạt động, càng nhiều cơ quan bị mất chức năng hoạt động, thì dự đoán bệnh càng xấu.
-      Giảm niệu (oliguria)
-      Hạ huyết áp
-      Hỗ trợ tăng huyết áp
-      Số lần truyền máu
-      Chứng suy thận cấp (tính) xảy ra tự phát – có các dấu hiệu tiên lượng xấu nghiêm trọng

Tình trạng dư nitơ trong máu tiền thận (prerenal azotemia) do giảm thể tích máu (volume contraction) được điều trị bằng cách tăng thể tích máu (volume expansion); nếu không được điều trị trong một khoảng thời gian dài, tình trạng hoại tử ống thận có thể xảy ra và không thể hồi phục.  Chứng suy thận cấp (tính) sau thận, nếu để quá lâu không được điều trị, cũng có thể dẫn đến tình trạng hủy hoại thận vĩnh viễn.  Các tiến trình chẳng hạn như đặt ống thông, nghiền sỏi (lithotripsy), cắt tuyến tiền liệt (prostatectomy), đặt stent, và thủ thuật tạo lỗ hở thận qua da (percutaneous nephrostomy) có thể giúp ngăn ngừa tình trạng hủy hoại thận vĩnh viễn.

Viêm Cấu Trúc Thận (Nephritis)

Phát hiện kịp thời tình trạng viêm nhu mô và bể thận (pyelonephritis), điều trị hợp lý, và thực hiện biện pháp ngăn ngừa sử dụng các loại thuốc kháng sinh phòng ngừa có thể giúp cải thiện khả năng hồi phục, đặc biệt ở phụ nữ.  Chẩn đoán sớm chứng viêm cuộn cầu thận hình liềm (crescentic glomerulonephritis) thông qua phương pháp sinh thiết thận (renal biopsy) và các kiểm tra thích hợp khác có thể thúc đẩy khả năng hồi phục thận sớm, bởi vì biện pháp trị liệu thích hợp có thể được tiến hành ngay và theo phương án tấn công.  Số lượng hình liềm, dạng hình liềm (nghĩa là dạng tế bào so với dạng sợi), và mức creatinine trong máu vào thời điểm xuất hiện các triệu chứng có thể quyết định sự tiên lượng khả năng hồi phục thận ở các bệnh nhân này.

Hiện Tượng Protein Xuất Hiện Trong Nước Tiểu

Một nghiên cứu ở một nhóm người trong một thời gian dài đã cho thấy rằng hiện tượng protein xuất hiện trong nước tiểu (proteinuria) đi kèm với tỷ lệ lọc cuộn cầu thận cơ sở thấp có liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh suy thận cấp (tính) cao và cần phải được xem như một yếu tố nhận diện cho các cá nhân có nguy cơ.

Các Loại Thuốc Statin

Một nghiên cứu kiểm tra chứng suy thận cấp (tính) sau khi 200 000 bệnh nhân trên 66 tuổi được chọn lựa phẫu thuật đã cho thấy rằng các bệnh nhân nào sử dụng các loại thuốc statin có tỷ lệ mắc bệnh suy thận cấp (tính) và mức độ nghiêm trọng thấp hơn, đồng thời có tỷ lệ tử vong thấp hơn những cá nhân không sử dụng thuốc statin.  Ngoài ra, tỷ lệ mắc bệnh và mức độ nghiêm trọng đều có liên quan đến tính hiệu quả của thuốc statin.

Vì nghiên cứu này là một sự đánh giá các dữ liệu trong quá khứ (retrospective review), cho nên các tác giả đã không thể đề xuất việc sử dụng thuốc statin định kỳ tiền phẫu thuật.  Tuy nhiên, nghiên cứu này có thể cho thấy rằng bệnh nhân không nên ngưng sử dụng định kỳ các loại thuốc statin trước khi được chọn lựa phẫu thuật.

Dự Đoán Bệnh Lâu Dài

Khác hẳn với những gì được tin tưởng trước đây, hiện nay người ta biết rằng những người qua khỏi chứng suy thận cấp (tính) thường không có khả năng hồi phục.  Trong một kiểm tra theo dõi dài hạn (1 – 10 năm), khoảng 12,5% những người qua khỏi chứng suy thận cấp (tính) đều phụ thuộc vào phương pháp thẩm tách (lọc máu); tỷ lệ trải rộng trong một phạm vi lớn, từ 1 – 64%, tùy thuộc vào số lượng bệnh nhân.  Từ 19 – 31% những người qua khỏi chứng bệnh được phục hồi bán phần chức năng thận và mắc bệnh thận mãn tính (mạn).


Nguồn Bổ Sung: