About

Wednesday, February 25, 2015

SUY THẬN CẤP TÍNH - SUY THẬN CẤP (ACUTE KIDNEY FAILURE) - Do LQT Biên Dịch


CÁC BIẾN CHỨNG CÓ THỂ XẢY RA

Sau đây là các biến chứng có thể xảy ra:

-      Suy thận mãn tính (lâu dài)
-      Hủy hoại tim hoặc hệ thần kinh
-      Bệnh thận giai đoạn cuối
-      Cao huyết áp
-      Mất máu trong ruột  


Các biến chứng tim mạch

Các biến chứng tim mạch (chẳng hạn như suy tim, nhồi máu cơ tim (myocardial infarction), loạn nhịp tim (arrhythmias), tim ngừng đập (cardiac arrest) đã được chứng kiến trong số 35% các bệnh nhân bị suy thận cấp (tính).  Ứ chất lỏng do chứng suy thận cấp (tính) giảm niệu (oliguric acute kidney failure) là một nguy cơ đặc biệt đối với các bệnh nhân cao tuổi với khả năng bơm máu của tim (cardiac reserve) bị hạn chế.  Ở các bệnh nhân bị tim, nếu xảy ra tình trạng suy thận cấp (tính) trong trường hợp bị suy tim cấp (tính) mất khả năng duy trì tuần hoàn máu (acute decompensated heart failure) hoặc phẫu thuật tim, thì tình trạng suy thận cấp (tính) sẽ trở nên xấu hơn và có nhiều nguy cơ tử vong.

Viêm màng ngoài tim (pericarditis) là một biến chứng tương đối hiếm của chứng suy thận cấp (tính).  Khi tình trạng viêm màng ngoài tim làm cho chứng suy thận cấp (tính) trở nên nghiêm trọng, hãy xem xét thêm các tình trạng, chẳng hạn như luput ban đỏ toàn thân (systemic lupus erythematosus – SLE) và hội chứng gan thận (hepatorenal syndrome: rối loạn trong đó xuất hiện chứng suy thận cấp (tính) nặng dần trong các bệnh nhân bị xơ gan).

Chứng suy thận cấp cũng có thể là một biến chứng của các chứng bệnh về tim, chẳng hạn như viêm màng trong tim (endocarditis: viêm màng lót buồng tim và van tim), suy tim cấp (tính) mất khả năng duy trì tuần hoàn máu, hoặc rung tâm nhĩ với bong bóng khí (atrial fibrillation with emboli).  Hiện tượng tim ngừng đập ở các bệnh nhân bị suy thận cấp (tính) luôn luôn làm tăng nghi ngờ bị tăng ion kali trong máu (hyperkalemia).  Nhiều chuyên gia đề xuất một thử nghiệm truyền chlorua canxi (calcium chloride hoặc gluconate) cho các bệnh nhân nào bị suy thận cấp (tính) mà gặp phải hiện tượng tim ngừng đập.

Các biến chứng ở phổi

Các biến chứng ở phổi đã được báo cáo xảy ra trong khoảng 54% số bệnh nhân bị suy thận cấp (tính) và là một yếu tố nguy cơ gây tử vong quan trọng nhất ở các bệnh nhân bị suy thận cấp (tính).  Ngoài ra, các chứng bệnh tồn tại mà chúng thường đi kèm với rối loạn phổi tự phát và thận bao gồm:

-      Hội chứng Goodpasture (hội chứng phổi-thận)
-      Bệnh viêm u hạt Wegener (Wegener granulomatosis: một chứng bệnh hiếm thấy, trong đó các mạch máu và các mô bị viêm)
-      Bệnh viêm đa động mạch (polyarteritis nodosa: các động mạch có kích cỡ trung và nhỏ bị sưng và bị tổn thương)
-      Tình trạng xuất hiện kháng thể cryoglobulin trong máu (cryoglobulinemia)
-      Bệnh viêm cơ quan (sarcoidosis: chứng bệnh không rõ nguyên nhân, trong đó tình trạng viêm xảy ra ở các hạch bạch huyết, phổi, gan, mắt, da, và các mô khác)

Tình trạng thiếu oxy đến các mô (hypoxia) thường xảy ra trong quá trình thẩm tách qua da (hemodialysis: lọc máu qua da) và có thể đặc biệt quan trọng đối với các bệnh nhân bị bệnh phổi.  Tình trạng thiếu oxy liên quan đến thẩm tách (dialysis-related hypoxia) được xem do khối u không hoạt động gồm các bạch cầu trong phổi (lung sequestration of leukocytes: là một khối u cứng hoặc u nang được cấu tạo bởi mô chính không hoạt động, không trao đổi thông tin với hệ thống khí quản phổi và có nguồn cung cấp máu hệ thống không bình thường) và do tình trạng thiếu oxy túi phổi (alveolar hypoventilation) gây ra.  

Các biến chứng ở đường ruột và dạ dày

Buồn nôn, nôn mửa, và chán ăn là các biến chứng thường xuyên của chứng suy thận cấp (tính) và là một trong những dấu hiệu chính của tình trạng xuất hiện các sản phẩm thải trong máu (uremia).  Xuất huyết đường ruột và dạ dày (GI bleeding) xảy ra trong khoảng 1 phần 3 số bệnh nhân bị suy thận cấp (tính).  Đa số các đợt xuất huyết diễn biến nhẹ, nhưng nó là nguyên nhân gây tử vong cho 3 – 8% các bệnh nhân bị suy thận cấp (tính).

Viêm tuyến tụy

Tình trạng dư men amylase trong huyết thanh (hyperamylasemia) thường tìm thấy ở các bệnh nhân bị suy thận cấp (tính).  Nồng độ amylase tiêu chuẩn bị tăng cao có thể gây phức tạp cho việc chẩn đoán bệnh viêm tuyến tụy (pancreatitis) ở các bệnh nhân bị suy thận cấp (tính).  Số đo men lipase, mà nồng độ men này thường không tăng cao ở các bệnh nhân bị suy thận cấp (tính), thường rất cần thiết cho việc chẩn đoán bệnh viêm tuyến tụy.  Viêm tuyến tụy đã được báo cáo là một chứng bệnh xảy ra đồng thời với chứng suy thận cấp (tính) ở các bệnh nhân bị bệnh tắc mạch do tinh thể cholesterol (atheroemboli), viêm mạch (vasculitis), và nhiễm trùng do viêm ống mật cấp (ascending cholangitis).

Bệnh vàng da

Bệnh vàng da (jaundice) được báo cáo là một biến chứng của bệnh thận hư cấp (tính) xảy ra trong khoảng 43% các trường hợp.  Nguyên nhân gây bệnh vàng da ở các bệnh nhân bị chứng suy thận cấp (tính) là tình trạng ứ máu trong gan (hepatic congestion), truyền máu (blood transfusion), và nhiễm trùng (sepsis).

Viêm gan

Nếu viêm gan xảy ra đồng thời với chứng suy thận cấp (tính) thì nên cân nhắc ngay đến các rối loạn sau đây bằng phương pháp chẩn đoán phân biệt (differential diagnosis: phân biệt các chứng bệnh có chung đặc điểm bằng các so sánh các dấu hiệu và các triệu chứng): 

-      Tắc nghẽn ống mật chủ (common bile duct obstruction)
-      Viêm gan B phát đột ngột
-      Bệnh trùng xoắn móc câu (leptospirosis)
-      Ngộ độc thuốc acetaminophen
-      Nhiễm độc nấm amanita phalloides

Các biến chứng do nhiễm trùng

Các tình trạng nhiễm trùng thường làm cho quá trình bệnh suy thận cấp (tính) trở nên nghiêm trọng và đã được báo cáo xảy ra trong khoảng 33% số bệnh nhân bị suy thận cấp (tính).  Các khu vực thường bị nhiễm trùng nhất là phổi và đường tiết niệu.  Tình trạng nhiễm trùng thường là nguyên nhân hàng đầu làm cho bệnh hoành hành và gây tử vong ở các bệnh nhân bị suy thận cấp (tính).  Có nhiều nghiên cứu khác nhau đã báo cáo tỉ lệ tử vong là 11 – 72% trong các trường hợp nhiễm trùng gây nghiêm trọng cho bệnh suy thận cấp (tính).

Các biến chứng thần kinh

Các dấu hiệu thần kinh của chứng urê huyết là một biến chứng phổ biến của chứng suy thận cấp (tính) và đã được báo cáo xảy ra trong khoảng 38% các bệnh bị suy thận cấp (tính).  Các di chứng (sequelae) thần kinh bao gồm trạng thái hôn mê (lethargy), trạng thái buồn ngủ, sự đảo ngược chu kỳ thức-ngủ, suy giảm chức năng nhận thức và trí nhớ.  Suy giảm chức năng hệ thống thần kinh đặc thù (focal neurologic deficit) hiếm khi chỉ do chứng urê huyết gây ra.

Người ta vẫn chưa rõ sinh lý bệnh (pathophysiology) của các triệu chứng thần kinh, nhưng các triệu chứng này không liên quan nhiều đến nồng độ nitơ từ phân trong máu (BUN: blood urea nitrogen) hoặc nồng độ creatinine.

Một số chứng bệnh thể hiện bằng các dấu hiệu thần kinh và thận xảy ra cùng lúc, bao gồm:

-      Luput ban đỏ toàn thân (systemic lupus erythematosus – SLE)
-      Ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối (thrombotic thrombocytopenic purpura – TTP)
-      Hội chứng tan huyết urê trong máu (hemolytic uremic syndrome – HUS)
-      Viêm màng trong tim (endocarditis)
-      Cao huyết áp ác tính (malignant hypertension)

BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH CHỨNG SUY THẬN CẤP (TÍNH)

Các đợt kiểm tra sức khỏe tổng quát do bác sĩ thực hiện bao gồm các xét nghiệm máu và xét nghiệm nước tiểu (urinalysis) để theo dõi tình trạng sức khỏe của thận và đường tiết niệu.

Uống đủ chất lỏng để giữ cho thận hoạt động bình thường.

Tránh sử dụng các hợp chất hoặc các loại thuốc mà có thể gây độc hại hoặc hủy hoại các mô thận.  Hãy hỏi bác sĩ về các hợp chất này để tránh sử dụng.

Những người có nguy cơ bị bệnh thận mãn tính (mạn) có thể cần được kiểm tra thường xuyên hơn để kiểm tra chức năng thận và các rối loạn khác mà chúng xảy ra khi chức năng thận bị suy giảm.  Nếu khó đi tiểu hoặc có máu trong nước tiểu thì bệnh nhân nên đi khám bác sĩ ngay lập tức.


Nguồn bổ sung: