About

Wednesday, February 25, 2015

SUY THẬN CẤP TÍNH - SUY THẬN CẤP (ACUTE KIDNEY FAILURE) - Do LQT Biên Dịch


CÁC NGUYÊN NHÂN

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tổn thương thận.  Các nguyên nhân này có thể bao gồm:

-      Hoại tử ống thận cấp tính (acute tubular necrosis – ATN)
-      Bệnh thận tự miễn dịch, bao gồm:
▫ Hội chứng thận cấp tính
Viêm kẽ thận (interstitial nephritis)
-      Giảm lưu lượng máu do huyết áp xuống quá thấp, mà có thể do:
▫ Phỏng (bỏng)
▫ Mất chất lỏng trong cơ thể
▫ Xuất huyết
▫ Thương tổn
Sốc nhiễm trùng (septic shock)
▫ Bệnh nặng
▫ Phẫu thuật
-      Các rối loạn gây ra máu kết khối trong mạch thận:
Hội chứng tan urê huyết (hemolytic-uremic syndrome)
Ban xuất huyết giảm tiểu cầu tự phát (idiopathic thrombocytopenic thrombotic purpura – ITTP: rối loạn xuất huyết, trong đó hệ thống miễn dịch tiêu diệt các tiểu huyết cầu có chức năng giúp đông máu)
Cao huyết áp ác tính (malignant hypertension: huyết áp tăng cao đột ngột và xảy ra rất nhanh)
Phản ứng truyền máu tan hồng cầu (transfusion reaction: một rối loạn nghiêm trọng xảy ra sau khi bệnh nhân được truyền máu.  Các hồng huyết cầu bị hệ thống miễn dịch của cơ thể bệnh nhân tiêu diệt)
Bệnh xơ cứng bì (scleroderma)
-      Các bệnh nhiễm trùng gây thương tổn trực tiếp đến thận, bao gồm:
Nhiễm khuẩn thận cấp tính (acute pyelonephritis)
Nhiễm trùng máu (septicemia)
-      Các biến chứng trong thời gian mang thai, bao gồm:
Tách nhau thai (placenta abruptio: nhau thai bị tách ra khỏi thành tử cung trước khi sinh)
Lạc vị nhau thai cổ tử cung (placenta previa: nhau thai phát triển ở phần thấp nhất của tử cung, che một phần hoặc toàn phần cổ tử cung)
-      Tắc nghẽn đường tiết niệu

Các nguyên nhân gây suy thận (cấp) tính thuộc 1 trong các nhóm sau đây:

-      Trước thận: Các rối loạn ảnh hưởng đến lưu lượng máu trước khi dẫn đến thận
-      Sau thận: Các rối loạn ảnh hưởng đến sự dẫn lưu nước tiểu ra khỏi thận
-      Trong thận: Các rối loạn trong thận, ảnh hưởng đến chức năng lọc máu hoặc sản sinh nước tiểu.

Các Nguyên Nhân Gây Suy Thận Cấp (Tính) Trước Thận

Rối loạn trước thận là dạng suy thận cấp (tính) phổ biến nhất (60 – 70% trong tất cả các trường hợp).  Thận không nhận được đủ máu để lọc.  Rối loạn trước thận có thể do các tình trạng sau đây gây ra:

-      Cơ thể bị mất nước: Do nôn mửa, tiêu chảy, sử dụng thuốc lợi tiểu, hoặc mất máu
-      Máu ngưng chảy đến thận do nhiều nguyên nhân:
▫ Huyết áp hạ đột ngột sau khi phẫu thuật bị mất máu, thương tổn hoặc bỏng (phỏng) nghiêm trọng, hoặc nhiễm trùng máu (sepsis) làm cho các mạch máu co giãn không bình thường
▫ Một mạch dẫn máu đến thận bị tắc nghẽn hoặc bị thu hẹp
▫ Suy tim hoặc nhồi máu cơ tim làm cho máu chảy chậm
▫ Hư gan tạo ra các thay đổi ở kích thích tố, ảnh hưởng đến lưu lượng và áp suất máu đến thận

Đối với rối loạn trước thận, ban đầu thận chưa thực sự bị hủy hoại.  Nếu được điều trị hợp lý, tình trạng rối loạn chức năng hoạt động này có thể đảo ngược được.  Tuy nhiên, nếu lưu lượng máu đến thận tiếp tục bị sụt giảm trong một thời gian dài, thì các mô thận có thể bị hủy hoại vĩnh viễn.

Các Nguyên Nhân Gây Suy Thận Cấp (Tính) Sau Thận

Rối loạn sau thận thỉnh thoảng được gọi là suy thận tắc nghẽn (obstructive renal failure), vì rối loạn này thường do tình trạng mất khả năng bài tiết nước tiểu được thận sản sinh gây ra.  Đây là nguyên nhân gây ra chứng suy thận cấp tính hiếm khi xảy ra nhất (5 – 10% trong tổng số các trường hợp).  Rối loạn này có thể đảo ngược được, trừ khi tình trạng tắc nghẽn kéo dài quá lâu mà nó sẽ làm cho mô thận bị hủy hoại.

Tình trạng tắc nghẽn một hoặc cả hai ống niệu (ureter) có thể do các nguyên nhân sau đây:

-      Sỏi thận, thường xuất hiện ở một bên
-      Ung thư các bộ phận tiết niệu, ung thư thận hoặc thận có khối u, hoặc các cấu trúc gần đường tiết niệu gây tắc nghẽn dòng chảy nước tiểu
-      Sử dụng thuốc

Tình trạng tắc nghẽn bàng quang (bọng đái) có thể do các nguyên nhân sau đây:

-      Sỏi bàng quang (sỏi bọng đái)
-      Sưng tuyến tiền liệt (nguyên nhân phổ biến nhất ở nam giới)
-      Huyết khối
-      Ung thư bàng quang (ung thư bọng đái)
-      Các rối loạn thần kinh ở bàng quang (bọng đái) làm suy yếu khả năng co bóp

Phương pháp điều trị bao gồm việc giải tỏa tình trạng tắc nghẽn.  Sau khi đã giải quyết được tình trạng tắc nghẽn, thận thường sẽ khôi phục chức năng hoạt động trong vòng 1 đến 2 tuần nếu không bị nhiễm trùng thận hoặc bị các vấn đề khác.

Các Nguyên Nhân Gây Suy Thận Cấp (Tính) Trong Thận

Tình trạng hủy hoại thận chính (primary renal damage) là nguyên nhân phức tạp nhất của chứng thận hư (chiếm khoảng 25 – 40% các trường hợp).  Các nguyên nhân gây suy thận cấp tính trong thận bao gồm các rối loạn ảnh hưởng đến chức năng lọc của thận, các rối loạn ảnh hưởng đến nguồn cung cấp máu bên trong thận, và các rối loạn ảnh hưởng đến mô thận có nhiệm vụ xử lý muối và nước.

Sau đây là các nguyên nhân gây suy thận trong thận:

-      Các bệnh về mạch máu
-      Huyết khối (blood clot) trong một mạch máu ở thận
-      Thương tổn đến mô và các tế bào thận
-      Viêm búi mao mạch thận (glomerulonephritis)
-      Viêm mô kẽ thận cấp tính (acute interstitial nephritis)
-      Hoại tử ống thận cấp tính (actue tubular necrosis)
-      Bệnh thận đa nang (polycystic kidney disease – PKD)

Viêm búi mao mạch thận: Các búi mao mạch, hệ thống lọc đầu tiên trong thận, có thể bị hủy hoại bởi nhiều chứng bệnh khác nhau, bao gồm các bệnh nhiễm trùng.  Tình trạng viêm từ đó gây suy yếu chức năng thận.

-      Một ví dụ phổ biến là biến chứng của bệnh viêm họng khuẩn cầu chuỗi (strep throat).  Các chứng bệnh nhiễm khuẩn cầu chuỗi có thể hủy hoại các búi mao mạch thận (glomerulus).
-      Các triệu chứng của rối loạn búi mao mạch thận có thể bao gồm nước tiểu có màu tối (có màu giống nước ngọt cola hoặc trà) và đau lưng.
-      Các triệu chứng khác bao gồm bệnh nhân đi tiểu ít hơn bình thường, có máu trong nước tiểu, cao huyết áp, và cơ thể bị ứ nước (cơ thể trương phồng lên)
-      Phương án điều trị thường bao gồm việc sử dụng thuốc, và nếu chức năng thận bị hủy hoại nghiêm trong, bệnh nhân có thể cần phải được thẩm tách máu (lọc máu) để loại bỏ các sản phẩm thải nguy hiểm.

Viêm kẽ thận cấp tính: Đây là một tình trạng suy giảm đột ngột chức năng thận do viêm mô kẽ thận gây ra, các mô này có nhiệm vụ chính là xử lý muối và nước thay vì lọc các chất thải.

-      Sử dụng các loại thuốc như kháng sinh, các thuốc kháng viêm (ví dụ, aspirin, ibuprofen), và thuốc lợi tiểu là các nguyên nhân phổ biến nhất.
-      Các nguyên nhân khác bao gồm các bệnh nhiễm trùng và các chứng bệnh liên quan đến miễn dịch, chẳng hạn như luput, bệnh bạch cầu (leukemia), u lym phô, và bệnh viêm u hạt (carcoidosis).
-      Tình trạng này có thể được chữa khỏi nếu thận không bị hủy hoại nghiêm trọng.
-      Phương pháp điều trị bao gồm ngưng sử dụng các loại thuốc gây thương tổn, điều trị tình trạng nhiễm trùng, và thẩm tách máu (lọc máu) trong các trường hợp chức năng thận bị suy yếu nghiêm trọng

Hoại tử ống thận cấp tính: Các cấu trúc ống trong thận bị hủy hoại và không thể hoạt động bình thường.  Tình trạng hoại tử ống thận thường là hậu quả cuối cùng từ các nguyên nhân khác gây chứng thận hư cấp tính.  Các ống này là những cấu trúc dễ bị thương tổn, các ống này có nhiệm vụ xử lý đa số các chức năng lọc của thận.  Khi bị tình trạng hoại tử, các tế bào hình thành các cấu trúc ống này sẽ bị suy giảm chức năng hoạt động và chết đi.

-      Tình trạng này là nguyên nhân gây ra 90% các trường hợp bị suy thận cấp tính chính.
-      Các nguyên nhân bao gồm sốc (giảm nguồn cung cấp máu đến thận), thuốc (đặc biệt là thuốc kháng sinh) và các chất dùng trong hóa trị, các chất độc hại, các chất phản quang được sử dụng trong các phương pháp chụp X-quang.
-      Một số người sản sinh nước tiểu ít hơn rất nhiều so với mức bình thường.  Các triệu chứng khác của chứng hoại tử ống thận cấp tính bao gồm mệt mỏi, sưng, hôn mê, buồn nôn, nôn mửa, đau vùng bụng, đau thận, mất khẩu vị, và phát ban.  Thỉnh thoảng bệnh nhân không xuất hiện triệu chứng nào.
-      Phương án điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân gây hủy hoại và có thể bao gồm việc ngưng sử dụng thuốc gây thương tổn, tái bổ sung chất lỏng cho cơ thể, và cải thiện lưu lượng máu dẫn đến thận.  Bệnh nhân có thể được cho sử dụng một loại thuốc lợi tiểu để tăng cường quá trình sản sinh nước tiểu nếu dung lượng nước trong cơ thể tăng quá cao.
-      Nếu thận của bệnh nhân không có dấu hiệu hồi phục và các phương pháp điều trị này không đủ thay thế cho chức năng thận đã mất, thì bệnh nhân cần phải được thẩm tách máu (lọc máu) thường xuyên hoặc có thể là ứng viên cho tiến trình cấy ghép thận.

Bệnh thận đa nang (PKD): Đây là một rối loạn mang tính di truyền, đặc thù bởi sự phát triển của vô số các túi nhỏ (nang) trong thận.  Bệnh này có thể làm gia tăng kích thước của thận và thay thế các cấu trúc bình thường trong thận, dẫn đến tình trạng suy giảm chức năng thận và từ đó gây ra chứng suy thận.

-      Khi bệnh thận đa nang gây ra tình trạng suy thận, và tình trạng này thường xảy ra sau nhiều năm, thì bệnh nhân cần phải được lọc máu hoặc ghép thận.
-      Khoảng 1 nửa số người có các dạng bệnh thận đa nang (polycystic kidney disease - PKD) phổ biến nhất sẽ phát triển thành chứng suy thận, còn được gọi là bệnh thận giai đoạn cuối (end-stage renal disease).


Bệnh thận đa nang (polycystic kidney disease - PKD)