About

Wednesday, February 25, 2015

CHỨNG Ợ NÓNG - CHỨNG Ợ CHUA (HEARTBURN) - Do LQT Biên Dịch


PHẪU THUẬT

Phương pháp phẫu thuật trị liệu tiêu chuẩn cho bệnh trào ngược thực quản (GERD) là quấn đáy trên bao tử (fundoplication).  Mục đích của tiến trình này là gồm 2 phần:


-      Gia tăng áp suất cơ thắt thực quản dưới (LES), do đó, có thể ngăn ngừa axit trào ngược
-      Điều chỉnh tình trạng bao tử thoát vị vào khe thực quản (hiatal hernia)


Có hai phương pháp tiếp cận chính:

-      Phương pháp open Nissen fundoplication (đáy trên dạ dày được quấn quanh thực quản, phương pháp này đòi hỏi vết mổ lớn)
-      Phương pháp quấn đáy trên bao tử soi ổ bụng (Laparoscopic fundoplication)

Thông thường, các lợi ích toàn diện dài hạn của những tiến trình này đều giống nhau.  Một số nghiên cứu báo cáo rằng, có hơn 90% số bệnh nhân được chữa khỏi chứng ợ nóng sau phẫu thuật và họ hài lòng với sự chọn lựa của bản thân, thậm chí sau 5 năm.  Phương pháp quấn đáy trên bao tử (fundoplication) giúp cho khoảng 85% bệnh nhân hạ giảm các cơn ho do bệnh trào ngược thực quản gây ra và một số triệu chứng hô hấp khác.  (Tuy nhiên, người ta vẫn chưa rõ tác dụng của phương pháp này đối với bệnh suyễn có liên quan đến bệnh trào ngược thực quản).  Phương pháp này cũng giúp tăng cường khả năng tiêu hóa của bao tử và cải thiện tính năng co bóp của thực quản (peristalsis: nhu động) trong khoảng một nửa số bệnh nhân.  (Phương pháp này có thể gây ra các bất thường trong tính năng co bóp của thực quản ở 14% số bệnh nhân, mặc dù trong các trường hợp này vấn đề tỏ ra không nghiêm trọng). 

Tuy nhiên, phương pháp này có những hạn chế đáng kể và những vấn đề khác xuất hiện sau phẫu thuật.  Ví dụ, các kết quả của một cuộc khảo sát vào năm 2003 đã cho thấy rằng, khoảng 18% số bệnh nhân tiếp nhận phẫu thuật vẫn phải cần đến các loại thuốc trị bệnh trào ngược thực quản, và 38% đã xuất hiện các triệu chứng mới (ví dụ, đánh hơi, trương bụng, khó nuốt), thường xảy ra sau hơn 1 năm phẫu thuật.  Các nghiên cứu khác cũng đã báo cáo các kết quả tương tự.  Ngoài ra, phương pháp quấn đáy trên bao tử không chữa khỏi bệnh trào ngược thực quản.  Sau cùng, chứng cứ từ một nghiên cứu ở Thụy Điển vào năm 2002 cho thấy một cách rõ ràng rằng tiến trình này không có khả năng hạ giảm nguy cơ ung thư thực quản ở các bệnh nhân có nhiều rủi ro, chẳng hạn như những người bị rối loạn thực quản Barrettt.

Các Ứng Viên.  Phương pháp quấn đáy trên bao tử được đề xuất cho các bệnh nhân có 1 hoặc nhiều vấn đề sau đây:

-      Viêm thực quản (esophagitis)
-      Các triệu chứng kéo dài hoặc tái phát cho dù được trị liệu bằng thuốc chống trào ngược
-      Thực quản có những chỗ bị thu hẹp
-      Không thể tăng cân hoặc không thể duy trì cân nặng (ở trẻ em)

Phương pháp quấn đáy trên bao tử không mang lại nhiều lợi ích cho các bệnh nhân bị suy giảm tính năng co bóp của bao tử (impair stomach motility).

Tiến Trình Open Nissen Fundoplication.  Cho đến gần đây, đa số các thủ thuật quấn đáy trên bao tử cho bệnh trào ngược thực quản (GERD) là phương pháp quấn đáy trên thực quản Nissen 360o (360° Nissen fundoplication).  Tiến trình này được gọi là thủ thuật mở vì nó đòi hỏi các vết mổ rộng.

-      Khi tiến hành thủ thuật này, bác sĩ sẽ quấn đáy trên của bao tử (fundus) xung quanh thực quản để tạo nên một cấu trúc giống cổ áo.
-      “Cổ áo” này tạo áp lực lên cơ thắt thực quản dưới (LES) và giúp ngăn ngừa dịch vị ở bao tử chạy ngược lên thực quản.
-      Thủ thuật quấn đáy trên bao tử mở đòi hỏi bệnh nhân phải ở lại bệnh viện từ 6 đến 10 ngày.

Quấn Đáy Trên Bao Tử Soi Ổ Bụng (Laparoscopic Fundoplication).  Trong nhiều trường hợp, tiến trình quấn đáy trên bao tử xâm lấn tiêu chuẩn đã được thay thế bởi tiến trình quấn đáy trên bao tử ít xâm lấn hơn mà nó sử dụng phương pháp nội soi.  Khi tiến hành thủ thuật này:

-      Các vết rạch nhỏ sẽ được tạo ra ở vùng bụng.
-      Các thiết bị nhỏ và một máy quay (camera) siêu nhỏ được đưa vào các ống, nhờ đó bác sĩ giải phẫu có thể nhìn thấy được khu vực cần phẫu thuật.
-      Bác sĩ giải phẫu sẽ tạo ra cấu trúc giống cổ áo từ đáy trên bao tử, mặc dù khu vực này rất nhỏ và rất khó tiến hành.

Với bác sĩ giải phẫu kinh nghiệm, tiến trình này sẽ mang lại kết quả tương tự như tiến trình quấn đáy trên bao tử mở tiêu chuẩn, nhưng bệnh nhân có thời gian hồi phục nhanh hơn.

Nói tóm lại, tiến trình quấn đáy trên bao tử soi ổ bụng tỏ ra an toàn và hiệu quả đối với các bệnh nhân ở mọi lứa tuổi, ngay cả trẻ sơ sinh.  Ở một số bệnh nhân, phương pháp soi ổ bụng khó thực hiện hơn, bao gồm những người béo phì, những người này có thực quản ngắn hơn, hoặc những người đã từng tiếp nhận phẫu thuật ở vùng bụng trên.  Phương pháp này cũng tỏ ra ít thành công hơn trong việc hạ giảm các triệu chứng không điển hình của bệnh trào ngược thực quản, bao gồm ho, đau ngực không bình thường, và bị nghẹt thở (choking).  Trong khoảng 8% các trường hợp tiếp nhận thủ thuật soi ổ bụng, bệnh nhân phải chuyển sang tiến hành phẫu thuật mở tiêu chuẩn trong thời gian đang thực hiện thủ thuật bởi vì các biến chứng bất ngờ xảy ra.

Các Dạng Khác.  Hiện nay có một số dạng thủ thuật quấn đáy trên bao tử khác.  Sau đây là các ví dụ:

-      Thủ thuật quấn đáy trên bao tử Toupet (Toupet fundoplication) chỉ quấn một phần đáy trên bao tử, tương tự như thủ thuật Thal.  Các tiến trình quấn bán phần có thể mang lại kết quả tốt hơn ở các bệnh nhân bị suy giảm hoặc mất tính năng co bóp của thực quản (spontaneous muscle contraction).  Các bệnh nhân có thực quản họat động bình thường có thể thích hợp hơn với phương pháp quấn toàn phần.
-      Các thủ thuật khác tạo các miếng quấn toàn phần nhưng ngắn và mềm.

Nhiều bác sĩ giải phẫu báo cáo rằng các phương pháp quấn đáy trên bao tử giới hạn này sẽ giúp bệnh nhân được cho ăn sớm hơn và xuất viện nhanh hơn, cũng như có tỉ lệ xuất hiện biến chứng thấp hơn (khó nuốt, trương hơi, nôn ọe) so với phương pháp quấn đáy trên bao tử mở Nissen (open Nissen fundoplication).  Tuy nhiên, theo báo cáo từ một nghiên cứu ở Anh quốc, các vấn đề nuốt thức ăn không có gì là khác biệt.

Các Vấn Đề Sau Phẫu Thuật và Các Biến Chứng Sau Khi Thực Hiện Thủ Thuật Quấn Đáy Trên Bao Tử.  Các vấn đề sau phẫu thuật có thể bao gồm chức năng hoạt động của ruột bị trì hoãn, gây ra trương hơi, nôn ọe, và nôn mửa.  Các tác dụng phụ này thường chấm dứt trong một vài tuần.  Tuy nhiên, một nghiên cứu năm 2003 cho thấy rằng có khoảng 38% số bệnh nhân phát triển các triệu chứng này, và thường xảy ra hơn 1 năm sau khi thực hiện các tiến trình này.  Nếu các triệu chứng kéo dài hoặc nếu chúng bắt đầu xuất hiện sau phẫu thuật nhiều tuần hoặc nhiều tháng, đặc biệt nếu có tình trạng nôn mửa, thì có khả năng đó là các biến chứng do phẫu thuật.  Sau đây là các biến chứng:

-      Đáy trên bao tử được quấn quá chặt.  Vấn đề này khá phổ biến và có thể gây ra tình trạng khó nuốt (dysphagia), cũng như nôn ọe, đầy hơi, hoặc mất khả năng (burp).  (Một tiến trình theo dõi giúp nới rộng thực quản bằng một bong bóng được bơm phồng có thể giúp điều chỉnh tình trạng khó nuốt, mặc dù tiến trình này không thể chữa trị các triệu chứng khác).
-      Tắc nghẽn ruột
-      Nhiễm trùng vết thương
-      Gây thương tổn đến các bộ phận lân cận
-      Các biến chứng về hô hấp, chẳng hạn như phổi bị xẹp xuống.  Các biến chứng này thường không phổ biến, đặc biệt khi thực hiện thủ thuật quấn đáy trên bao tử soi ổ bụng.
-      Vọp bẻ cơ sau khi nuốt thức ăn.  Tình trạng này có thể gây đau nhức dữ dội và bệnh nhân có thể cần phải thực hiện chế độ ăn chỉ bao gồm chất lỏng, thỉnh thoảng kéo dài nhiều tuần.  Ở đa số bệnh nhân, đây là một biến chứng hiếm khi xảy ra, nhưng nó có thể rất thường xảy ra ở các trẻ em bị các rối loạn về thần kinh.  Các trẻ em này đã có rất nhiều nguy cơ bị bệnh trào ngược thực quản (GERD).

Các Lý Do Trị Liệu Thất Bại.  Tỉ lệ thất bại dài hạn sau thủ thuật quấn đáy trên bao tử là 30% sau 5 năm và 63% sau 10 năm.  Tình trạng thoát vị bao tử vào khe thực quản (hiatal herniation) là lý do phổ biến nhất cho sự thất bại của trị liệu phẫu thuật và nhu cầu lặp lại thủ thuật này.  Các lý do tái phẫu thuật phổ biến khác bao gồm thực quản không hoạt động, trượt ra khỏi vị trí ban đầu, và đáy trên bao tử quấn quá chặt.  Bác sĩ giải phẫu kinh nghiệm có thể giảm bớt được nguy cơ xuất hiện các biến chứng.  Một số nghiên cứu đã báo cáo rằng các tiến trình phẫu thuật lặp lại sau khi thực hiện các tiến trình mở đã xảy ra ở 9 – 30% các trường hợp và 13% sau khi thực hiện tiến trình soi ổ bụng.  (Phẫu thuật lặp lại thường mang lại các kết quả khả quan).

Các Tiến Trình Phẫu Thuật Điều Trị Sử Dụng Phương Pháp Soi Ổ Bụng

Một số tiến trình điều trị sử dụng phượng pháp soi ổ bụng được sử dụng hoặc được điều tra để làm tăng áp lực cơ thắt thực quản dưới (LES) do đó giúp ngăn ngừa tình trạng trào ngược, cũng như để điều trị bệnh trào ngược thực quản nghiêm trọng và các biến chứng mà nó gây ra.

Phương Pháp Khâu Nội Soi Linh Hoạt Qua Miệng.  Phương pháp khâu nội soi linh hoạt qua miệng (transoral flexible endoscopic suturing), thỉnh thoảng được gọi là tiến trình Bard), sử dụng một dụng cụ nhỏ được gắn ở đầu ống nội soi có chức năng giống như một máy khâu siêu nhỏ.  Máy này tạo các vết khâu ở hai vị trí gần cơ thắt thực quản dưới, sau đó được cột lại để thắt chặt van này và làm tăng áp suất.  Phương pháp này không có vết mổ và không cần gây mê.

Tần Số Vô Tuyến.  Năng lượng tần số vô tuyến phát sinh từ đầu kim (thỉnh thoảng được gọi là tiến trình Stretta) hâm nóng và tiêu diệt mô ở khu vực bị vấn đề của ở cơ thắt thực quản dưới.  Có thể tổ chức mô bị chai sẽ giúp tăng cường sức cơ, hoặc nhiệt sẽ hủy hoại các dây thần kinh gây ra tình trạng mất tính năng hoạt động.  Các bệnh nhân có thể gặp một số tình trạng đau ngực hoặc đau bao tử sau đó.  Chỉ có vài tác dụng phụ nghiêm trọng được báo cáo, mặc dù đã có báo cáo bị thủng lỗ, xuất huyết, và thậm chí tử vong.  Một nghiên cứu mới đây đã báo cáo rằng có khoảng 81% số bệnh nhân không xuất hiện các triệu chứng lên đến 3 năm sau khi thực hiện tiến trình Stretta.

Cấy Dưới Da.  Vào năm 2003, cơ quan FDA đã chuẩn thuận tiến trình Enteryx như một chọn lựa điều trị cho những người có các triệu chứng bệnh trào ngược thực quản kéo dài và cho những người sử dụng thường xuyên và có hiệu quả đối với các loại thuốc chặn bơm proton (PPI).  Tuy nhiên, vào năm 2005, nhà sản xuất Enteryx (Boston Scientific), tự nguyện thu hồi Enteryx do các vấn đề gây khó khăn cho kỹ thuật tiêm qua da.

Các Phương Pháp Chặn Xuất Huyết.  Phương pháp điều trị nội soi chặn xuất huyết bao gồm việc sử dụng một dụng cụ thăm dò đi qua ống nội soi, ứng dụng điện hoặc nhiệt để làm đông máu và chặn tình trạng xuất huyết.

Các Tiến Trình Nới Rộng.  Những vùng bị thu hẹp có thể cần phải được mở rộng bằng tiến trình nội soi.  Phương pháp mở rộng có thể được thực hiện bằng cách bơm phồng một bong bóng trong thực quản.  Khoảng 30% số bệnh nhân cần đến tiến trình này đòi hỏi phải thực hiện một loạt các tiến trình mở rộng trong một khoảng thời gian dài để mở rộng hoàn toàn thực quản.  Sử dụng dài hạn các loại thuốc chặn bơm proton có thể giúp giảm bớt thời gian điều trị.

Có một nghiên cứu cũng cho thấy rằng phương pháp mở rộng có thể giúp điều chỉnh các vấn đề nuốt thức ăn mà các tình trạng này có thể xảy ra sau khi thực hiện thủ thuật quấn đáy trên bao tử.  Trong nghiên cứu này, phương pháp mở rộng đã cải thiện được tình trạng khó nuốt cho khoảng 67% số bệnh nhân gặp phải vấn đề này.

Có một tiến bộ khoa học mới đây là việc phát triển tiến trình nội soi trên đường kính nhỏ (small-caliber upper endoscopy), không đòi hỏi dùng thuốc an thần và có thể được thực hiện trong phòng khám bác sĩ. 


Nguồn video: