About

Wednesday, February 25, 2015

CHỨNG Ợ NÓNG - CHỨNG Ợ CHUA (HEARTBURN) - Do LQT Biên Dịch


CHẨN ĐOÁN

Nếu bệnh nhân bị chứng ợ nóng mãn tính, thì bệnh nhân này cũng có nhiều nguy cơ bị bệnh trào ngược thực quản.  (Thỉnh thoảng bị ợ nóng không nhất thiết là dấu hiệu của bệnh trào ngược thực quản).  Sau đây là phương pháp tiếp cận chẩn đoán tổng quát:

-      Bác sĩ thường có thể dễ dàng chẩn đoán ra bệnh trào ngược thực quản (GERD) nếu sau khi sử dụng thuốc kháng axit (antacid) trong thời gian ngắn mà bệnh nhân cảm thấy chứng ợ nóng mãn tính và trào ngược axit được thuyên giảm.
-      Nếu kết quả chẩn đoán không được rõ ràng nhưng bác sĩ vẫn nghi ngờ bị bệnh trào ngược thực quản (GERD), thì bệnh nhân có thể được thử nghiệm sử dụng một loại thuốc ức chế bơm proton (proton-pump inhibitor), chẳng hạn như omeprazole (Prilosec), thử nghiệm này có tỉ lệ xác định bệnh GERD là 80 – 90%.  Nhóm thuốc này có tác dụng ngăn chặn quá trình tiết ra axit.

Có thể cần đến các xét nghiệm và các tiến trình xâm lấn, bao gồm phương pháp nội soi nếu kết quả chẩn đoán vẫn chưa chắc chắn, nếu các triệu chứng không điển hình xuất hiện, nếu nghi ngờ bị rối loại thực quản Barrett, hoặc nếu có các triệu chứng, chẳng hạn như các dấu hiệu bị xuất huyết hoặc khó nuốt.  Một số các kiểm tra này sẽ được mô tả dưới đây.

Chụp X Quang Nuốt Bari (Barium)

Chụp X-quang nuốt bari (barium-swallow radiograph hoặc upper GI series) được  sử dụng để kiểm tra đường tiêu hóa trên (thực quản, bao tử, và ruột non), phương pháp này rất có lợi trong việc xác định các bất thường về cấu trúc và bệnh viêm thực quản ăn mòn (erosive esophagitis).  Khi thực hiện kiểm tra này, vì thực quản thường không hiển thị trong hình chụp X-quang, bệnh nhân sẽ được cho uống một dung dịch chứa bari (barium), sau đó sẽ được chụp X-quang.  Dung dịch bari sẽ tráng một lớp lên niêm mạc thực quản, làm cho bộ phận này hiện rõ trên hình chụp X-quang.  Kiểm tra này có thể chỉ ra chỗ bị thu hẹp, những lỗ trũng mới do vết loét, tình trạng thoát vị bao tử vào khe thực quản (hiatal hernia), sự ăn mòn, hoặc các bất thường khác.  Kiểm tra này không thể phát hiện ra tình trạng viêm nhẹ.

Bệnh nhân nên cho bác sĩ hoặc chuyên viên chụp X-quang biết họ có đang mang thai hoặc có ý định mang thai không.  Nếu bị bệnh tiểu đường (bệnh đái tháo đường) và đang sử dụng insulin, bệnh nhân nên thảo luận với bác sĩ về vấn đề này trước khi thực hiện kiểm tra.

Bệnh nhân phải ngưng ăn và uống 1 đêm trước khi thực hiện kiểm tra này, vì thức ăn trong bao tử hoặc trong đường ruột có thể cản trở bác sĩ nhìn rõ phác đồ của các cấu trúc này trên hình chụp X-quang.  Bệnh nhân có thể uống thuốc mà họ đang sử dụng như thường lệ, nhưng họ nên kiểm tra với bác sĩ.

Kiểm tra này không tạo ra các nguy cơ đáng kể.  Bệnh nhân chỉ tiếp xúc với số lượng nhỏ chất phóng xạ trong thời gian thực hiện kiểm tra, do đó không có khả năng gây ra bất kỳ tác hại nào về sức khỏe.

Sau khi thực hiện kiểm tra, bệnh nhân có thể ăn uống bình thường và tiếp tục các sinh hoạt hàng ngày.  Bệnh nhân nên uống nhiều nước để xả hết chất bari đồng thời để phòng tránh tình trạng táo bón (constipation), và đây có thể là một tác dụng phụ của kiểm tra này.  Phân của bạn có thể có màu nhạt trong vài ngày sau đó.  Thông thường, bệnh nhân sẽ nhận được được kết quả trong vòng 1 hoặc 2 ngày.

Nội Soi Trên

Nội soi trên (upper endoscopy), còn được gọi là esophagogastroduodenoscopy hoặc panendoscopy, tỏ ra chính xác hơn phương pháp chụp x-quang nuốt bari.  Phương pháp nội soi trên cũng tốn kém và xâm lấn nhiều hơn.  Phương pháp này được sử dụng rộng rãi cho các bệnh nhân bị bệnh trào ngược thực quản (GERD), bao gồm việc xác định và đánh giá bệnh viêm thực quản nghiêm trọng, theo dõi định kỳ các bệnh nhân bị rối loạn thực quản Barrett hoặc kiểm tra các bệnh nhân có nguy cơ cao, hoặc khi nghi ngờ có các biến chứng khác.  Hiện nay, phương pháp này cũng được sử dụng phối hợp với các tiến trình phẫu thuật khác.

Bệnh nhân nên ngưng sử dụng thuốc aspirin hoặc các loại thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) vài ngày trước đó để giảm bớt tình trạng xuất huyết nếu bác sĩ cần phải thực hiện tiến trình sinh tiết (biopsy).  Bệnh nhân nên trao đổi với bác sĩ xem có cần ngưng sử dụng bất kỳ loại thuốc nào trong ngày thực hiện kiểm tra này không.  Bệnh nhân bị tiểu đường (đái tháo đường) nên trao đổi với bác sĩ trước khi thực hiện kiểm tra này để tránh tình trạng bị hạ đường trong máu (hypoglycemia).  Những người đeo răng giả hoặc các bộ phận hỗ trợ răng phải tháo gỡ các bộ phận này ra trước khi thực hiện kiểm tra.  Bệnh nhân nên nhờ người đưa về nhà sau khi thực hiện kiểm tra này, vì loại thuốc sử dụng trong tiến trình này sẽ làm cho bệnh nhân buồn ngủ.

Các biến chứng thường hiếm khi xảy ra.  Khoảng 1 trong 1000 người xuất hiện các biến chứng nghiêm trọng, chẳng hạn như vô tình nuốt nước bọt vào trong phổi (aspiration) mà có thể gây ra viêm phổi (pneumonia).  Nếu bác sĩ tiến hành sinh tiết, hoặc nếu ống nội soi làm tổn thương thành thực quản, thì bệnh nhân có thể xuất hiện tình trạng xuất huyết.  Nếu tình trạng nội xuất huyết diễn tiến nghiêm trọng, bệnh nhân cần phải được truyền máu.  Trong các trường hợp hiếm, có thể xảy ra tình trạng thủng lỗ niêm mạc thực quản, như vậy bệnh nhân cần phải được giải phẫu.  Thuốc an thần được sử dụng trong tiến trình này thỉnh thoảng có thể gây dị ứng.

Nội Soi để Chẩn Đoán Bệnh Trào Ngược Thực Quản.  Phương pháp nội soi có thể được thực hiện ở bệnh viện hoặc ở phòng khám bác sĩ:

-      Đầu tiên, bệnh nhân không được ăn gì trong vòng ít nhất 6 giờ trước khi thực hiện tiến trình này.
-      Bác sĩ sẽ gây tê khu vực, sử dụng thuốc xịt vào miệng và tiêm thuốc an thần để ức chế tình trạng nôn khan ở cổ họng (gag reflex) và làm cho bệnh nhân được thư giãn.
-      Tiếp theo, bác sĩ sẽ cho một ống nội soi (một ống nhựa mỏng có gắn một máy chụp hình nhỏ) vào miệng bệnh nhân rồi đưa xuống thực quản.  Tiến trình này không làm ảnh hưởng đến hơi thở của bệnh nhân.  Một số bệnh nhân có thể cảm thấy một chút không thoải mái; nhưng các bệnh nhân khác lại có thể ngủ trong suốt tiến trình.
-      Sau khi ống nội soi được đưa vào vị trí, máy chụp hình gắn trên ống cho phép bác sĩ nhìn thấy bề mặt của thực quản và giúp tìm kiếm những khu vực bất thường, bao gồm tình trạng bao tử thoát vị vào khe thực quản và các thương tổn ở niêm mạc thực quản.
-      Bác sĩ sẽ thực hiện tiến trình sinh tiết (biopsy: lấy mẫu và kiểm tra bằng kính hiển vi các tổ chức mô).  Tiến trình sinh tiết có thể giúp phát hiện mô bị thương tổn, là dấu hiệu của bệnh trào ngược thực quản (GERD).  Tiến trình này cũng được sử dụng để phát hiện ung thư hoặc các chứng bệnh khác, chẳng hạn như nhiễm nấm Candida albicans hoặc nhiễm virut (ví dụ, herpes simplexcytomegalovirus).  Các bệnh nhiễm trùng này có nhiều khả năng xảy ra ở những người có hệ miễn dịch bị suy yếu.
-      Người ta vẫn chưa thấy những biến chứng xuất hiện ở các bệnh nhân thực hiện tiến trình này.  Nếu có xảy ra, các biến chứng hầu như luôn luôn nhẹ và điển hình, bao gồm xuất huyết nhẹ ở khu vực sinh tiết hoặc bị ngứa ở vị trí tiêm thuốc.

Nếu bệnh nhân có các triệu chứng của bệnh trào ngược thực quản từ vừa phải đến nghiêm trọng và tiến trình này phát hiện thương tổn ở thực quản, thì thường không cần đến kiểm tra nào khác để chứng thực kết quả chẩn đoán.  Tuy nhiên, kiểm tra này không phải lúc nào cũng đảm bảo tính hiệu quả.  Hình ảnh nội soi sẽ bỏ sót khoảng 50% các khu vực bất thường ở thực quản.

Nội Soi Quả Nang.  Phương pháp nội soi quả nang (capsule endoscopy) được chấp thuận đưa vào sử dụng vào năm 2001.  Một phiên bản mới của máy chụp hình quả nang này, có tên là PillCam, đã được cơ quan FDA chấp thuận vào năm 2004.  PillCam giảm bớt được thời gian tạo hình của phương pháp nội soi quả nang đầu tiên.  Quả nang PillCam có gắn một máy quay phim siêu nhỏ ở hai đầu.  Sau khi bệnh nhân nuốt quả nang này vào, thì có khoảng 2600 hình chụp màu được truyền đến máy thu, từ đây các hình ảnh có thể được tải xuống và được bác sĩ giải thích.  Một phiên bản PillCam mới hơn chụp được 14 khung hình mỗi giây so với quả nang thế hệ đầu tiên chụp 4 khung hình mỗi giây.  PillCam phiên bản mới tỏ ra vượt trội với khả năng cho thấy được toàn bộ thực quản và trong việc xác định bệnh trào ngược thực quản (GERD).  Toàn bộ tiến trình chỉ mất khoảng 20 phút.  Quả nang này thường thoát ra khỏi đường tiêu hóa trong vòng 24 giờ.  Phương pháp nội soi quả nang có thể tạo ra những chọn lựa thay thế đầy hấp dẫn và ít xâm lấn hơn so với phương pháp truyền thống.  Tuy nhiên, trong lúc phương pháp nội soi quả nang là một dụng cụ kiểm tra có lợi cho việc chẩn đoán các chứng bệnh ở thực quản chẳng hạn như bệnh trào ngược thực quản (GERD) và rối loạn thực quản Barrett, thì phương pháp nội soi truyền thống vẫn tỏ ra cần thiết trong việc thu thập các mẫu mô hoặc dùng để cắt bỏ các bướu thịt.


Battery: Pin
Antena: Anten
Lens: Thấu kính
Lights: Ánh sáng

















Kiểm Tra Giám Sát Độ pH

Kiểm tra giám sát độ pH (pH monitor examination) có thể được sử dụng để xác định tình trạng trào ngược axit (acid back-up).  Kiểm tra này rất có lợi khi tiến trình nội soi không phát hiện được thương tổn ở niêm mạc thực quản, nhưng lại có các triệu chứng của bệnh trào ngược thực quản.  Giám sát độ pH có thể được sử dụng khi bệnh nhân không cảm thấy thuyên giảm sau khi sử dụng thuốc hoặc thực hiện phẫu thuật.  Tiến trình chẩn đoán sử dụng ống thông qua mũi truyền thống bao gồm việc đưa một ống nhỏ qua mũi xuống đến thực quản.  Bác sĩ sẽ để ống ở vị trí này trong vòng 24 giờ.  Kiểm tra này sẽ làm cho cổ họng bị ngứa, đa số bệnh nhân sẽ cảm thấy không thoải mái và bất tiện.

Một phương pháp mới, có tên là kiểm tra Bravo pH (Bravo pH test), sử dụng một máy truyền dữ liệu nhỏ có kích cỡ bằng quả nang được gắn tạm thời vào thành thực quản trong tiến trình nội soi.  Dụng cụ quả nang này ghi lại độ pH và truyền các dữ liệu này đến một thiết bị nhận có kích cỡ bằng máy nhắn tin, máy này được bệnh nhân đeo trong người.  Bệnh nhân có thể tiếp tục chế độ ăn và các hoạt động thường lệ trong thời gian quan sát từ 24 – 48 giờ.  Sau một vài ngày, dụng cụ quả nang này sẽ rời khỏi thực quản, đi qua đường tiêu hóa, và được bài tiết ra khỏi cơ thể.

Phương Pháp Đo Áp Suất

Phương pháp đo áp suất (manometry) được dùng để đo áp suất cơ.  Phương pháp này sử dụng một ống có nhiều lỗ hở, và ống này được đưa vào thực quản.  Khi các nhu động ở thực quản tạo áp lực lên các vị trí khác nhau của ống, thì một máy vi tính siêu nhỏ được gắn trong ống sẽ đo áp suất này.  Phương pháp này có lợi cho các trường hợp sau đây:

-      Để xác định xem tiến trình phẫu thuật đo áp suất của cơ thắt thực quản dưới (LES) có lợi cho các bệnh nhân bị trào ngược thực quản (GERD) không.
-      Để phát hiện sự bất thường trong khả năng co bóp của bao tử, mà tình trạng này không thể được hiệu chỉnh bằng các tiến trình phẫu thuật tiêu chuẩn.
-      Để xác định xem sự co bóp cơ đã bị suy yếu hoặc các bất thường khác về chuyển động cơ có gây đau ngực ở những người bị bệnh trào ngược thực quản với các triệu chứng này không.

Các Xét Nghiệm Khác

Xét Nghiệm Máu và Phân.  Các xét nghiệm phân của bệnh nhân có thể cho thấy các dấu hiệu xuất huyết mà mắt thường không nhìn thấy được.  Các xét nghiệm máu để kiểm tra chứng thiếu máu nên được thực hiện nếu bệnh nhân bị nghi ngờ xuất huyết.

Xét Nghiệm Bernstein.  Đối với các bệnh nhân bị đau ngực và có kết quả chẩn đoán không rõ ràng, thì tiến trình có tên là xét nghiệm Bernstein (Bernstein test) có thể rất có lợi, mặc dù tiến trình này hiếm khi được sử dụng.  Khi thực hiện tiến trình này, bác sĩ sẽ đưa một ống qua đường mũi của bệnh nhân.  Sau đó, dung dịch axit clohyđric (hydrochloric acid) và nước muối (saline) được truyền xuống (tách riêng) thực quản.  Nếu việc truyền axit gây ra các triệu chứng trong khi dung dịch nước muối lại không gây ra triệu chứng, thì bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh trào ngược thực quản (GERD).

Loại Trừ Các Rối Loạn Khác

Bởi vì có nhiều chứng bệnh có các triệu chứng tương tự nhau, do đó việc phân tích và xem xét cẩn thận bệnh sử của bệnh nhân sẽ là chìa khóa của kết quả chẩn đoán chính xác.  Sau đây là một vài chứng bệnh mà chúng có thể đi kèm hoặc tương tự như bệnh trào ngược thực quản.

Chứng Khó Tiêu.  Chứng rối loại dễ bị lầm lẫn với bệnh trào ngược thực quản phổ biến nhất là chứng khó tiêu (dyspepsia), đặc trưng bởi tình trạng đau hoặc khó chịu ở vùng bụng phía trên mà không bị ợ nóng.  Các triệu chứng đặc thù có thể bao gồm cảm giác no (đặc biệt là trước khi ăn), trương bụng (bloating), và buồn nôn.  Chứng khó tiêu có thể là một triệu chứng của bệnh trào ngược thực quản (GERD), nhưng không thường xảy ra cùng lúc với bệnh trào ngược thực quản.  Thuốc metoclopramide (Reglan) sẽ giúp bao tử tiêu hóa và có thể có lợi cho chứng khó tiêu này.

Đau Thắt Ngực và Đau Ngực.  Có khoảng 600 000 bệnh nhân đến khoa cấp cứu mỗi năm với chứng đau ngực (angina).  Có trên 100 000 bệnh nhân trong số này được xem là thực sự bị bệnh trào ngược thực quản (GERD).  Đau ngực do cả hai trường hợp, bệnh trào ngược thực quản và đau thắt ngực nghiêm trọng, có thể xảy sau khi bệnh nhân tiêu thụ một số lượng lớn thức ăn (giàu chất béo/đạm).  Thông thường, một chứng bệnh về tim có thể không phải là nguyên nhân chính gây ra cơn đau này nếu tình trạng đau trở xấu vào ban đêm và không xảy ra sau khi tập thể dục.  Nên lưu ý rằng bệnh trào ngược thực quản và chứng đau thắt ngực thường xuất hiện cùng lúc.  Thật vậy, có lý thuyết cho rằng ở các bệnh nhân bị bệnh mạch vành (coronary artery disease), tình trạng trào ngược axit có thể kích thích gây ra chứng đau thắt ngực.  Trong các trường hợp như vậy, các chuyên gia tin rằng axit ở thực quản có thể kích hoạt các dây thần kinh tác động làm giảm tạm thời lưu lượng máu đến tim.

Bệnh Suyễn.  Vì bệnh suyễn và bệnh trào ngược thực quản (GERD) thường xảy ra cùng lúc, do đó các bác sĩ phải đảm bảo rằng hai chứng bệnh này phải được chẩn đoán một cách chính xác.

Các Chứng Bệnh Khác.  Nhiều chứng bệnh về đường ruột (ví dụ như bệnh viêm ruột, loét, ung thư ruột) có thể gây ra bệnh trào ngược thực quản (GERD), nhưng các chứng bệnh này có thể được chẩn đoán một cách dễ dàng, vì chúng có các triệu chứng khác và ảnh hưởng đến các khu vực khác nhau ở đường ruột.


Nguồn bổ sung: