About

Wednesday, February 25, 2015

CHỨNG Ợ NÓNG - CHỨNG Ợ CHUA (HEARTBURN) - Do LQT Biên Dịch


RỐI LOẠN THỰC QUẢN BARRETT

Rối loạn thực quản Barrett (Barrett’s esophagus) là một chứng bệnh nghiêm trọng, trong đó các thay đổi xảy ra ở các tế bào lót phần thực quản dưới, và làm cho các tế bào này trở nên không bình thường và có nguy cơ bị tiền ung thư.  Rối loạn thực quản Barrett được phân thành hai loại - bệnh đoạn dài hoặc đoạn ngắn :

-      Rối loạn thực quản Barrett đoạn dài (long-segment BE) xảy ra khi các tế bào không bình thường ảnh hưởng đến một đoạn thực quản dài 3 cm hoặc dài hơn.  Có khoảng 3 – 7% các bệnh nhân bị trào ngược thực quản mắc phải rối loạn này.
-      Rối loạn thực quản Barrett đoạn ngắn (short-segment BE) ảnh hưởng đến một đoạn thực quản ngắn hơn 3 cm và chỉ có khoảng 10 – 17% số bệnh nhân bị trào ngược thực quản mắc phải rối loạn này.

Các Yếu Tố Nguy Cơ Mắc Phải Rối Loạn Thực Quản Barrett

Khoảng 10% số người bị bệnh trào ngược thực quản có triệu chứng mắc phải rối loạn thực quản Barrett.  Trong một số trường hợp, rối loạn này phát triển thành một giai đoạn nghiêm trọng của bệnh viêm thực quản ăn mòn (erosive esophagitis).  Một số nghiên cứu cho thấy rằng các cá nhân có nhiều nguy cơ nhất bị rối loạn thực quản Barrett là những nam giới da trắng, béo phì, trên 50 tuổi, bị bệnh trào ngược thực quản mãn tính và uống rượu bia.  Tuy nhiên, có một số nghiên cứu báo cáo rằng không có mối liên hệ giữa việc tiêu thụ rượu bia, là nam giới, và quá cân với rối loạn thực quản Barrett.  Các nghiên cứu này cũng báo cáo rằng những người hút thuốc lá, hoặc người thân của các bệnh nhân bị rối loạn thực quản Barrett không có nhiều nguy cơ bị rối loạn này.  Chỉ có các triệu chứng mãn tính mới cho thấy có nhiều nguy cơ bị rối loạn này.  Tuy nhiên, không phải tất cả các bệnh nhân bị rối loạn thực quản Barrett đều bị viêm thực quản hoặc gặp phải các triệu chứng của bệnh trào ngược thực quản.

Trên thực tế, người ta vẫn chưa nắm rõ con số các trường hợp bị rối loạn thực quản Barrett, vì các nghiên cứu cho thấy rằng trên 50% số người bị rối loạn này hoàn toàn không gặp phải các triệu chứng của bệnh trào ngược thực quản.  Do đó, rối loạn thực quản Barrett có nhiều khả năng xảy ra phổ biến hơn và có thể ít gây hại hơn người ta tưởng.  (Rối loạn thực quản Barrett nếu xảy ra không có các triệu chứng, thì chỉ có thể được xác định trong các thử nghiệm lâm sàn hoặc trong các tiến trình mổ tử thi, do đó rất khó xác định được mức độ nghiêm trọng thực sự).  Có chứng cứ cho thấy rằng sự hiện diện của các yếu tố miễn dịch chuyên biệt có thể liên quan đến việc xác định sự tiến triển của rối loạn thực quản Barrett.

Rối Loạn Thực Quản Barrett và Bệnh Ung Thư

Mỗi năm, tỉ lệ các trường hợp bị ung thư thực quản vẫn trên đà gia tăng đều đặn là 2% ở những nam giới sắc dân da trắng.  Hiệp Hội Ung Thư Hoa Kỳ (American Cancer Society) ước tính rằng sẽ có khoảng 15 560 trường hợp mới bị ung thư thực quản và 13 940 ca tử vong do bệnh này gây ra vào năm 2007.  Bệnh ung thư thực quản cũng rất khó chữa khỏi.  Tỉ lệ sống sót trong vòng 5 năm của bệnh ung thư thực quản là 17% ở bệnh nhân sắc dân da trắng, và 12% ở các bệnh nhân gốc Châu Phi.  Đa số các trường hợp bị ung thư thực quản bắt đầu từ rối loạn thực quản Barrett, với chưa đến 50% các trường hợp phát triển bệnh có các triệu chứng.  Lưu ý, chỉ có một số nhỏ các bệnh nhân bị rối loạn thực quản Barrett sẽ phát triển thành bệnh ung thư.  Có chứng cứ cho thấy rằng tình trạng trào ngược axit (acid reflux) có thể góp phần dẫn đến bệnh ung thư ở các bệnh nhân bị rối loạn thực quản Barrett.  Các nhà khoa học đã nghiên cứu thấy rằng những người bị rối loạn thực quản Barrett nếu tiêu thụ các thực phẩm có nhiều axit sẽ sản sinh ra men NOX5-S với số lượng lớn, tình trạng này có thể gây áp lực lên các tế bào, do đó gây hủy hoại DNA.

Có chứng cứ cho thấy rằng rối loạn thực quản Barrett không triệu chứng rất phổ biến ở cộng đồng dân cư chung, và nếu đó là sự thật, thì rối loạn thực quản Barrett sẽ ít gây ra nguy hiểm hơn người ta tưởng như hiện nay.  (Bệnh trào ngược thực quản không gây ra nguy cơ đáng kể phát triển thành ung thư thực quản.  Một nghiên cứu báo cáo rằng hàng năm có khoảng 6,5 trường hợp bị ung thư trong số 10 000 người xuất hiện thường xuyên các triệu chứng của bệnh trào ngược thực quản)

Giám Sát Rối Loạn Thực Quản Barrett và Bệnh Ung Thư

Bác sĩ sẽ sử dụng phương pháp nội soi để chẩn đoán rối loạn thực quản Barrett, trong tiến trình này, bác sĩ sẽ đưa một ống nhỏ xuống cổ họng của bệnh nhân để có thể nhìn thấy rõ được thực quản.

Quan Sát Các Bệnh Nhân Có Nguy Cơ Cao Bị Bệnh Trào Ngược Thực Quản.  Một số chuyên gia đề xuất sử dụng phương pháp nội soi để xét nghiệm kiểm tra (một lần) rối loạn thực quản Barrett ở các bệnh nhân có nguy cơ cao (chẳng hạn như những nam giới da trắng quá cân) đồng thời cũng mắc bệnh trào ngược thực quản mãn tính.

Quan Sát Các Bệnh Nhân Bị Rối Loạn Thực Quản Barrett Để Phát Hiện Bệnh Ung Thư.  Các bệnh nhân bị rối loạn thực quản Barrett sẽ được đề xuất kiểm tra nội soi định kỳ để phát hiện bệnh ung thư sớm.  Theo một nghiên cứu quan trọng vào năm 2002, tỉ lệ sống sót trong vòng 5 năm là 73% ở các bệnh nhân bị rối loạn thực quản Barrett nếu bệnh ung thư của họ được phát hiện bằng kiểm tra nội soi, và tỉ lệ này là 0% ở các bệnh nhân không tiếp nhận kiểm tra định kỳ.

Các Phương Pháp Điều Trị Rối Loạn Thực Quản Barrett

Cho đến nay, chưa có phương pháp điều trị nào có thể giúp đảo ngược tình trạng hủy hoại tế bào xảy ra sau khi phát triển thành rối loạn thực quản Barrett, mặc dù một số tiến trình xem ra đang có triển vọng.

Sử Dụng Thuốc.  Có chứng cứ cho thấy rằng việc phối hợp sử dụng các loại thuốc ức chế bơm proton (proton-pump inhibitor) để giảm axit và các loại thuốc ức chế men COX-2 (anti-inflammatory COX-2 inhibitor) có thể là một phương pháp tiếp cận đầy triển vọng.

Thuốc Ức Chế Bơm Proton.  Một số chuyên gia đề xuất các phương pháp điều trị sử dụng liều cao các loại thuốc ức chế bơm proton để giảm bớt tình trạng trào ngược axit.  Loại thuốc tiêu chuẩn được chỉ định là omeprazole (Prilosec).  Các loại thuốc ức chế bơm proton uống bằng miệng thế hệ mới bao gồm lansoprazole (Prevacid), esomeprazole (Nexium), và rabeprazole (Aciphex).  Ngay cả sau khi việc sử dụng thuốc đã giúp hạ giảm hoàn toàn các triệu chứng, nhưng rối loạn này thường sẽ tái phát trong vòng vài tháng sau khi bệnh nhân ngưng sử dụng thuốc.  Trong các trường hợp mãn tính, bệnh nhân có thể phải sử dụng thuốc suốt đời.  Các loại thuốc này không có tác dụng bảo vệ chống lại rối loạn thực quản Barrett.  Tuy nhiên, có chứng cứ cho thấy rằng tình trạng trào ngược axit có thể góp phần tạo ra bệnh ung thư ở các bệnh nhân bị rối loạn thực quản Barrett, mặc dù các chuyên gia vẫn chưa rõ các loại thuốc chặn axit có tác dụng bảo vệ chống lại bệnh ung thư ở các bệnh nhân này không.

Các loại thuốc ức chế men COX-2 (cyclooxygenase-2) giúp giảm viêm và giảm đau, tương tự các loại thuốc kháng viêm không steroid phổ biến như aspirin và ibuprofen, nhưng các loại thuốc ức chế men COX-2 có thể ít tạo ra cho bệnh nhân nguy cơ bị loét bao tử (peptic ulcers) và xuất huyết.  Chứng cứ ban đầu cho thấy rằng các loại thuốc này có thể có tác dụng bảo vệ chống lại các biến đổi liên quan đến ung thư ở các bệnh nhân bị rối loạn thực quản Barrett.  Tuy nhiên, thuốc Vioxx và Bextra đã bị thu hồi do tạo ra nguy cơ nhồi máu cơ tim (heart attack).  Thuốc Celebrex vẫn còn được lưu hành, nhưng bệnh nhân phải cẩn thận khi sử dụng, đặc biệt là các bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ bị bệnh tim mạch.  Ngoài ra, nghiên cứu về tác dụng của thuốc kháng viêm không steroid đối với bệnh ung thư thực quản vẫn chưa thống nhất.  Một số nghiên cứu đã phát hiện rằng các loại thuốc này có thể giúp hạ giảm nguy cơ phát triển bệnh ung thư thực quản hoặc giảm bớt khả năng tử vong do bệnh ung thư thực quản gây ra.  Tuy nhiên, một nghiên cứu vào năm 2007 đưa ra kết quả rằng, sử dụng thuốc Celebrex với liều lượng thấp không giúp ngăn ngừa bệnh ung thư tiến triển ở các bệnh nhân bị rối loạn thực quản Barrett.


Stomach: Bao tử

Peptic ulcers may lead to bleeding, perforation, or other emergencies: Loét bao tử có thể dẫn đến xuất huyết, thủng bao tử (hoặc tá tràng), hoặc các trường hợp cấp cứu khác.

Loét bao tử có thể dẫn đến các trường hợp cấp cứu.  Đau nghiêm trọng ở vùng bụng có dấu hiệu hoặc không có dấu hiệu bị xuất huyết có thể cho thấy bệnh nhân bị thủng bao tử hoặc tá tràng.  Bệnh nhân bị nôn mửa ra chất giống bột cà phê, hoặc phân có màu đen giống nhựa đường, có thể là dấu hiệu bị xuất huyết nghiêm trọng.


Các Tiến Trình Cắt Bỏ Màng Nhầy.  Nhiều kỹ thuật hoặc thiết bị đã được phát minh để giúp cắt bỏ màng nhầy của thực quản.  Mục đích là để loại bỏ sớm các mô ung thư hoặc tiền ung thư, và cho phép tái tạo các mô khỏe mạnh mới đầy triển vọng ở thực quản.  Các phương pháp này bao gồm trị liệu quang động lực (photodynamic therapy – PDT) hoặc sử dụng tia laze, điện, hoặc nhiệt.

Các nghiên cứu về việc sử dụng các tiến trình cắt bỏ này phối hợp với việc sử dụng liều lượng cao các loại thuốc ức chế bơm proton hoặc các tiến trình giải phẫu xem ra rất có triển vọng.  Một vài phương pháp trong số này rốt cuộc có thể là những trị liệu tiềm năng.  Vào thời điểm này, các tiến trình này có thể rất hiệu quả trong việc cắt bỏ các mô gây hại, cho dù các tác dụng có lợi chỉ mang tính tạm thời ở tất cả các bệnh nhân.  Theo một nghiên cứu, tỉ lệ trung bình khoảng 5,6 năm sau khi thực hiện phẫu thuật điều trị bệnh trào ngược thực quản và điều trị bằng tia laze, thì chỉ có khoảng 1 phần 3 số bệnh nhân là không cho thấy có dấu hiệu các tế bào ung thư tái xuất hiện.  Các tiến trình này cũng tạo ra các biến chứng, chẳng hạn như khó nuốt, do đó bệnh nhân nên thảo luận với bác sĩ về vấn đề này.

Thủ Thuật Cắt Bỏ Toàn Phần (Một Phần) Thực Quản.  Thủ thuật cắt bỏ thực quản (esophagectomy) là tiến trình phẫu thuật cắt bỏ toàn phần hoặc một phần của thực quản.  Các bệnh nhân bị rối loạn thực quản Barrett và có sức khỏe tốt sẽ là ứng viên thích hợp cho thủ thuật này nếu kết quả nội soi phát hiện bệnh ung thư đang phát triển.  Sau khi cắt bỏ thực quản, toàn phần hoặc một phần, bệnh nhân sẽ được cho ăn và uống theo một lộ trình mới để thay thế cho thực quản đã bị cắt bỏ.  Các lộ trình thay thế bao gồm bao tử, kết tràng (colon), và một phần của ruột non có tên là hỗng tràng (jejunum).  Bao tử là lựa chọn lý tưởng nhất.