About

Wednesday, February 25, 2015

CHỨNG Ợ NÓNG - CHỨNG Ợ CHUA (HEARTBURN) - Do LQT Biên Dịch


Chứng ợ nóng (heartburn: chứng ợ chua) là một cảm giác nóng rát ngay bên dưới hoặc sau xương ngực.  Tình trạng này thường bắt nguồn từ thực quản (esophagus).  Cơn đau rát này thường xuất phát trong ngực và có thể lan đến cổ và họng.

KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

Bệnh trào ngược thực quản (gastroesophageal reflux disease - GERD) là một chứng bệnh trong đó axit từ bao tử đi ngược trở vào thực quản (được gọi là reflux).  Hiện tượng trào ngược (reflux) này xảy ra khi các hoạt động cơ trong thực quản hoặc các cơ chế bảo vệ khác bị sai sót.

Các triệu chứng dễ nhận biết của bệnh trào ngược thực quản (GERD) là:

-      Chứng ợ nóng (heartburn): là một cảm giác nóng rát ở ngực và cổ họng.
-      Chứng ợ axit thực quản (regurgitation): là một cảm giác ợ axit trong thực quản.

Mặc dù axit là một yếu tố chính gây tổn thương do bệnh trào ngược thực quản, nhưng các sản phẩm tiêu hóa khác, bao gồm men pepsin và mật, cũng có thể gây hại.


Gastric reflux: Tình trạng trào ngược các chất trong bao tử vào thực quản
Standing or sitting after a meal can prevent heartburn: Đứng hoặc ngồi sau bữa ăn có thể giúp ngăn ngừa chứng ợ nóng (ợ chua)

Chứng ợ nóng (ợ chua) là một tình trạng trong đó các chất có tính axit trong bao tử trào ngược vào thực quản, gây đau rát ở khu vực ngực.  Hiện tượng trào ngược này thường xảy ra do cơ thắt (co vòng) giữa thực quản và bao tử bị nới lỏng (suy yếu).  Đứng hoặc ngồi sau bữa ăn có thể giúp giảm bớt tình trạng trào ngược gây ra ợ nóng (ợ chua).  Liên tục gây nóng rát cho niêm mạc thực quản, giống như bệnh trào ngược thực quản, sẽ là một yếu tố nguy cơ hình thành khối u ác tính tuyến (adenocarcinoma).

Thực quản là một ống cơ hẹp, dài khoảng 9,5 inch (khoảng 24 cm).  Ống này bắt đầu dưới lưỡi và dừng lại ở bao tử.  Thực quản có hai đầu là nơi hẹp nhất; ống này cũng bị hẹp lại ở đoạn giữa.  Thực quản được cấu tạo bởi 3 lớp cơ bản: 

-      Lớp ngoài cùng là mô xơ (mô sợi).
-      Lớp giữa chứa cơ trơn.
-      Màng trong cùng chứa vô số các tuyến siêu nhỏ.


Pharynx: Họng, hầu
Tongue: Lưỡi
Sphincter: Cơ thắt (cơ vòng)
Trachea: Khí quản
Esophagus: Thực quản

Thực quản là một ống cơ, nối miệng và bao tử của bạn.  Các vòng cơ (sphincter: cơ thắt, cơ vòng) ở đoạn trên và dưới co bóp để giúp vận chuyển thức ăn và chất lỏng.










Khi chúng ta nuốt thức ăn, thực quản sẽ đưa thức ăn vào bao tử bằng cách co bóp (peristalsis: nhu động).  Tinh bột, chất béo, và protein trong thức ăn sẽ được axit và các men tiêu hóa khác trong bao tử phân hủy, đặc biệt là axit clohydric (hydrochloric acid) và men pepsin.  Niêm mạc bao tử có một lớp màng nhầy bảo vệ chống lại các dịch vị này.

Tuy nhiên, nếu axit và các men tiêu hóa chảy ngược lên thực quản, thì niêm mạc thực quản không đủ sức để bảo vệ.  Thực quản được các tổ chức cơ và các yếu tố chuyên biệt khác bảo vệ.

Cấu trúc bảo vệ thực quản quan trọng nhất có thể là cơ thắt (cơ vòng) thực quản dưới (lower esophageal sphincter – LES).  Cơ thắt này là một vòng cơ bao quanh đầu dưới của thực quản nơi tiếp xúc với bao tử.

-      Cơ thắt thực quản dưới (LES) mở ra sau khi bạn nuốt để thức ăn đi vào bao tử và ngay sau đó đóng lại để tránh các chất trong bao tử trào ngược lên thực quản.
-      Cơ thắt thực quản dưới (LES) duy trì trình trạng đóng này cho đến khi thức ăn lại được đưa vào bao tử.


Esophagus: Thực quản
Cardia: Đoạn nối với thực quản
Fundus: Đáy trên bao tử
Body: Thân bao tử
Rugae: Các nếp nhăn
Greater curvature: Cung lớn bao tử
Antrum: Đoạn trước nối với tá tràng
Pylorus: Cửa nối với tá tràng
Agularis: Góc trong bao tử
Lesser curvature: Cung nhỏ bao tử
Lower esophageal sphincter: Cơ thắt thực quản dưới

Bao tử có thể được chia thành 7 phần.  Đoạn nối với thực quản (cardia) cách chỗ nối thực quản và bao tử khoảng 1 – 2 cm.  Đáy trên bao tử (fundus) là phần trên của bao tử nằm trên mặt phẳng ngang đi qua đoạn nối bao tử và thực quản.  Đoạn trước nối với tá tràng (antrum) chiếm khoảng 1 phần 4 đến 1 phần 3 diện tích của bao tử.  Rãnh nối (dài 1 – 2 cm) bao tử và tá tràng là pylorus.  Cung nhỏ bao tử ám chỉ đến cạnh ngắn hơn ở phần giữa bao tử, cạnh đối diện là cung lớn bao tử (greater curvature).  Góc trong bao tử (angularis) nằm trên cung nhỏ bao tử (lesser curvature), là chỗ giao tiếp giữa thân bao tử và đoạn trước nối với tá tràng (antrum).  

Bao tử nối thực quản với ruột non, và là nơi xảy ra phần lớn quá trình tiêu hóa thức ăn.

Nếu cơ thắt thực quản dưới bị suy yếu không đủ sức để ngăn ngừa các chất trong bao tử và axit trào ngược lên thực quản, thì sự co bóp của thực quản (peristalsis) có tác dụng như một cơ chế phòng thủ bổ sung và giúp đẩy thức ăn trở xuống bao tử.

Các Chứng Bệnh Liên Quan Đến Bệnh Trào Ngược Thực Quản (GERD)

Viêm Thực Quản.  Ở đa số người, các triệu chứng của bệnh trào ngược thực quản chỉ xảy ra tạm thời và không thường xuyên.  Tuy nhiên, trong khoảng 20% các trường hợp, chứng bệnh này trở thành mãn tính.  Khi axit gây đau nhức hoặc viêm, thì tình trạng này được gọi là viêm thực quản (esophagitis).  Nếu sự hủy hoại này trở nên lan rộng và tạo ra vết thương trong thực quản, thì các chuyên gia gọi rối loạn này là viêm thực quản ăn mòn (erosive esophagitis).

Bệnh Trào Ngược Thực Quản Không Ăn Mòn.  Các triệu chứng của bệnh trào ngược thực quản (GERD) có thể xảy ra mà không có dấu hiệu thực quản bị viêm hoặc bị thương.  Tình trạng này còn được gọi là bệnh trào ngược thực quản không ăn mòn (non-erosive esophageal reflux disease - NERD).  Bệnh này hiếm khi phát triển hoàn chỉnh thành bệnh trào ngược thực quản (GERD).  Các bệnh nhân bị bệnh trào ngược thực quản không ăn mòn (NERD) không có dấu hiệu thực quản bị viêm hoặc bị ăn mòn, nhưng họ sẽ gặp phải một số triệu chứng của bệnh trào ngược thực quản (GERD), chẳng hạn như cảm giác nóng rát sau xương ngực trong vòng ít nhất 3 tháng.  Các nhà nghiên cứu cho rằng các dây thần kinh nằm ở bề mặt của niêm mạc thực quản tiếp xúc với axit do axit đã thấm qua các lớp niêm mạc này.  Sau đó, các dây thần kinh đáp ứng lại bằng cách kích thích gây ra các triệu chứng gây đau nhức và kéo dài.

Rối Loạn Thực Quản Barrett.  Một tỉ lệ nhỏ các bệnh nhân bị bệnh trào ngược thực quản (GERD) sau đó có thể phát triển thành chứng rối loạn thực quản Barrett (Barrett’s esophagus), là một biến chứng nghiêm trọng của bệnh trào ngược thực quản (GERD) mà nó sẽ dẫn đến những biến đổi tiền ung thư ở lớp mô lót thực quản.

Viêm Thực Quản Ưa Eosin.  Đây là một rối loạn mà có đặc điểm là khó nuốt và nuốt bị đau.  Rối loạn viêm thực quản ưa eosin (eosinophilic esophagitis) có thể xảy ra cùng lúc với bệnh trào ngược thực quản (GERD).  Niêm mạc của thực quản sẽ hình thành các nếp nhăn và các cấu trúc vòng.  Rối loạn này có thể được điều trị bằng cách nuốt fluticasone propionate, là một thành phần hoạt tính trong một số thuốc trị bệnh suyễn.


Nguồn bổ sung: