About

Wednesday, February 25, 2015

SỎI MẬT - SẠN MẬT (GALLSTONES) - Do LQT Biên Dịch


CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

Có trên 25 triệu người Hoa Kỳ bị sỏi mật, và một triệu người được chẩn đoán bị chứng bệnh này mỗi năm.  Tuy nhiên, chỉ có 1 – 3% dân số than phiền gặp phải các triệu chứng trong thời gian một năm, và chưa đến một nửa số người này có các triệu chứng tái phát.

Các Yếu Tố Nguy Cơ ở Phụ Nữ

Phụ nữ có nhiều khả năng bị sỏi mật hơn so với nam giới.  Phụ nữ Hoa Kỳ vào độ tuổi 60 có tỉ lệ bị sỏi mật là 25%, và 75% vào độ tuổi 75.  Đa số trong các trường hợp, các bệnh nhân không gặp phải các triệu chứng.  Thông thường, phụ nữ có thể có nguy cơ cao là do kích thích tố estrogen kích thích gan loại thêm nhiều cholesterol ra khỏi máu và vận chuyển nó vào mật.

Mang Thai.  Việc mang thai sẽ làm tăng nguy cơ bị sỏi mật, và các phụ nữ mang thai có sỏi mật sẽ có nhiều khả năng gặp phải các triệu chứng hơn so với các phụ nữ không mang thai.  Nếu có thể, tiến trình phẫu thuật sẽ được hoãn lại cho đến khi người phụ nữ sinh con.  Thật vậy, sỏi mật có thể biến mất sau khi người phụ nữ sinh con.  Nếu đòi hỏi phải phẫu thuật, phương pháp soi ổ bụng (laparoscopy) là biện pháp an toàn nhất.

Trị Liệu Thay Thế Kích Thích Tố.  Một số các nghiên cứu với quy mô lớn đã chứng minh rằng việc sử dụng trị liệu thay thế kích thích tố (hormone replacement therapy – HRT) sẽ làm tăng gấp đôi hoặc gấp ba nguy cơ bị sỏi mật, tỉ lệ nhập viện do bệnh túi mật, hoặc giải phẫu túi mật.  Estrogen gây ra sự gia tăng hàm lượng chất béo trung tính triglyceride, là một axit béo có tác dụng làm tăng nguy cơ bị sỏi mật do cholesterol.  Tuy nhiên, cách thức các kích thích tố được phân phối có thể rất quan trọng.  Những phụ nữ sử dụng miếng dán hoặc gel trong trị liệu này sẽ ít gặp nguy cơ hơn so với các phụ nữ sử dụng thuốc viên.  Trị liệu này cũng là một chọn lựa ít hấp dẫn hơn cho các phụ nữ, vì các nghiên cứu đã cho thấy rằng phương pháp này tạo ra các tác dụng gây hại cho tim và làm tăng nguy cơ bị ung thư vú. 

Các Yếu Tố Nguy Cơ ở Nam Giới

Có khoảng 20% nam giới bị sỏi mật khi họ đến tuổi 75.  Tuy nhiên, vì đa số các trường hợp không xuất hiện các triệu chứng, do đó tỉ lệ này ở nam giới có thể bị đánh giá thấp.  Một nghiên cứu về các cư dân ở nhà dưỡng lão báo cáo rằng 66% phụ nữ và 51% nam giới mắc bệnh sỏi mật.  Những nam giới được lấy sỏi mật ra sẽ có nhiều khả năng bị bệnh nghiêm trọng và bị các biến chứng do phẫu thuật hơn so với phụ nữ.

Các Nguy Cơ ở Trẻ Em

Bệnh sỏi mật tương đối hiếm thấy ở trẻ em.  Nếu sỏi mật thực sự xảy ra ở nhóm tuổi này, thì có nhiều khả năng đó là dạng sỏi mật sắc tố (pigment stones).  Bé gái xem ra có nhiều nguy cơ mắc bệnh hơn so với bé trai.  Các trường hợp sau có thể tạo ra nguy cơ cho các trẻ:

-      Chấn thương cột sống
-      Đã từng thực hiện phẫu thuật bụng
-      Thiếu máu tế bào hình liềm (sickle-cell anemia)
-      Hệ miễn dịch bị suy yếu
-      Tiếp nhận chất dinh dưỡng qua tĩnh mạch (intravenous)

Nhóm Sắc Tộc

Bởi vì bệnh sỏi mật có liên quan đến chế độ ăn uống, đặc biệt là việc tiêu thụ chất béo, do đó tỉ lệ bị sỏi mật thay đổi tùy theo quốc gia và khu vực.  Ví dụ, những người nói tiếng Tây Ban Nha (Hispanics) và những người Bắc Âu có nhiều nguy cơ bị sỏi mật hơn so với những người gốc Châu Á và Châu Phi.  Những người gốc Châu Á nếu phát triển bệnh sỏi mật sẽ có nhiều khả năng bị dạng sỏi mật sắc tố nâu (brown pigment).

Những người bản xứ ở khu vực Bắc và Nam Mỹ, chẳng hạn như người da đỏ Pima ở Hoa Kỳ và cộng đồng người bản xứ ở Chi Lê và Pêru, có nguy cơ đặc biệt phát triển bệnh sỏi mật.  Các phụ nữ người da đỏ Pima có 80% khả năng phát triển bệnh sỏi mật trong đời, và hầu như tất cả những phụ nữ da đỏ ở Chi Lê và Pêru đều phát triển bệnh sỏi mật.  Các trường hợp như thế có nhiều khả năng do cả hai yếu tố di truyền và chế độ ăn uống gây ra.

Di Truyền

Nếu có thành viên trong gia đình hoặc họ hàng gần bị sỏi mật thì có thể có nhiều nguy cơ mắc bệnh này.  Lên đến 1 phần 3 các trường hợp bị sỏi mật gây đau nhức có thể liên quan đến các yếu tố di truyền.

Gen ABCG8 nếu bị đột biến có thể làm tăng đáng kể nguy cơ bị sỏi mật.  Gen này kiểm soát bộ phận bơm cholesterol, và bộ phận bơm này có chức năng vận chuyển cholesterol từ gan đến ống mật.  Xem ra sự đột biến gen này có thể làm cho bộ phận bơm làm việc liên tục với tốc độ cao.

Những sai sót trong các protein vận chuyển bao gồm cơ chế tiết ra lipit mật có khả năng tạo nguy cơ cho một số người mắc bệnh sỏi mật, nhưng tình trạng này nói riêng có thể không đủ để gây ra bệnh sỏi mật.  Các nghiên cứu cho thấy rằng chứng bệnh này diễn biến phức tạp và có thể do sự tương tác giữa các yếu tố di truyền và môi trường gây ra.  Một số nghiên cứu cho rằng, các yếu tố di truyền và gây viêm có thể đóng một vai trò quan trọng.

Bệnh Tiểu Đường (Bệnh Đái Tháo Đường)

Những người bị bệnh tiểu đường sẽ có nhiều nguy cơ bị bệnh sỏi mật và có nguy cơ trên mức trung bình bị bệnh túi mật không có sỏi (acalculous gallbladder disease).  Bệnh túi mật có thể tiến triển rất nhanh ở các bệnh nhân bị bệnh tiểu đường, những người này có khuynh hướng bị các tình trạng nhiễm trùng nghiêm trọng hơn.

Béo Phì và Thay Đổi Cân Nặng

Béo phì.  Quá cân là một yếu tố nguy cơ quan trọng gây bệnh sỏi mật.  Trong các trường hợp này, gan sản sinh cholesterol quá mức, sau đó cholesterol được đưa vào mật và làm cho mật bị siêu bão hòa (supersaturation: dịch mật trở nên đậm đặc hơn mức bình thường).

Chu Kỳ Thay Đổi Cân Nặng.  Giảm cân nhanh hoặc thay đổi cân nặng (kiêng ăn sau đó lại tăng cân) làm tăng thêm sự sản sinh cholesterol trong gan, dẫn đến tình trạng siêu bão hòa và làm tăng nguy cơ bị sỏi mật.

-      Nguy cơ bị bệnh sỏi mật có tỉ lệ là 12% sau 8-16 tuần kiêng ăn (hạn chế calorie).
-      Nguy cơ bị bệnh sỏi mật có tỉ lệ trên 30% trong vòng 12-18 tháng sau khi giải phẫu bắc cầu bao tử (gastric bypass surgery: là phương pháp điều trị cho bệnh béo phì, bao gồm cắt bỏ phần trên của bao tử, nối túi nhỏ ở phần trên của bao tử với ruột chay (jejunum), và đóng lại phần ngoại biên của bao tử)

Khoảng 1 phần 3 các trường hợp bị sỏi mật trong các tình huống này đều xuất hiện các triệu chứng.  Những người kiêng ăn sau đây sẽ có nguy cơ bị sỏi mật cao nhất:

-      Những người giảm trên 24% cân nặng của cơ thể
-      Những người giảm trên 1,5kg (3,3 lb) một tuần
-      Những người đang thực hiện chế độ ăn uống có hàm lượng chất béo quá thấp và số lượng calorie thấp.

Nam giới cũng có nguy cơ cao phát triển bệnh sỏi mật khi cân nặng của họ thay đổi.  Nguy cơ này gia tăng tỉ lệ thuận với những thay đổi bất thường về cân nặng cũng như với chu kỳ thay đổi cân nặng thường xuyên (weight cycling).

Phẫu Thuật Điều Trị Bệnh Béo Phì.  Bệnh nhân nếu đã thực hiện thủ thuật bắc cầu bao tử Roux-en-Y hoặc phẫu thuật soi ổ bụng thắt vòng bao tử cho bệnh béo phì (laparoscopic banding bariatric surgery) thì sẽ có nhiều nguy cơ bị sỏi mật.  Vì lý do này, nhiều trung tâm y tế đã yêu cầu bệnh nhân thực hiện thủ thuật cắt túi mật trước khi làm phẫu thuật điều trị bệnh béo phì (bariatric surgery).  Tuy nhiên, hiện nay các bác sĩ đang nghi ngờ tính hiệu quả của phương pháp này.

Hội Chứng Chuyển Hóa

Hội chứng chuyển hóa là một nhóm các chứng bệnh, bao gồm bệnh béo phì (đặc biệt là có mỡ ở bụng), giảm hàm lượng cholesterol tốt HDL, tăng hàm lượng chất béo trung tính triglyceride, cao huyết áp, và tăng hàm lượng đường trong máu.  Nghiên cứu cho thấy rằng hội chứng chuyển hóa là một yếu tố nguy cơ gây ra bệnh sỏi mật.

Giảm Hàm Lượng Cholesterol Tốt, Tăng Hàm Lượng Triglyceride và Cách Điều Trị

Mặc dù sỏi mật được hình thành từ tình trạng siêu bão hòa cholesterol trong mật, nhưng hàm lượng cholesterol tổng cộng không nhất thiết là có liên quan đến bệnh sỏi mật.  Sự hình thành sỏi mật có liên quan đến sự hạ giảm hàm lượng cholesterol “tốt” HDL và sự gia tăng hàm lượng chất béo trung tính triglyceride.  Một số chứng cứ cho thấy rằng hàm lượng chất béo trung tính này gia tăng có thể sẽ làm suy giảm khả năng vận chuyển các chất bên trong ra khỏi túi mật.

Điều đáng tiếc là, một số thuốc fibrate (được sử dụng để chữa trị các chứng bệnh này) thực sự làm tăng nguy cơ mắc bệnh sỏi mật bằng cách gia tăng hàm lượng cholesterol được tiết vào trong mật.  Các loại thuốc này bao gồm gemfibrozil (Lopid) và fenofibrate (Tricor).  Các loại thuốc hạ cholesterol khác không có hiệu ứng này.

Các Yếu Tố Nguy Cơ Khác

Được Cho Ăn Qua Tĩnh Mạch Quá Lâu.  Được cho ăn qua đường tĩnh mạch quá lâu sẽ làm giảm lưu lượng mật và làm tăng nguy cơ bị sỏi mật.  Lên đến 40% các bệnh nhân được cho ăn qua đường tĩnh mạch ở nhà sẽ phát triển bệnh sỏi mật, và nguy cơ này có thể cao hơn ở các bệnh nhân được truyền chất dinh dưỡng hoàn toàn qua tĩnh mạch.  Các chuyên gia nghi ngờ rằng nguyên nhân là do thiếu sự kích thích ở ruột, vì các bệnh nhân nếu cũng tiêu thụ thực phẩm qua đường miệng thì sẽ có ít nguy cơ phát triển bệnh sỏi mật hơn.  Tuy nhiên, việc điều trị cho nhóm bệnh nhân này có thể có ít nguy cơ xuất hiện các biến chứng.

Bệnh Crohn.  Bệnh Crohn (Crohn’s disease), một rối loạn viêm đường ruột, sẽ dẫn đến khả năng hấp thụ kém các chất muối mật từ đường tiêu hóa và làm tăng đáng kể nguy cơ mắc bệnh sỏi mật.  Các bệnh nhân trên 60 tuổi và những người đã từng có nhiều lần phẫu thuật đường ruột (đặc biệt ở những vùng giao điểm của ruột non và ruột già) sẽ đặc biệt có nhiều nguy cơ.

Bệnh Xơ Gan.  Bệnh xơ gan (cirrhosis) tạo ra nguy cơ đáng kể mắc bệnh sỏi mật, đặc biệt là các loại sỏi mật sắc tố.

Cấy Ghép Bộ Phận.  Cấy tủy hoặc bộ phận khác sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh sỏi mật.  Các biến chứng có thể nghiêm trọng đến nỗi một số trung tâm cấy ghép bộ phận sẽ yêu cầu bệnh nhân cắt bỏ túi mật trước khi thực hiện tiến trình cấy ghép.

Sử Dụng Thuốc.  Octreotide (Sandostatin) tạo ra nguy cơ mắc bệnh sỏi mật.  Ngoài ra, các loại thuốc hạ cholesterol thuộc loại fibrate và thiazide diuretics có thể làm tăng nhẹ nguy cơ mắc bệnh sỏi mật.

Các Rối Loạn về Máu.  Chứng thiếu máu hủy hồng cầu mãn tính (chronic hemolytic anemia), bao gồm chứng thiếu máu tế bào hình liềm, sẽ làm tăng nguy cơ bị sỏi mật sắc tố.

Chất Sắt Chứa Nhóm Heme.  Tiêu thụ nhiều chất sắt chứa nhóm heme, một dạng chất sắt được tìm thấy trong thịt và hải sản, được chứng minh là nguyên nhân dẫn đến sự hình thành sỏi mật ở nam giới.  Sỏi mật không liên quan đến các chế độ ăn uống với các loại thực phẩm giàu chất sắt không chứa nhóm heme (non-heme iron) như đậu, đậu lăng (lentil), và các loại hạt.