About

Wednesday, February 25, 2015

SỎI MẬT - SẠN MẬT (GALLSTONES) - Do LQT Biên Dịch


THỦ THUẬT MỞ HOẶC SOI Ổ BỤNG LẤY SỎI ỐNG MẬT CHỦ

Thủ thuật soi ổ bụng và chụp phản quang ống mật  (Laparoscopic Exploration and Cholangiography)

Hiện nay các bác sĩ giải phẫu ngày càng sử dụng thủ thuật soi ổ bụng với phương pháp chụp phản quang ống mật thay vì sử dụng phương pháp chụp phản quang ống mật tụy nội soi nghịch hành (ERCP) khi nghi ngờ có sỏi trong ống mật chủ.  Thủ thuật soi ổ bụng phối hợp với chụp phản quang ống mật chỉ nên được thực hiện ở các trung tâm y tế chuyên thực hiện tiến trình này.  Phương pháp này chỉ nên được thực hiện cho các trường hợp sau:

-      Trị liệu thay thế cho phương pháp ERCP trước khi phẫu thuật túi mật, nếu nghi ngờ có sỏi trong ống mật chủ.
-      Trong khi làm phẫu thuật túi mật nếu phát hiện có sỏi trong ống mật chủ.

Tiến trình này thường được thực hiện theo các bước sau đây:

-      Bước đầu tiên cũng giống như thủ thuật cắt túi mật soi ổ bụng (laparoscopic cholecystectomy).  Bác sĩ sẽ tạo 1 hoặc 2 vết mổ từ 10 – 12 mm (khoảng nửa inch) và 3 vết mổ 5 mm (khoảng 1 phần 5 inch) ở vùng bụng.
-      Bác sĩ sẽ tạo một lỗ nhỏ ở ống mật nhánh (cystic duct), ống này nối túi mật với ống mật chủ, rồi đưa vào một ống mỏng để thực hiện chụp phản quang ống mật (cholangiography).
-      Nếu phát hiện thấy sỏi, bác sĩ sẽ đưa một ống có gắn bong bóng được thổi phồng để mở rộng ống mật
-      Bác sĩ thường sử dụng bong bóng hoặc rổ siêu nhỏ để lấy sỏi ra khỏi ống mật.
-      Nếu thủ thuật soi ổ bụng không thành công, bác sĩ sẽ thực hiện phương pháp ERCP hoặc phẫu thuật mở.

Các chuyên gia vẫn còn đang tranh cãi xem tiến trình này có khả thi hơn phương pháp ERCP không.  Nhiều bác sĩ giải phẫu tin rằng thủ thuật soi ổ bụng ngày càng trở nên an toàn và hiệu quả hơn, và nên được chọn làm phương pháp điều trị đầu tiên.  Tuy nhiên, thủ thuật soi ổ bụng để lấy sỏi ống mật chủ chỉ phải được các bác sĩ giải phẫu có kinh nghiệm thực hiện.

Phẫu Thuật Mở Ống Mật Chủ

Phẫu thuật mở ống mật chủ (choledocholithotomy hoặc common bile duct exploration), được sử dụng:

-      Để lấy các viên sỏi có kích thước lớn ra
-      Khi cấu trúc ống mật quá phức tạp
-      Trong thời gian hoặc sau khi phẫu thuật túi mật nếu phát hiện có sỏi.  Nếu tiến trình này được thực hiện theo phương pháp soi ổ bụng, bác sĩ có thể chuyển sang thực hiện tiến trình phẫu thuật mở, mặc dù hiện nay việc này thường ít xảy ra.
-      Khi không thể thực hiện tiến trình ERCP hoặc các tiến trình soi ổ bụng.

Trong tiến trình này, bác sĩ sẽ thực hiện phẫu thuật mở bụng và lấy sỏi mật ra qua một vết mổ ở ống mật chủ.  Thông thường, bác sĩ sẽ tạm thời để lại một “ống hình chữ T” trong ống mật chủ sau khi phẫu thuật và bác sĩ sẽ chụp x-quang ống mật thông qua ống chữ T này từ 7 – 10 ngày sau phẫu thuật, để kiểm tra xem còn sỏi sót lại trong ống mật không.