About

Wednesday, February 25, 2015

SỎI MẬT - SẠN MẬT (GALLSTONES) - Do LQT Biên Dịch


Sỏi mật (gallstones: sạn mật) là những viên giống như sỏi được hình thành trong túi mật.  Những viên sỏi mật có thể có kích thước nhỏ như hạt cát hoặc có thể to bằng quả bóng đánh gôn (golf ball).

KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

Sỏi mật (sạn mật) là những viên tích lũy nhỏ mà có thể hình thành trong túi mật, túi mật là một bộ phận có dạng hình túi và ở phần tư trên bên phải của bụng ngay dưới gan.  Đa số những người bị sỏi mật (sạn mật) thường không biết rằng họ đang bị chứng bệnh này.  Tuy nhiên, trong một số trường hợp, một viên sỏi có thể làm cho túi mật bị viêm, dẫn đến tình trạng đau nhức, nhiễm trùng, hoặc xuất hiện các biến chứng nghiêm trọng khác.

Mật và Túi Mật

Sự hình thành sỏi mật là một quá trình phức tạp mà nó bắt đầu từ mật (bile), là một chất lỏng được cấu tạo phần lớn bằng nước, muối mật, lecithin (một dạng chất béo được gọi là photpholipit), và cholesterol.  Đa số các viên sỏi mật được hình thành từ cholesterol.


Gallbladder: Túi mật
Sphincter of Oddi: Cơ thắt Oddi
Major duodenal papilla: Núm tá tràng chính
Liver: Gan
Common hepatic duct: Ống gan chủ
Cystic duct: Ống mật
Common bile duct: Ống mật chủ
Pancreas: Tuyến tụy
Pancreatic duct: Ống tụy
Duodenum portion of the small intestine: Đoạn tá tràng của ruột non




-      Mật rất cần thiết cho quá trình tiêu hóa chất béo.  Đầu tiên, mật được gan sản sinh, sau đó được đưa vào các kênh rất nhỏ, rồi cuối cùng được truyền đến một ống lớn hơn gọi là ống mật chủ (common bile duct), ống mật này dẫn đến ruột non.
-      Tuy nhiên, chỉ có một số lượng rất ít mật chảy trực tiếp vào ruột non.  Đa số mật chảy vào túi mật qua ống mật (cystic duct), ống này là một nhánh của ống mật chủ.  Hệ thống các ống dẫn mật này được gọi là cây mật (biliary tree).
-      Túi mật có dạng hình túi, có chiều dài khoảng 4 inch (10 cm), với thành túi được cấu tạo bởi các tổ chức cơ, cư trú ngay bên dưới gan.  Ở đây, đa số dịch mật (khoảng 32 – 80 muỗng canh một ngày) bị loại bỏ, chỉ còn lại vài muỗng canh chất mật đậm đặc.
-      Túi mật có chức năng giống như một bể chứa cho đến khi mật được đưa vào ruột non hỗ trợ cho quá trình tiêu hóa chất béo.  Nhu cầu này được báo hiệu bởi một loại kích thích tố được gọi là cholecystokinin, chất này sẽ được tiết ra khi thực phẩm đi vào ruột non.
-      Cholecystokinin giúp cho túi mật co bóp để đưa mật vào ruột non.  Lực do sự co bóp này có tác dụng đẩy mật xuống ống mật chủ và đi vào ruột non, ở đó mật phân nhỏ các phân tử chất béo.
-      Giai đoạn tiêu hóa này giúp cho chất béo được phân nhỏ, cùng với các chất dinh dưỡng quan trọng hòa tan trong chất béo (chẳng hạn như các loại vitamin A, D, E, và K), đi qua niêm mạc ruột và đi vào máu.


Liver: Gan
Common hepatic duct: Ống gan chủ
Cystic duct: Ống mật
Gallbladder: Túi mật
Common bile duct: Ống mật chủ
Major duodenal papilla: Núm tá tràng chính
Pancreas: Tuyến tụy
Duodenum portion of the small intestine: Đoạn tá tràng của ruột non
Pancreatic duct: Ống tụy
Stomach: Bao tử
Esophagus: Thực quản

Gan sản sinh ra mật có chức năng hỗ trợ cho quá trình tiêu hóa các chất béo.  Mật di chuyển qua các kênh rất nhỏ, cuối cùng chảy qua ống mật chủ và đi vào ruột non.  Túi mật lưu trữ số lượng mật dư thừa chưa cần đến trong quá trình tiêu hóa.

Quá Trình Hình Thành Sỏi Mật (Cholelithiasis)

Quá trình hình thành sỏi mật được gọi là cholelithiasis.  Đây là một quá trình diễn biến chậm, và thường không gây đau nhức hoặc các triệu chứng khác.  Đa số sỏi mật được hình thành từ cholesterol hoặc dưới dạng hỗn hợp.  Sỏi mật có thể có đường kính từ vài milimét đến vài centimét.

Đa số sỏi mật được hình thành từ cholesterol.  Các viên sỏi mật có màu thường cũng rất phổ biến; chúng được hình thành từ một hợp chất màu nâu được gọi là bilirubinat canxi (calcium bilirubinate).  Các bệnh nhân có thể có những viên sỏi mật được pha trộn bởi hai loại sỏi mật này.

Sỏi Mật Do Cholesterol.  Mặc dù cholesterol chỉ chiếm 5% trong thành phần của mật, nhưng khoảng 3 phần 4 số sỏi mật của các bệnh nhân ở Hoa Kỳ được hình thành từ cholesterol.  Sỏi mật do cholesterol thường hình thành theo cách thức sau đây:

-      Cholesterol là chất tương đối không hòa tan, do đó để được trôi nổi trong chất lỏng, nó phải được vận chuyển bên trong các khối muối mật (bile salt) được gọi là micelles.  Nếu tỉ lệ giữa muối mật và cholesterol thay đổi (tình trạng mất cân bằng), thì dịch mật sẽ trở nên đặc quánh lại.  Dung dịch đặc quánh này được cấu tạo bởi một dạng gel nhầy chứa cholesterol và bilirubinat canxi (calcium bilirubinate).
-      Nếu tình trạng mất cân bằng này càng trở nên nghiêm trọng, thì các tinh thể cholesterol sẽ hình thành (một tình trạng gọi là siêu bão hòa: supersaturation), mà có thể sau đó hình thành sỏi mật.


Gallstones in gallbladder: Những viên sỏi trong túi mật
Gallbladder: Túi mật

Thông thường, nhờ vào tỉ lệ cân bằng giữa muối mật, lecithin và cholesterol mà sỏi mật sẽ không hình thành.  Nếu có sự gia tăng hàm lượng muối mật một cách bất thường, nhất là sự gia tăng hàm lượng cholesterol, thì sỏi mật có thể sẽ hình thành.  Các triệu chứng thường xảy ra khi các viên sỏi làm nghẽn một trong các ống mật.  Sỏi mật cũng có thể được phát hiện bằng phương pháp siêu âm hoặc chụp CT bụng.

Tình trạng siêu bão hòa (supersaturation) và quá trình hình thành sỏi mật trong túi mật hoặc các ống mật (cholelithiasis) có thể xảy ra do một số rối loạn, mặc dù các nhà chuyên môn vẫn hoàn toàn chưa biết rõ nguyên nhân.  Có nhiều vấn đề có thể là nguyên nhân gây ra quá trình hình thành sỏi mật:

-      Gan tiết ra quá nhiều cholesterol vào dịch mật.
-      Túi mật có thể mất khả năng hoạt động bình thường, do đó mật bị ứ đọng.
-      Các tế bào lót bên trong túi mật có thể mất khả năng hấp thụ một cách hiệu quả cholesterol và chất béo từ mật.
-      Hàm lượng bilirubin tăng cao.  Bilirubin là một chất thường được hình thành từ quá trình phân nhỏ hemoglobin trong máu.  Chất này được bài tiết theo mật ra khỏi cơ thể.  Một số nhà chuyên môn tin rằng bilirubin có thể đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hình thành sỏi mật cholesterol.

Sỏi Mật Sắc Tố.  Sỏi mật sắc tố (pigment stones) được cấu tạo bởi bilirubinat canxi, hoặc bilirubin bị vôi hóa.  Sỏi mật sắc tố có thể có màu đen hoặc màu nâu.

-      Sỏi mật đen là dạng phổ biến hơn, và được hình thành trong túi mật.  Loại sỏi mật này chiếm 20% trong tổng số các trường hợp bị sỏi mật ở Hoa Kỳ.  Loại sỏi mật này có nhiều khả năng phát triển ở những người bị chứng thiếu máu hủy hồng cầu (hemolytic anemia: một dạng thiếu máu hiếm, trong đó các hồng cầu bị tiêu diệt) hoặc bị xơ gan (cirrhosis hoặc scarred liver).
-      Sỏi mật nâu thường xảy ra ở các cộng đồng dân số Châu Á.  Dạng sỏi mật này chứa cholesterol và canxi nhiều hơn sỏi mật đen, và có nhiều khả năng hình thành trong các ống mật.  Tình trạng nhiễm trùng đóng một vai trò trong quá trình phát triển dạng sỏi màu nâu này.

Sỏi Mật Hỗn Hợp.  Sỏi mật hỗn hợp (mixed stones) là một dạng pha trộn giữa cholesterol và các sắc tố.

Sỏi Ống Mật Chủ

Sỏi mật cũng có thể xuất hiện trong ống mật chủ, thay vì trong túi mật.  Tình trạng này gọi là sỏi ống mật chủ (choledocholithiasis).


Cystic duct: Ống mật
Common bile duct: Ống mật chủ
Pancreatic duct: Ống tụy
Gallstone blocking common bile duct: Sỏi mật làm nghẽn ống mật chủ
Duodenum: Tá tràng
Gallstone blocking common bile duct and pancreatic duct: Sỏi mật làm nghẽn ống mật chủ và ống tụy.

Khoảng 15% số người bị sỏi mật sẽ phát triển các viên sỏi trong ống mật chủ.  Ống mật chủ là một ống nhỏ, có chức năng đưa mật từ túi mật đến tá tràng.  Tình trạng tắc nghẽn ống mật chủ cũng có thể gây ra tình tắc nghẽn ống tụy, vì các ống này thường kết nối với nhau.  Nếu ống tụy cũng bị tắc nghẽn, thì tuyến tụy sẽ có khả năng bị viêm.

Sỏi Ống Mật Chủ Phụ (Secondary Common Bile Duct Stones).  Trong đa số trường hợp, sỏi trong ống mật chủ đầu tiên được hình thành trong túi mật, sau đó đi vào ống mật chủ.  Dạng sỏi mật này gọi là sỏi mật phụ.  Sỏi ống mật chủ phụ xuất hiện trong khoảng 10% số bệnh nhân bị sỏi mật.

Sỏi Ống Mật Chủ Chính (Primary Common Bile Duct Stones).  Thỉnh thoảng, sỏi cũng hình thành trong ống mật chủ (gọi là sỏi mật chính).  Sỏi ống mật chủ chính thường có dạng sỏi sắc tố nâu, và có nhiều khả năng gây nhiễm trùng hơn so với sỏi ống mật chủ phụ.

Các Chứng Bệnh Về Túi Mật Không Có Sỏi (Acalculous Gallbladder Diseases)

Bệnh túi mật có thể xảy ra mà không có sự hiện diện của sỏi mật, tình trạng này gọi là bệnh túi mật không có sỏi.  Với tình trạng này, bệnh nhân có các triệu chứng của bệnh sỏi mật, nhưng không có dấu hiệu cho thấy có sự hiện diện của sỏi trong túi mật hoặc ống mật.  Tình trạng này có thể trở nên nghiêm trọng đột ngột (cấp tính) hoặc kéo dài (mãn tính).

-      Bệnh túi mật không có sỏi cấp tính thường xảy ra ở các bệnh nhân bị bệnh rất nặng do các rối loạn khác gây ra.  Trong các trường hợp này, túi mật sẽ bị viêm.  Tình trạng viêm này thường là do nguồn cung cấp máu bị giảm hoặc do túi mật mất khả năng co thắt bình thường để đưa mật ra khỏi túi mật.
-      Bệnh túi mật không có sỏi mãn tính (còn được gọi là suy yếu chức năng co cơ túi mật chủ động: biliary dyskinesia ) có khả năng là do cơ mất chức năng hoạt động hoặc các rối loạn khác trong túi mật, làm ảnh hưởng đến những sự co bắp tự nhiên có tác dụng đưa mật ra khỏi túi mật