About

Wednesday, February 25, 2015

SỎI MẬT - SẠN MẬT (GALLSTONES) - Do LQT Biên Dịch


DỰ ĐOÁN BỆNH VÀ CÁC BIẾN CHỨNG

Sỏi mật nếu không gây ra biến chứng sẽ hiếm khi dẫn đến các vấn đề sức khỏe.  Tình trạng tử vong, ngay cả với các dạng sỏi mật có triệu chứng, cũng rất hiếm khi xảy ra.  Các biến chứng nghiêm trọng cũng hiếm khi xuất hiện.  Nếu thực sự xảy ra, các biến chứng thường phát triển từ sỏi trong ống mật, hoặc sau khi làm phẫu thuật.

Tuy nhiên, sỏi mật có thể làm tắc nghẽn bất cứ đoạn nào ở các ống dẫn mật.  Trong các trường hợp này, các triệu chứng có thể xuất hiện.

-      Trong đa số các trường hợp bị tắc nghẽn, sỏi sẽ làm nghẽn ống mật (cystic duct), ống mật này xuất phát từ túi mật kéo dài đến ống mật chủ.  Tình trạng tắc nghẽn này có thể gây đau nhức (biliary colic), nhiễm trùng và viêm (acute cholecystitis), hoặc cả hai.
-      Khoảng 10% số bệnh nhân bị sỏi mật có triệu chứng cũng bị sỏi đi vào và làm nghẽn ống mật chủ (choledocholithiasis).

Nhiễm Trùng

Biến chứng nghiêm trọng nhất của bệnh viêm túi mật cấp tính là nhiễm trùng, phát triển trong số 20% các trường hợp.  Đây là một tình trạng hết sức nghiêm trọng và có thể gây tử vong nếu nó lây truyền đến các bộ phận khác trong cơ thể (tình trạng này được gọi là nhiễm trùng máu: septicemia), và đòi hỏi phải làm phẫu thuật.  Các triệu chứng bao gồm sốt, nhịp tim đập nhanh, thở gấp, và rối loạn tinh thần.  Các chứng bệnh có thể dẫn đến tình trạng nhiễm trùng máu bao gồm:

-      Chứng Hoại Thư hoặc Tụ Mủ Cục Bộ.  Nếu bệnh viêm túi mật cấp tính (acute cholecystitis) không được chữa trị và trở nên nghiêm trọng, thì tình trạng viêm có thể gây tụ mủ cục bộ (abscesses).  Tình trạng viêm cũng có thể gây hủy hoại mô ở túi mật (necrosis), và dẫn đến chứng hoại thư (gangrene).    Nguy cơ cao nhất xảy ra ở các nam giới trên 50 tuổi đã từng bị bệnh tim và có mức độ nhiễm trùng cao.
-      Túi Mật Bị Thủng Lỗ.  Ước tính có khoảng 10% các trường hợp viêm túi mật cấp tính bị thủng túi mật, đây là một tình trạng có thể gây tử vong.  Thông thường, tình trạng này xảy ra ở những người không được chữa trị ngay, hoặc ở những người không có phản ứng hiệu quả đối với phương pháp điều trị.  Tình trạng thủng lỗ túi mật (perforated gallbladder) thường phổ biến ở những người mắc bệnh tiểu đường.  Nguy cơ bị thủng lỗ gia tăng khi xuất hiện tình trạng khí (hơi) hình thành trong túi mật (emphysematous cholecystitis).  Sau khi túi mật bị thủng lỗ, sự đau nhức có thể giảm xuống.  Tuy nhiên, đây là một tình trạng nguy hiểm và dễ hiểu lầm, vì chứng viêm màng bụng (peritonitis: viêm phúc mạc) sẽ phát triển sau đó.
-      Mưng mủ.  Mủ tích tụ trong túi mật (empyema) xảy ra trong số 2 – 3% các bệnh bị viêm túi mật cấp tính.  Các bệnh nhân thường gặp phải cơn đau bụng dữ dội trong hơn 1 tuần.  Khi kiểm tra sức khỏe thường không phát hiện được nguyên nhân.  Tình trạng này có thể gây tử vong, đặc biệt nếu như tình trạng nhiễm trùng lan truyền đến các bộ phận khác trong cơ thể.
-      Đường rò.  Trong một số trường hợp, túi mật bị viêm sẽ bám dính vào và làm thủng lỗ các bộ phận ở lân cận, chẳng hạn như ruột non.  Trong các trường hợp như thế, có một đường rãnh (channel) xuất hiện giữa các bộ phận này.  Thỉnh thoảng, trong các trường hợp này, sỏi mật sau đó có thể đi vào ruột non, và có thể trở nên rất nguy hiểm, vì thế đòi hỏi phải phẫu thuật ngay tức khắc.
-      Tắc Ruột Do Sỏi Mật.  Sỏi mật gây tắc nghẽn ruột được gọi là tình trạng tắc ruột do sỏi mật (gallstone ileus).  Chứng bệnh này xảy ra chủ yếu ở các bệnh nhân trên 65 tuổi, và thỉnh thoảng có thể gây tử vong.  Tùy thuộc vào vị trí cư trú của sỏi mật, bệnh nhân có thể cần phải làm phẫu thuật để lấy sỏi ra.
-      Nhiễm Trùng Ống Mật Chủ.  Nhiễm trùng ở ống mật chủ (cholangitis) do bị tắc nghẽn là một tình trạng phổ biến và nghiêm trọng.  Nếu thuốc kháng sinh (thuốc trụ sinh) được cho sử dụng ngay, thì tình trạng nhiễm trùng sẽ biến mất ở 75% các bệnh nhân.  Nếu tình trạng nhiễm trùng ống mật chủ không có dấu hiệu cải thiện, thì nó có thể đã lan ra và có thể đe dọa đến tính mạng.  Bệnh nhân cần phải được phẫu thuật hoặc thực hiện thủ thuật rạch cơ thắt nội soi (endoscopic sphincterotomy) để mở và thông các ống mật.  Những người có nguy cơ cao bị trở nặng cũng bị một hoặc nhiều trong số các vấn đề sau đây:
• Suy thận
• Áp xe gan (tụ mủ ở gan)
• Xơ gan
• Trên 50 tuổi
-      Viêm tuyến tụy (viêm lá lách).  Sỏi ống mật chủ là nguyên nhân gây ra phần lớn các trường hợp viêm tuyến tụy (pancreatitis), là một chứng bệnh có thể gây tử vong.  Ống tụy, có chức năng dẫn các men tiêu hóa, nối với ống mật chủ ở đoạn trước khi nối với ruột.  Do đó, những viên sỏi đi qua hoặc kẹt lại ở đoạn dưới của ống mật chủ sẽ làm nghẽn ống tụy.

Các Biến Chứng Khác

Ung Thư Túi Mật: Sỏi mật hiện diện trong khoảng 80% những người bị ung thư túi mật (gallbladder cancer).  Có một mối liên hệ chặt chẽ giữa bệnh ung thư túi mật và quá trình hình thành sỏi mật (cholelithiasis), viêm túi mật mãn tính (chronic cholecystitis), và tình trạng viêm.  Các triệu chứng của bệnh ung thư túi mật thường không xuất hiện cho đến khi chứng bệnh này phát triển đến một giai đoạn nghiêm trọng, có thể bao gồm xuống cân, thiếu máu, nôn mửa thường xuyên, và có một khối u ở bụng.

Nghiên cứu cho thấy rằng tỉ lệ sống sót cho các bệnh nhân bị ung thư túi mật đang trên đà gia tăng, mặc dù tỉ lệ tử vong vẫn duy trì ở mức khá cao bởi vì nhiều người được chẩn đoán mắc bệnh khi chứng bệnh ung thư này đã ở giai đoạn cuối.  Khi phát hiện bệnh ung thư ở giai đoạn đầu và chưa bị lây lan ra khỏi nội mạc, nếu cắt bỏ túi mật sẽ có thể chữa khỏi cho nhiều người bị chứng bệnh này.  Nếu bệnh ung thư đã lan ra các bộ phận khác, bệnh nhân có thể phải cần đến các phương pháp điều trị khác.

Chứng bệnh ung thư này rất hiếm khi xuất hiện, ngay cả đối với những người bị sỏi mật.  Tuy nhiên, một số chứng bệnh về túi mật góp phần tạo ra nguy cơ mắc phải chứng ung thư này cao hơn mức bình thường.

Bướu Túi Mật.  Thỉnh thoảng bệnh nhân được phát hiện bị bướu (khối u) trong các kiểm tra chẩn đoán cho bệnh túi mật.  Các bướu nhỏ ở túi mật (lên đến 10 mm) ít khi hoặc không tạo ra nguy cơ, nhưng các bướu to hơn (trên 15 mm) sẽ tạo ra một số nguy cơ bị ung thư, lúc đó túi mật phải được cắt bỏ.  Những bệnh nhân có các bướu có đường kinh từ 10 – 15 mm sẽ có ít nguy cơ hơn, nhưng họ vẫn phải nên trao đổi với bác sĩ về việc cắt bỏ túi mật.

Viêm Xơ Cứng Ống Mật Chính.  Viêm xơ cứng ống mật chính (primary sclerosing cholangitis) là một chứng bệnh hiếm, nó gây ra tình trạng viêm và xơ cứng ống mật.  Chứng bệnh này có liên quan đến nguy cơ suốt đời bị ung thư túi mật với tỉ lệ 7 – 12%.  Các nhà chuyên môn vẫn chưa biết rõ nguyên nhân gây ra tình trạng này, mặc dù chứng bệnh này có xu hướng xuất hiện ở những người đàn ông trẻ có bệnh viêm kết tràng (ulcerative colitis).  Các bệnh nhân bị chứng bệnh này thường được phát hiện có các khối u và có nhiều khả năng là các khối u ung thư.

Sự Tiếp Hợp Bất Thường Của Ống Mật và Ống Tụy.  Đối với chứng bệnh hiếm do bẩm sinh này, chỗ nối ống mật chủ và ống tụy chính cư trú bên ngoài thành ruột non đồng thời hình thành một đường rãnh dài giữa hai ống này.  Tình trạng này tạo ra cho bệnh nhân một nguy cơ rất cao bị ung thư ống mật.

Túi Mật Hóa Sứ.  Túi mật được xem là hóa sứ khi thành túi mật bị vôi hóa và nhìn giống sứ trên hình chụp X-quang.  Tình trạng túi mật hóa sứ (porcelain gallbladder) có liên quan đến một nguy cơ rất cao bị ung thư, mặc dù chứng cứ gần đây cho thấy rằng nguy cơ này không cao như các nhà chuyên môn đã từng nghĩ.  Tình trạng này có thể phát triển từ một phản ứng viêm mãn tính mà có khả năng là nguyên nhân thực sự gây ra nguy cơ bị ung thư.  Nguy cơ bị ung thư có khả năng phụ thuộc vào sự hiện diện của những yếu tố đặc biệt, chẳng hạn như tình trạng vôi hóa bán phần nội mạc của túi mật.


Pancreas: Tuyến tụy (lá lách)
Pancreatic duct: Ống tụy
Duodenum: Tá tràng
Bile duct: Ống mật