About

Friday, February 27, 2015

BỆNH ZONA - BỆNH GIỜI LEO - GIỜI ĂN - GIỜI BÒ (SHINGLES) - Do LQT Biên Dịch


CHỦNG NGỪA

Có hai loại vắcxin varicella:

-      Vắcxin ngừa bệnh thủy đậu (đậu mùa, trái rạ) cho trẻ em, trẻ vị thành niên, và người thành niên
-      Vắcxin ngừa bệnh zona (giời leo, giời ăn, giời bò) cho người thành niên từ 60 tuổi trở lên

Vắc xin Bệnh Thủy Đậu (Đậu Mùa, Trái Rạ)

Vắcxin varicella chứa virut còn hoạt tính (Varivax) tạo ra khả năng miễn dịch vĩnh viễn chống lại bệnh thủy đậu.  Loại vắcxin này có thể ngăn ngừa bệnh thủy đậu, hoặc giúp giảm bớt mức độ nghiêm trọng của chứng bệnh này nếu được sử dụng trong vòng 3 ngày, và có thể lên đến 5 ngày, sau khi tiếp xúc với virut.

Vắcxin ngừa bệnh thủy đậu cho trẻ em cũng có thể được tiêm chủng như một phần của vắcxin phối hợp (Proquad), kết hợp bệnh sởi (measles), bệnh quai bị (mumps), rubella (gọi chung là MMR), và bệnh thủy đậu trong cùng một sản phẩm.  Tuy nhiên, các dữ liệu gần đây cho thấy rằng việc phối hợp vắcxin ngừa bệnh thủy đậu và MMR (bệnh sởi, quai bị, rubella) trong một mũi tiêm sẽ gia tăng gấp đôi nguy cơ bị chứng co giật do sốt (febrile seizures) ở các trẻ em có độ tuổi từ 12 – 24 tháng so với chủng ngừa riêng vắcxin MMR và bệnh thủy đậu.

Các Đề Xuất Chủng Ngừa Bệnh Thủy Đậu Ở Trẻ Em

Ủy Ban Cố Vấn Tiến Hành Chủng Ngừa (Advisory Committee on Immunization Practices - ACIP) của Trung Tâm Phòng Chống và Kiểm Soát Dịch Bệnh Hoa Kỳ (U.S. Centers forDisease Control and Prevention – CDC) đề xuất rằng, trẻ em phải được tiêm chủng HAI liều vắcxin ngừa bệnh thủy đậu (đậu mùa, trái rạ) với:

-      Liều thứ nhất được tiêm chủng khi các trẻ được 12 – 15 tháng tuổi, và
-      Liều thứ hai được tiêm chủng khi các trẻ được 4 – 6 tuổi.

Đối với các trẻ em trước đây đã được tiêm chủng một liều vắcxin ngừa bệnh thủy đậu, Ủy ban này đề xuất rằng các trẻ phải được tiêm liều thứ hai trong lần khám bác sĩ thường lệ.  Liều thứ hai này có thể được tiêm chủng bất cứ lúc nào trong khoảng thời gian ít nhất là 3 tháng sau khi tiêm liều đầu tiên.  Các bác sĩ đã yêu cầu tiêm chủng liều thứ hai này là do có nhiều trường hợp bùng phát bệnh thủy đậu (đậu mùa, trái rạ) gần đây xảy ra ở các học sinh đã từng được chủng ngừa.

Các trẻ em có nhiều nguy cơ bị bệnh thủy đậu sau khi được tiêm chủng một liều là các trẻ ở độ tuổi từ 8 – 12, và thường đã được tiêm chủng ít nhất là 5 năm trước khi bị nhiễm bệnh thủy đậu trong hiện tại.

Các Đề Xuất Chủng Ngừa Bệnh Thủy Đậu Ở Người Thành Niên

Trung Tâm Phòng Chống và Kiểm Soát Dịch Bệnh Hoa Kỳ (CDC) đề xuất rằng tất cả những người thành niên có sức khỏe tốt (không có tiền sử bị bệnh thủy đậu) nên được chủng ngừa.  Những người thành niên nên được tiêm chủng 2 liều vắcxin, cách nhau 4 – 8 tuần.  Những người thành niên trong các nhóm sau đây nên đặc biệt xem xét đến việc chủng ngừa:

-      Những người có nhiều nguy cơ tiếp xúc hoặc truyền bệnh (bệnh viện hoặc những nhân viên chăm sóc trẻ ban ngày, cha mẹ có con trẻ)
-      Những người có thể tiếp xúc gần với những người có hệ miễn dịch bị suy yếu
-      Những phụ nữ không mang thai trong độ tuổi sinh sản
-      Những người đi du lịch nước ngoài

Tương tự các loại vắcxin chứa virut hoạt tính khác, vắcxin ngừa bệnh thủy đậu không được đề xuất sử dụng cho:

-      Phụ nữ mang thai hoặc có thể mang thai trong vòng 30 ngày sau khi chủng ngừa.  (Phụ nữ mang thai và chưa được chủng ngừa nên tiếp nhận liều vắcxin đầu tiên sau khi sinh con).
-      Những người có hệ miễn dịch bị suy yếu do bệnh hoặc do sử dụng thuốc (chẳng hạn như sau khi cấy ghép bộ phận cơ thể).

Các bệnh nhân không thể được chủng ngừa nhưng lại tiếp xúc với bệnh thủy đậu nên tiếp nhận tiêm chủng các kháng thể Ig chống lại virut gây bệnh thủy đậu (đậu mùa, trái rạ).  Điều này sẽ giúp ngăn ngừa các biến chứng của chứng bệnh này nếu họ bị nhiễm.

Các Tác Dụng Phụ của Vắc Xin Ngừa Bệnh Thủy Đậu

-      Có Cảm Giác Khó Chịu ở Vị Trí Tiêm Chủng.  Chưa đến 80% những người được tiêm chủng bị đau, sưng, hoặc nổi đỏ ở khu vực da được tiêm.
-      Các Tác Dụng Phụ Nghiêm Trọng.  Chỉ có 5% các phản ứng phụ là nghiêm trọng.  Các phản ứng này bao gồm co giật, viêm phổi, phản ứng phản vệ (anaphylactic reaction), viêm mô não (encephalitis), hội chứng Stevens-Johnsons, bệnh thoái hóa não (neuropathy), bệnh zona, và các chứng rối loạn về máu.
-      Nguy Cơ Truyền Bệnh.  Vắc xin này có thể gây ra tình trạng phát ban nhẹ trong vòng 1 tháng sau khi chủng ngừa, do đó có thể lây truyền bệnh thủy đậu cho những người khác.  Các cá nhân, gần đây được tiêm chủng, nên tránh tiếp xúc gần với những người dễ bị các biến chứng nghiêm trọng từ bệnh thủy đậu cho đến khi nguy cơ bị phát ban không còn nữa.
-      Nhiễm Trùng Trong Tương Lai.  Sau khi được tiêm chủng nhiều tháng hoặc nhiều năm, một số người sẽ phát triển tình trạng nhiễm bệnh nhẹ được gọi là hội chứng giống bệnh thủy đậu cải biến (modified varicella-like syndrome – MVLS).  Tình trạng này hầu như ít gây lây nhiễm và có ít biến chứng hơn so với bệnh thủy đậu bị nhiễm tự nhiên.

VắcXin Ngừa Bệnh Zona (Giời Leo, Giời Ăn, Giời Bò)

Vào năm 2006, một loại vắcxin ngừa bệnh zona được chấp thuận cho sử dụng ở Hoa Kỳ.  Vắcxin bệnh zona (Zostavax) là một phiên bản có cường độ mạnh hơn vắcxin ngừa bệnh thủy đậu.  Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng vắcxin bệnh zona có thể ngăn ngừa khoảng một nửa các trường hợp mắc bệnh zona và 2 phần 3 các trường hợp bị đau nhức thần kinh hậu herpes (PHN).  Trung tâm CDC đề xuất rằng tất cả những người thành niên từ 60 tuổi trở lên có hệ miễn dịch suy yếu nên được tiêm chủng vắcxin này.  Vắcxin này hầu như không có tác dụng đối với các bệnh nhân từ 80 tuổi trở lên, do đó thường không được đề xuất sử dụng cho nhóm bệnh nhân ở độ tuổi này.

Hợp Chất Varicella-Zoster Immune Globulin

Varicella-zoster immune globulin (VariZIG) là một hợp chất có chức năng tương tự với đáp ứng miễn dịch bình thường chống lại virut varicella-zoster.  Hợp chất này được sử dụng để bảo vệ các bệnh nhân có nguy cơ cao, là các bệnh nhân bị tiếp xúc với bệnh thủy đậu (đậu mùa, trái rạ).  Các nhóm bệnh nhân này bao gồm:

-      Các phụ nữ mang thai không có tiền sử bị bệnh thủy đậu và trước đây chưa được chủng ngừa
-      Các trẻ sơ sinh của những bà mẹ có các dấu hiệu hoặc các triệu chứng của bệnh thủy đậu vào thời điểm sinh đẻ (5 ngày trước đến 2 ngày sau)
-      Các trẻ sinh sớm (sinh thiếu tháng)
-      Các trẻ em và những người thành niên bị suy yếu hệ miễn dịch, không có kháng thể đối với virut varicella-zoster.
-      Những người tiếp nhận cấy tủy xương (cho dù họ đã từng bị bệnh thủy đậu)
-      Các bệnh nhân có bệnh gây suy nhược sức khỏe (cho dù họ đã từng bị bệnh thủy đậu)

Đối với các bệnh nhân này, hợp chất VariZIG nên được sử dụng trong vòng 96 giờ sau khi tiếp xúc với người bị bệnh thủy đậu.  (Lưu ý: VariZIG là một phiên bản mới của một loại thuốc cũ có tên VZIG, loại thuốc VZIG này hiện nay đã ngưng sản xuất).