About

Friday, February 27, 2015

BỆNH ZONA - BỆNH GIỜI LEO - GIỜI ĂN - GIỜI BÒ (SHINGLES) - Do LQT Biên Dịch


CHẨN ĐOÁN

Đối với bệnh thủy đậu (varicella) và bệnh zona (zoster), có thể thường chỉ cần dựa vào các triệu chứng để chẩn đoán.  Nếu sự chẩn đoán vẫn chưa rõ sau khi kiểm tra sức khỏe (physical examination), thì có thể cần phải thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán.

Loại Trừ Các Chứng Rối Loạn Khác

Các biến thể của virut này có thể bị lầm lẫn với các chứng rối loạn khác.

Loại Trừ Các Chứng Rối Loạn Tương Tự Bệnh Thủy Đậu.  Bệnh thủy đậu (đậu mùa, trái rạ), đặc biệt ở các giai đoạn đầu, có thể bị lầm lẫn với bệnh herpes simplex (rối loạn này thường được gọi là “bệnh herpes”, gây nhiễm trùng chủ yếu ở miệng hoặc bộ phận sinh dục), hoặc bệnh chốc lở (impetigo), sâu bọ cắn, và bệnh ghẻ da (scabies: do một loại ve Sarcoptes scabiei gây ra).

Loại Trừ Các Chứng Rối Loạn Tương Tự Bệnh Zona.  Giai đoạn các triệu chứng cảnh báo ban đầu của bệnh zona có thể gây đau nhức nghiêm trọng ở một bên của phần lưng dưới, ngực, hoặc bụng trước khi xuất hiện ban đỏ.  Do đó, người ta có thể lầm lẫn với các chứng rối loạn khác, chẳng hạn như sỏi mật, chứng bệnh này gây đau nghiêm trọng ở các bộ phận nội tạng.

Trong giai đoạn nổi ban đỏ, bệnh zona (giời leo, giời ăn, giời bò) có thể bị lầm lẫn với bệnh herpes simplex, đặc biệt ở những người trẻ, nếu các mụn nước xuất hiện ở phần mông hoặc xung quanh miệng.  Tuy nhiên, bệnh herpes simplex thường không gây ra tình trạng đau nhức mãn tính.

Bệnh herpes zoster (giời leo, giời ăn, giời bò) sẽ có thể khó được chẩn đoán ra nếu chứng bệnh này xuất hiện trên mặt theo hình thức không điển hình, chẳng hạn như với chứng tê liệt Bell (Bell’s palsy) hoặc hội chứng Ramsay Hunt (Ramsay Hunt syndrome), hoặc nếu nó ảnh hưởng đến mắt, hoặc gây sốt và mê sảng (delirium).

Xét Nghiệm Xác Định Virut

Trong đa số các trường hợp bị bệnh thủy đậu và bệnh zona, bản thân các triệu chứng cũng đủ để giúp cho chuyên gia y tế chẩn đoán được bệnh.  Nếu các bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng không rõ ràng, chẳng hạn như ở những người bị ức chế miễn dịch, thì bác sĩ sẽ tiến hành thực hiện một hoặc nhiều xét nghiệm để phát hiện virut gây bệnh.  Các xét nghiệm này thường được thực hiện để xác định sự khác biệt giữa virut varicella-zoster và virut herpes simplex.

Lấy Mẫu Virut.  Xét nghiệm lấy mẫu virut (virus culture) sử dụng các mẫu mụn nước, dung dịch trong mụn nước, hoặc thỉnh thoảng lấy mẫu dung dịch trong tủy sống.  Các mẫu này được gửi đến phòng xét nghiệm, và mất khoảng 1 – 14 ngày để phát hiện virut trong các mẫu thử.  Thỉnh thoảng xét nghiệm này cũng được thực hiện ở các bệnh nhân được chủng ngừa để xác định tình trạng nhiễm bệnh là do một loại virut tự nhiên hoặc do vắcxin gây ra.  Xét nghiệm này rất hữu dụng, nhưng thỉnh thoảng cũng khó thu lại được virut từ các mẫu thử.

Xét Nghiệm Sử Dụng Kháng Thể Cặp Đôi Phân Tử Huỳnh Quang.  Xét nghiệm sử dụng kháng thể cặp đôi phân tử huỳnh quang (immunofluorescence assay) là một phương pháp được sử dụng để xác định các kháng thể đối với một loại virut.  Trong trường hợp của bệnh herpes zoster (giời leo, giời ăn, giời bò), phương pháp này sử dụng các tia cực tím ứng dụng vào mẫu thử bao gồm các tế bào được lấy từ các mụn nước.  Các đặc tính đặc thù của ánh sáng khi nhìn qua kính hiển vi sẽ xác định sự hiện diện của các kháng thể.  Xét nghiệm này sẽ ít tốn kém hơn xét nghiệm lấy mẫu virut, chính xác hơn, và có kết quả nhanh hơn.

Phản Ứng Chuỗi Polymerase.  Các phương pháp phản ứng chuỗi polymerase (polymerase chain reaction – PCR) sử dụng một đoạn DNA của virut, sau đó đoạn DNA này được tái tạo bản sao hàng triệu lần cho đến khi virut được phát hiện.  Công nghệ này thì khá tốn kém nhưng rất hiệu quả cho các trường hợp không bình thường, chẳng hạn như xác định tình trạng nhiễm trùng ở hệ thần kinh trung ương.