About

Tuesday, September 18, 2012

VIÊM GAN C (HEPATITIS C) - Do LQT Biên Dịch


SỬ DỤNG THUỐC

Các Loại Thuốc Dành Cho Bệnh Viêm Gan B Mãn Tính

Hiện nay, có 7 loại thuốc được chấp thuận ở Hoa Kỳ cho việc điều trị bệnh viêm gan B mãn tính:

-      Peginterferonalfa-2a (Pegasys)
-      Interferon-alfa-2b (Intron A)
-      Lamivudine (Epivir-HBV)
-      Entecavir (Baraclude)
-      Telbivudine (Tyzeka)
-      Adefovir (Hepsera)
-      Tenofovir (Viread)

Các loại thuốc này ngăn chặn quá trình tái tạo bản sao của virut viêm gan B trong cơ thể.  Chúng cũng có thể giúp ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh gan (xơ gan và suy gan) và sự phát triển của bệnh ung thư gan.

Bác sĩ sẽ chỉ định sử dụng thuốc dựa vào độ tuổi của bệnh nhân, mức độ nghiêm trọng của bệnh, và các yếu tố khác.  Bác sĩ cũng có thể kê toa các loại thuốc phối hợp.  Peginterferon alfa-2a, entecavir, và tenofovir là các loại thuốc thường được dùng trước tiên cho việc điều trị lâu dài.

Không phải lúc nào cũng biết được rõ ràng bệnh nhân nào bị viêm gan B nên được trị liệu bằng thuốc, và khi nào nên bắt đầu trị liệu bằng thuốc.  Trị liệu thường được chỉ định cho các bệnh nhân bị thái hóa nhanh chức năng gan, hoặc các bệnh nhân bị những biến chứng xơ gan như sưng cổ trướng và xuất huyết.

Các bệnh nhân tiếp nhận trị liệu ức chế miễn dịch cho các chứng bệnh khác, hoặc các bệnh nhân bị tái phát bệnh viêm gan B mãn tính, cũng là những người thích hợp được trị liệu bằng thuốc.

Peginterferon alfa-2a.  Peginterferonalfa-2a (Pegasys) được chấp thuận vào năm 2005 cho việc điều trị bệnh viêm gan B mãn tính.  (Peginterferon cũng có tên là pegylated interferon).  Loại thuốc này ngăn ngừa quá trình tái tạo bản sao của virut viêm gan B và cũng giúp tăng cường hệ miễn dịch.  Thuốc này được tiêm mỗi tuần một lần.  Peginterferon thỉnh thoảng được kê toa phối hợp với lamivudine (Epivir-HBV).

Các tác dụng phụ phổ biến bao gồm các triệu chứng giống cúm, chẳng hạn như sốt, ớn lạnh, đau nhức cơ, đau khớp, và nhức đầu.  Loại thuốc này cũng có thể gây ra chứng trầm cảm, lo lắng, cáu kỉnh, mất ngủ và nên được dùng hết sức cẩn thận ở các bệnh nhân có bệnh sử bị bệnh tâm thần.  Peginterferon alfa-2a cũng có thể làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh, và làm cho bệnh viêm gan nặng hơn với dấu hiệu hàm lượng ALT (alanine transaminase) gia tăng ở mức nghiêm trọng.  Các bệnh nhân có dấu hiệu hàm lượng ALT gia tăng nên được xét nghiệm máu thường xuyên để theo dõi chức năng gan.

Không giống các loại thuốc khác được dùng để điều trị bệnh viêm gan B mãn tính, bệnh nhân sử dụng peginterferon alfa-2a ít bị kháng thuốc hơn.

Interferon Alfa-2b.  Trong nhiều năm, interferon alfa-2b (Intron A) là loại thuốc phổ biến được dùng để điều trị bệnh viêm gan B.  Bây giờ loại thuốc này thường là phương án trị liệu thứ hai, sau thuốc peginterferon.  Loại thuốc này thường được tiêm mỗi ngày trong 16 tuần.  (Xem ra nó không giúp ích cho bệnh viêm gan D).  Một cách đáng tiếc là, ngay cả đối với bệnh viêm gan B, virut sẽ tái phát trong hầu hết các ca bệnh, mặc dù chủng loại virut đột biến tái phát này có thể yếu hơn chủng loại ban đầu.  Sử dụng loại thuốc này trong một thời gian dài có thể giúp cho nhiều bệnh nhân tiếp tục được thuyên giảm mà vẫn duy trì tính an toàn.  Interferon cũng có hiệu quả ở các bệnh nhân trẻ tuổi, cho dù vẫn chưa biết rõ hiệu quả dài hạn.  Giống như thuốc peginterferon alfa-2a, loại thuốc này có thể làm tăng nguy cơ bị trầm cảm.

Lamivudine, Entecavir, and Telbivudine.  Các loại thuốc này được phân loại là “bản sao nhân tạo của nucleosit” (Thuộc nhóm thuốc kháng virut, bao gồm AZT, DDC, và DDI, các loại thuốc này “can thiệp” vào hoạt động của men virut xúc tác quá trình hình thành DNA từ RNA và được dùng để điều trị virut HIV).  Lamivudine (Epivir-HBV) cũng được dùng trong một dạng thuốc (viên nén, dạng lỏng, hoặc dạng tiêm) khác để điều trị virut HIV.  Khoảng 20% số bệnh nhân sử dụng lamivudine bị kháng thuốc này.  Lamivudine, cùng với interferon alfa-2b, là hai loại thuốc duy nhất được chấp thuận cho việc điều trị bệnh viêm gan B mãn tính ở trẻ em.  Cơ Quan Quản Lý Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ đã chấp thuận cho sử dụng entecavir (Baraclude) vào năm 2005, và telbivudine (Tyzeka) vào năm 2006, sử dụng trong việc điều trị cho các bệnh nhân ở tuổi trưởng thành mắc bệnh viêm gan B mãn tính.

Nếu bệnh nhân phát triển hiện tượng kháng một trong các loại thuốc “bản sao nhân tạo của nucleotit”, chẳng hạn như adefovir hoặc tenofovir , thì có thể được tăng cường thêm trị liệu phối hợp.  Lamivudine có tỉ lệ kháng thuốc cao nhất.  Entecavirtenofovir có tỉ lệ kháng thuốc thấp nhất.

Các tác dụng phụ phổ biến của những loại thuốc này bao gồm nhức đầu, mệt mỏi, chóng mặt, và buồn nôn.  (Để biết thêm các tác dụng phụ có tính nghiêm trọng, hãy xem phần “Các Biến Chứng Thuốc và Các Cảnh Báo” bên dưới).

Adefovir vàTenofovir.  Adefovir (Hepsera) là một loại thuốc xưa, thuộc nhóm kháng virut được gọi là “bản sao nhân tạo của nucleotit: nucleotide analogs”.  Nhóm này ngăn chặn một loại men có liên quan đến quá trình tái tạo bản sao của virut.  Tenofovir (Viread) là một loại thuốc mới hơn thuộc nhóm này, và hiện nay được dùng phổ biến hơn thuốc adefovir.  Các loại thuốc này được sử dụng rất hiệu quả trong việc chống lại các chủng virut viêm gan B kháng thuốc lamivudine.  Các tác dụng phụ phổ biến của những loại thuốc này bao gồm mệt mỏi, nhức đầu, đau bụng, và ngứa.  

Các Biến Chứng Do Thuốc và Các Cảnh Báo Đối Với Thuốc “Bản Sao Nhân Tạo Của Nucleosit/Nucleotit”. Các bệnh nhân không tiếp tục trị liệu bằng thuốc kháng HBV có nhiều nguy cơ làm căn bệnh viêm gan trở nên nghiêm trọng và đột ngột trở xấu. Các bệnh nhân này nên được theo dõi chặt chẽ trong nhiều tháng sau khi ngưng điều trị.  Nếu cần thiết, điều trị bằng thuốc có thể cần phải được thực hiện lại.

Chứng nhiễm toan axit lactic (tình trạng tích tụ axit trong máu) là một biến chứng nghiêm trọng của các loại “thuốc bản sao nhân tạo của nucleosit/nucleotit: nucleoside/nucleotide analog drug”.  Các dấu hiệu và các triệu chứng của chứng nhiễm toan axit lactic bao gồm cảm giác hết sức mệt mỏi, đau nhức cơ bắp một cách bất thường, khó thở, đau bụng với cảm giác buồn nôn và nôn mửa, cảm thấy lạnh trong người (đặc biệt ở tay và chân), cảm giác chóng mặt hoặc quay cuồng, tim đập nhanh hoặc tim đập bất thường.  Hãy lập tức điện thoại cho bác sĩ nếu bạn gặp phải các triệu chứng như vậy.

Tình trạng độc hại gan (hủy hoại gan) là một biến chứng nghiêm trọng khác.  Các dấu hiệu và các triệu chứng bao gồm vàng da hoặc vàng mắt (chứng vàng da), nước tiểu có màu đậm, phân có màu nhạt, đau bụng dưới.  Hãy điện thoại ngay cho bác sĩ nếu bạn gặp phải các triệu chứng này.

Các loại thuốc này cũng có thể gây hủy hoại thận (tình trạng độc hại thận), đặc biệt đối với những người đã mắc phải các chứng bệnh về chức năng thận.

Các Loại Thuốc Giành Cho Bệnh Viêm Gan C Mãn Tính

Pegylated interferon kết hợp với thuốc ribavirin (Copegus) là phương pháp điều trị thích hợp nhất cho bệnh viêm gan C ở người thành niên và trẻ em.  Trong khoảng thời gian điều trị tiêu chuẩn 24 tuần, sự điều trị phối hợp 2 loại thuốc này đạt được tỉ lệ hiệu quả lên đến 50% ở các bệnh nhân bị viêm gan C với kiểu gen 1 (là kiểu gen phổ biến nhất ở Hoa Kỳ) và lên đến 80% ở các bệnh nhân bị nhiễm kiểu gen 2 hoặc 3.

Interferon dùng đơn độc thường giành cho các bệnh nhân không thích hợp với ribavirin.  Pegylated interferon được tiêm mỗi tuần một lần.  Ribavirin được uống dưới dạng viên.

Có hai loại thuốc pegylated interferon được dùng điều trị cho bệnh viêm gan C mãn tính:

-      Peginterferonalfal-2a (Pegasys)
-      Peginterferonalfa-2b (Peg-Intron)

Các Bệnh Nhân Được Chọn Lựa Cho Điều Trị.  Mặc dù tất cả những bệnh nhân bị viêm gan C mãn tính đều là những người thích hợp để điều trị, nhưng các bác sĩ thường xem xét tính thích hợp của việc điều trị dựa vào nhiều yếu tố khác nhau.

Việc điều trị thường được khuyến khích cho các bệnh nhân bị viêm gan C mãn tính có độ tuổi ít nhất là 18 và có:

-      Số lượng virut được xác định bởi xét nghiệm RNA virut viêm gan C (HCV RNA test)
-      Nhiều nguy cơ phát triển thành bệnh xơ gan
-      Dấu hiệu bị chai gan (xơ hóa) được phát hiện bằng phương pháp sinh thiết gan
-      Mức độ men alanine aminotransferase (ALT) bất thường, một dấu hiệu của hiện tượng tế bào gan bị hủy hoại

Điều trị bằng thuốc thường KHÔNG được khuyến khích cho những người có:

-      Bệnh xơ gan nghiêm trọng hoặc ung thư gan
-      Chứng trầm cảm nặng và không kiểm soát được, đặc biệt nếu họ có xu hướng tự tử trong quá khứ
-      Viêm gan tự miễn dịch hoặc các rối loại tự miễn dịch khác như chứng tăng năng tuyến giáp (hyperthyroidism)
-      Tiếp nhận cấy ghép tủy, phổi, tim, hoặc thận
-      Cao huyết áp nghiêm trọng, bệnh tim mạch vành, suy tim, bệnh thận, hoặc các rối loạn nghiêm trọng khác không liên quan đến gan mà có thể ảnh hưởng đến tuổi thọ
-      Thiếu máu trầm trọng (số lượng hồng cầu thấp) hoặc giảm lượng tiểu cầu (số lượng tiểu cầu máu thấp)
-      Các phụ nữ mang thai hoặc không dùng thuốc ngừa thai
-      Các bệnh nhân lạm dụng thuốc hoặc lạm dụng rượu bia có thể không được chọn lựa để điều trị bằng thuốc

Các Tác Dụng Phụ của Việc Điều Trị Bằng Thuốc.  Các tác dụng phụ của việc điều trị dùng thuốc phối hợp bao gồm các tác dụng phụ do cả hai loại thuốc pegylated interferon và thuốc ribavirin gây ra.

Các tác dụng phụ và các biến chứng của thuốc pegylated interferon bao gồm:

-      Mệt mỏi
-      Các triệu chứng như cúm (chẳng hạn như sốt, ớn lạnh, và đau nhức cơ)
-      Buồn nôn và nôn mửa
-      Nhức đầu
-      Xuống cân
-      Khó chịu
-      Trầm cảm
-      Thưa tóc
-      Hoại tử tủy xương
-      Đau nhức ở khu vực tiêm thuốc
-      Bị nhiễm trùng nghiêm trọng

Các tác dụng phụ và các biến chứng của thuốc ribavirin bao gồm:

-      Thiếu máu, có thể làm cho bệnh tim nặng thêm
-      Mệt mỏi
-      Ngứa nghiêm trọng
-      Phát ban đỏ
-      Ho
-      Khó thở
-      Dị tật bẩm sinh

Các Loại Thuốc Đang Được Thử Nghiệm cho Bệnh Viêm Gan C Mãn Tính.  Các loại thuốc hiện đang được sử dụng cho bệnh viêm gan C vẫn chưa đáp ứng được các nhu cầu của bệnh nhân.  Các loại thuốc này khá đắt tiền, có nhiều tác dụng phụ, không hiệu quả đối với khoảng một nửa số bệnh nhân sử dụng chúng, và không thích hợp cho nhiều bệnh nhân khác.  Các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm các giải pháp tốt hơn.  Telaprevir boceprivir là hai loại thuốc mới có tác dụng ức chế men hủy protein (protease inhibitor drug) mà đang được điều tra để dùng phối hợp với thuốc interferon và ribavirin.  Các loại thuốc này đã cho thấy những kết quả đầy hứa hẹn trong các thí nghiệm lâm sàng, nhưng lại có các tác dụng phụ nghiêm trọng bao gồm phát ban và thiếu máu trầm trọng.

Tỉ Lệ Bình Phục Theo Kiểu Gen

Hiệu quả bình phục có thể thay đổi tùy theo kiểu gen.  Khoảng 80% bệnh nhân bị viêm gan C ở Hoa Kỳ có kiểu gen 1, vùng Trung Đông và Châu Phi thì phổ biến với kiểu gen 4

Kiểu Gen
Trình Bày
2 và 3
Tỉ lệ hồi phục được duy trì (tỉ lệ hồi phục) khoảng 75% hoặc nhiều hơn, được tìm thấy ở các bệnh nhân viêm gan C có kiểu gen 2 và 3 với 24 tuần điều trị.  Các bệnh nhân có số lượng axit ribonucleic virut viêm gan C dưới 1000 đơn vị quốc tế/mL ở ngày thứ 7 (nghĩa là ngay trước khi tiêm liều thứ hai thuốc pegylated interferon) có thể được điều trị khoảng 12 tuần với tỉ lệ hồi phục duy trì liên tục

1
Tỉ lệ hồi phục khoảng 50% ở các bệnh nhân viêm gan C có kiểu gen 1 được điều trị 48 tuần.  Đối với các bệnh nhân bị viêm gan C kiểu gen 1, nếu việc điều trị bằng thuốc pegylated interferon + ribavirin không làm giảm mật độ virut xuống 100 lần (2-log) hoặc không hoàn toàn triệt tiêu RNA sau 12 tuần, thì cơ hội điều trị thành công ít hơn 1%

4

Tỉ lệ hồi phục khoảng 65% đối với các bệnh nhân có kiểu gen 4 được điều trị 48 tuần.
6

Các chứng cứ về điều trị kiểu gen 6 hiện tại rất hiếm, và những chứng cứ hiện nay là việc điều trị 48 tuần cùng liều lượng với phương pháp điều trị kiểu gen 1.  Các bác sĩ đang xem xét việc điều trị với thời gian ngắn hơn nên thực hiện điều này trong phạm vi thí nghiệm lâm sàng.

Tỉ lệ hồi phục sớm thường không được kiểm tra ở các bệnh nhân không có kiểu gen 1, vì cơ hội đạt được tỉ lệ hồi phục ở các bệnh nhân này là 90%.  Cơ chế tạo nên khả năng hồi phục này thì hoàn toàn vẫn chưa được hiểu rõ, vì một số bệnh nhân có được tỉ lệ hồi phục này dường như vẫn bị tình trạng virut tái tạo bản sao hoạt tính trong gan của họ và trong các tế bào máu ngoại biên đơn hạch.