Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH SÁN LÁ PHỔI.

(PARAGONIMIASIS).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

CHỨNG BỆNH CHÂN MADURA

(MADURA FOOT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

MỘT BỘ PHẬN NGỰC GIẢ BIẾN MẤT TRONG KHI TẬP MÔN THỂ DỤC PILATES.

(DISAPPEARANCE OF A BREAST PROSTHESIS DURING PILATES).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK).

MỘT VIÊN ĐẠN NẰM TRONG ĐẦU.

(A HEAD SHOT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

TÌNH TRẠNG MÙ SAU KHI TIÊM MỠ

(BLINDNESS AFTER FAT INJECTION)

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH GÚT CÓ SỎI.

(TOPHACEOUS GOUT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH PHÌNH TRƯỚNG XƯƠNG KHỚP

(HYPERTROPHIC PULMONARY OSTEOARTHROPATHY) .

Nguồn (Source): www.nejm.org

About

Wednesday, September 26, 2012

VIÊM TUYẾN TIỀN LIỆT CẤP TÍNH DO VI KHUẨN (PROSTATITIS - BACTERIAL ACUTE) - Do LQT Biên Dịch


KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

Tuyến tiền liệt (nhiếp hộ tuyến) có kích thước tương đương với quả óc chó (walnut), bao quanh bàng quang (bọng đái) và niệu đạo (dẫn nước tiểu ra khỏi bàng quang) của nam giới.  Tuyến này một phần được cấu tạo bởi các cơ và một phần được cấu tạo bởi tuyến, có các ống dẫn đi vào phần được bao quanh bởi tuyến tiền liệt của niệu đạo.  Tuyến tiền liệt (nhiếp hộ tuyến) bao gồm 3 thùy: một thùy ở trung tâm, và hai thùy ở mỗi bên.


Male reproductive tract: Hệ thống sinh sản nam
Bladder: Bàng quang (bọng đái)
Prostate: Tuyến tiền liệt (nhiếp hộ tuyến)
Penis: Dương vật
Urethra: Niệu đạo
Scrotum: Bìu dái
Tunica Vaginalis: Lớp chất dịch bao bọc tinh hoàn
Testis: Tinh hoàn
Epididymis: Mào tinh hoàn
Vas Deferens: Ống dẫn tinh
Anus: Hậu môn
Seminal Vesicles: Các túi tinh
Rectum: Trực tràng

Các cấu trúc sinh sản ở nam giới bao gồm dương vật (penis), bìu dái (scrotum), các túi tinh (seminal vesicles) và tuyến tiền liệt (nhiếp hộ tuyến).


Là một phần của hệ thống sinh sản nam, chức năng chính của tuyến tiền liệt (nhiếp hộ tuyến) là tiết ra một chất lỏng có tính kiềm (alkaline) nhẹ, cấu tạo nên một phần của tinh dịch (một dung dịch chứa tinh trùng).  Vào lúc người đàn ông đạt hưng phấn cực điểm (orgasm), các tuyến cơ của tuyến tiền liệt sẽ giúp đẩy chất dịch của tuyến tiền liệt cùng với tinh trùng (được sản sinh trong tinh hoàn) vào niệu đạo.  Sau đó, tinh dịch đi ra khỏi cơ thể qua phần đầu của dương vật trong lúc phóng tinh.

Viêm tuyến tiền liệt (nhiếp hộ tuyến) cấp tính là tình trạng trong đó tuyến tiền liệt bị sưng và tấy đỏ lên (viêm hoặc nhiễm khuẩn), tình trạng này có thể phát triển rất nhanh.  Nếu chứng bệnh viêm tuyến tiền liệt do tình trạng nhiễm khuẩn gây ra, thì trường hợp này được gọi là viêm tuyến tiền liệt do vi khuẩn.

-      Viêm tuyến tiền liệt (nhiếp hộ tuyến) cấp tính do vi khuẩn là một tình trạng nhiễm bệnh xuất hiện rất nhanh.
-      Viêm tuyến tiền liệt mãn tính do vi khuẩn là một tình trạng nhiễm bệnh kéo dài 3 tháng hoặc lâu hơn.

CÁC TÊN GỌI KHÁC

Chronic prostatitis-bacterial; Acute prostatitis.

CÁC NGUYÊN NHÂN

Viêm tuyến tiền liệt cấp tính thường do tình trạng nhiễm khuẩn tuyến tiền liệt gây ra. Bất cứ loại vi khuẩn nào có khả năng gây nhiễm trùng đường tiết niệu (urinary tract infections) đều có thể gây ra bệnh viêm tuyến tiền liệt cấp tính do vi khuẩn (acute bacterial prostatitis), các vi khuẩn này bao gồm:

-      Enterococci
-      Escherichia coli
-      Klebsiella pneumonia
-      Proteus mirabilis
-      Pseudomonas aeruginosa
-      Staphylococcus aureus

Một vài chứng bệnh lây truyền qua đường tình dục (sexually transmitted disease - STD) có thể gây ra chứng viêm tuyến tiền liệt cấp tính, thường xảy ra ở nam giới dưới 35 tuổi. Các bệnh STD này bao gồm:

-      Bệnh Chlamydia
-      Bệnh lậu
-      Bệnh Trichomonas
-      Bệnh Ureaplasma urealyticum

Các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD) có nhiều khả năng xảy ra do:

-      Quan hệ tình dục bằng đường hậu môn mà không đeo bao cao su.
-      Quan hệ tình dục với nhiều người.

Ở những người đàn ông trên 35 tuổi, vi khuẩn E.coli và các loại vi khuẩn phổ biến khác thường gây ra chứng viêm tuyến tiền liệt. Viêm tuyến tiền liệt do vi khuẩn E.coli gây ra có thể xảy ra tự phát hoặc sau khi bị:

-      Viêm mào tinh hoàn (epididymitis)
-      Viêm niệu đạo (urethritis)
-      Nhiễm trùng đường tiết niệu (urinary tract infections)

Viêm tuyến tiền liệt cấp tính cũng có thể phát triển từ các vấn đề có liên quan đến niệu đạo hoặc tuyến tiền liệt, chẳng hạn như:

-      Tình trạng tắc nghẽn bàng quang (nước tiểu không đến được niệu đạo)
-      Đặt ống thông hoặc ống soi bọng đái
-      Sinh thiết tuyến tiền liệt
-      Bị chấn thương
-      Chứng hẹp bao qui đầu
-      Giao hợp ở hậu môn (trực tràng)
-      Phẫu thuật thông qua niệu đạo (để cắt bỏ các mô gây cản trở)

Viêm tuyến tiền liệt rất hiếm khi xảy ra ở những thanh thiếu niên dưới 20 tuổi. Nam giới có độ tuổi từ 20 đến 35 và có nhiều bạn tình (quan hệ tình dục với nhiều người) thì sẽ có nhiều nguy cơ nhiễm bệnh. Những người cũng có nguy cơ nhiễm bệnh cao là những người giao hợp qua đường hậu môn, đặc biệt là không sử dụng bao cao su. Đàn ông ở độ tuổi 50 hoặc lớn hơn và có tuyến tiền liệt bị nở to (tình trạng tăng số lượng tế bào trong tuyến tiền liệt lành tính) sẽ có nhiều nguy cơ bị viêm tuyến tiền liệt.  Tuyến tiền liệt có thể bị tắc nghẽn, làm cho vi khuẩn dễ dàng phát sinh.  Các triệu chứng của bệnh viêm tuyến tiền liệt mãn tính có thể rất giống với các triệu chứng của tình trạng tuyến tiền liệt bị nở to.

CÁC TRIỆU CHỨNG

Viêm tuyến tiền liệt có thể xảy ra do một tình trạng nhiễm khuẩn ở bên trong hoặc xung quanh tinh hoàn (viêm mào tinh hoàn hoặc viêm tinh hoàn), đặc biệt nếu như do một chứng bệnh lây truyền qua đường sinh dục (sexually transmitted disease - STD) gây ra. Trong trường hợp này, cũng sẽ xuất hiện những triệu chứng của các chứng bệnh khác.

Các triệu chứng của bệnh viêm tuyến tiền liệt cấp tính có nhiều khả năng bắt đầu rất nhanh và gây ra nhiều sự khó chịu hơn. Chúng có thể bao gồm các triệu chứng sau:

-      Đau bụng (thường ngay phía trên xương mu)
-      Cảm giác nóng rát khi đi tiểu (khó tiểu)
-      Sốt, ớn lạnh, mặt đỏ bừng
-      Không thể tiêu thoát hết hoàn toàn nước tiểu trong bàng quang (bí tiểu)
-      Đau phần lưng dưới
-      Cảm giác đau khi đi tiểu (khó tiểu)
-      Cảm giác đau khi đi tiêu
-      Cảm giác đau khi xuất tinh
-      Đau ở khu vực giữa bộ phận sinh dục và hậu môn (đau hạ bộ)

Các triệu chứng khác có thể xảy ra đối với chứng bệnh này, bao gồm:

-      Có máu trong tinh dịch
-      Có máu trong nước tiểu
-      Giảm lực chảy của nước tiểu
-      Khó đi tiểu
-      Nước tiểu có mùi khai
-      Thường xuyên đi tiểu hay bị tình trạng tiểu gấp
-      Đau tinh hoàn

CÁC XÉT NGHIỆM VÀ CÁC KIỂM TRA

Trong thời gian kiểm tra sức khỏe, bác sĩ của bạn có thể tìm thấy các dấu hiệu sau:

-      Bài tiết từ niệu đạo của bạn
-      Các hạch bạch huyết ở háng nở to hoặc bị đau
-      Bìu dái sưng hoặc bị thốn
-      Tuyến tiền liệt ấm, mềm, sưng lên hoặc bị đau

Để kiểm tra tuyến tiền liệt (nhiếp hộ tuyến) của bạn, bác sĩ sẽ thực hiện khám trực tràng sử dụng kỹ thuật số (digital rectal exam).  Trong thời gian kiểm tra, bác sĩ sẽ đưa ngón tay (đeo găng, bao tay, được bôi trơn) vào trực tràng của bạn.

Bác sĩ có thể thực hiện thao tác mát xa tuyến tiền liệt (nhiếp hộ tuyến) để tìm ra dấu hiệu bị nhiễm trùng:

-      Bác sĩ sẽ chà ngón tay (đeo găng, bao tay) vào tuyến tiền liệt một vài lần để cho chất lỏng tiết ra từ niệu đạo (urethra: ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài cơ thể)
-      Chất lỏng này sẽ được kiểm tra để phát hiện sự hiện diện của các tế bào máu trắng và vi khuẩn, đây là các dấu hiệu của tình trạng nhiễm trùng.

Các mẫu nước tiểu có thể được thu thập để xét nghiệm và xét nghiệm vi khuẩn trong nước tiểu. Các xét nghiệm về sự bài tiết từ tuyến tiền liệt có thể cho thấy sự gia tăng các tế bào máu trắng và vi khuẩn.

Lưu ý: Bác sĩ của bạn có thể chọn không thực hiện liệu pháp xoa bóp tuyến tiền liệt nếu tuyến tiền liệt bị sưng rõ và bị đau. Quá trình xoa bóp có thể làm lây lan tình trạng viêm nhiễm, và dẫn đến tình trạng nhiễm khuẩn nặng. Đây là các tình trạng nhiễm khuẩn có nguy cơ đe dọa đến tính mạng, trong đó vi khuẩn sẽ đi vào trong máu, chứ không phải chỉ hiện diện ở một bộ phận nào đó trong cơ thể.

Viêm tuyến tiền liệt cấp tính cũng có thể ảnh hưởng đến các kết quả xét nghiệm sau:

-      Xét nghiệm số lượng tế bào máu (complete blood count - CBC)
-      Xét nghiệm số lượng PSA (prostate-specific antigen: kháng nguyên chuyên biệt tuyến tiền liệt).
-      Phân tích tinh dịch

ĐIỀU TRỊ

Hầu hết các trường hợp viêm tuyến tiền liệt cấp tính sẽ hoàn toàn được khỏi hẳn bằng cách sử dụng thuốc, bằng các thay đổi trong chế độ ăn uống và lối sống của bạn.  Các loại thuốc kháng sinh thường được sử dụng để điều trị các trường hợp nhiễm khuẩn tuyến tiền liệt.

-      Các loại thuốc kháng sinh, loại thông thường nhất là trimethoprim-sulfamethoxazole (Bactrim hoặc Septra), fluoroquinolones (Floxin hoặc Cipro), tetracycline hoặc thuốc có nguồn gốc từ tetracycline như doxycycline, sử dụng ít nhất trong 4 tuần.
-      Tiêm một mũi ceftriaxone, sau đó sử dụng thuốc doxycycline trong 7 ngày (cho nam giới bị viêm tuyến tiền liệt do một chứng bệnh STD gây ra)
-      Ở lại bệnh viện và được truyền các loại thuốc kháng sinh qua tĩnh mạch (IV = intravenous) (trường hợp bệnh nặng).

Thuốc chặn alpha (alpha blocker).  Các loại thuốc này giúp thư giãn cổ bàng quang và các sợi cơ nơi tuyến tiền liệt nối với bàng quang.  Phương pháp điều trị này có thể giúp thuyên giảm các triệu chứng, chẳng hạn như đi tiểu đau.  Các loại thuốc này bao gồm tamsulosin (Flomax), terazosin (Hytrin), alfuzosin (Uroxatral) và doxazosin (Cardura).  Các tác dụng phụ phổ biến bao gồm nhức đầu và hạ huyết áp.

Thuốc giảm đau (pain reliever).  Các loại thuốc giảm đau, chẳng hạn như aspirin hoặc ibuprofen (Advil, Motrin, các tên thuốc khác) có thể giúp bạn cảm thấy dễ chịu hơn.  Bạn nên trao đổi với bác sĩ về liều lượng bạn có thể sử dụng một cách an toàn.  Sử dụng quá liều các loại thuốc này có thể gây nguy hiểm.

Các phương pháp điều trị khác.  Các phương pháp điều trị bệnh viêm tuyến tiền liệt (nhiếp hộ tuyến) có tiềm năng khác đang được nghiên cứu.  Các phương pháp này bao gồm trị liệu nhiệt (sức nóng) bằng một thiết bị sử dụng vi sóng (microwave), và các loại thuốc được chế biến từ các chất chiết xuất từ một số loại dược thảo.

Bởi vì tình trạng nhiễm khuẩn có khả năng tái phát, do đó một số bác sĩ đề nghị dùng thuốc kéo dài trong khoảng 6 đến 8 tuần, để loại bỏ hoàn toàn tình trạng nhiễm khuẩn này.

Các loại thuốc làm mềm phân cũng có thể được sử dụng để giúp giảm bớt sự khó chịu khi đi tiêu.

Nếu tuyến tiền liệt của bạn bị sưng, làm cho bạn khó đi tiểu, bạn có thể cần phải sử dụng một loại ống giúp tiêu thoát nước tiểu qua bụng (suprapubic catheter) hoặc từ bên trong cơ thể (indwelling catheter).

Phẫu thuật, đặt ống thông tiểu, hoặc nội soi bàng quang được đề xuất là không nên thực hiện cho các bệnh nhân viêm tuyến tiền liệt cấp tính

-      Đi tiểu thường xuyên và hoàn toàn (nước tiểu tiêu thoát ra hết) để làm giảm các triệu chứng của tình trạng đi tiểu vặt và đi tiểu gấp.
-      Chèn một ống thông tiểu trên vùng xương mu (một đường thoát để tiêu thoát nước tiểu ở bàng quang thông qua bụng) có thể cần thiết nếu tuyến tiền liệt bị sưng và gây khó khăn cho việc tiêu thoát nước tiểu ở bàng quang.
-      Tắm nước ấm có thể làm giảm một số sự đau nhức trong hạ bộ và vùng lưng dưới.
-      Tránh những chất kích thích bàng quang như rượu bia, đồ uống có chất caffein, các loại nước chanh cam quýt, và các thức ăn nóng và cay.
-      Uống nhiều nước (từ 2 đến 4 lít nước hoặc từ 64 đến 128 ounces nước mỗi ngày) để đi tiểu thường xuyên và giúp tiêu thoát vi khuẩn ra khỏi bàng quang
-      Tránh chạy xe đạp

Sau khi hoàn tất việc điều trị bằng thuốc kháng sinh, bạn nên gặp bác sĩ để kiểm tra chắc chắn rằng tình trạng nhiễm khuẩn không còn nữa.

DỰ ĐOÁN BỆNH:

Hầu hết nam giới được chẩn đoán chứng thực bị viêm tuyến tiền liệt cấp tính sẽ không gặp phải các triệu chứng tái phát sau khi được điều trị.

Các bệnh nhân mắc bệnh viêm tuyến tiền liệt cấp tính có thể bị nhiễm khuẩn trở lại, và sẽ phát triển thành bệnh viêm tuyến tiền liệt mãn tính.

CÁC BIẾN CHỨNG CÓ THỂ XẢY RA

Các biến chứng có thể bao gồm:

-      Áp xe (tụ mủ cục bộ) ở tuyến tiền liệt
-      Bí tiểu, có thể xảy ra khi tuyến tiền liệt bị sưng nén (dồn nén) vào niệu đạo
-      Vi khuẩn từ tuyến tiền liệt lan truyền vào máu
-      Viêm ống xoắn nối với mặt sau của tinh hoàn (mào tinh hoàn)
-      Các bất thường trong tinh dịch và tình trạng vô sinh (biến chứng này chỉ xảy ra đối với bệnh viêm tuyến tiền liệt mãn tính).

Chưa có chứng cứ trực tiếp nào cho thấy rằng bệnh viêm tuyến tiền liệt có thể dẫn đến ung thư tuyến tiền liệt.

KHI NÀO CẦN LIÊN HỆ VỚI BÁC SĨ

Hãy điện thoại cho bác sĩ ngay nếu như bạn có các triệu chứng của bệnh viêm tuyến tiền liệt.

NGĂN NGỪA

Không phải tất cả các loại bệnh viêm tuyến tiền liệt đều có thể phòng ngừa được.

Bạn có thể ngăn ngừa các bệnh nhiễm trùng do các chứng bệnh lây nhiễm qua đường tình dục (STD) bằng cách thực hiện hành vi tình dục an toàn.

CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nickel JC. Inflammatory conditions of the male genitourinary tract: prostatitis and related conditions, orchitis, and epididymitis. In: Wein AJ, ed. Campbell-Walsh Urology . 9th ed. Philadelphia, Pa: Saunders Elsevier;2007:chap 9.
Barry MJ, McNaughton-Collins M. Benign prostate disease and prostatitis. In: Goldman L, Ausiello D, eds. Cecil Medicine . 23rd ed. Philadelphia, Pa: Saunders Elsevier; 2007:chap 130.


Nguồn (Source):







Monday, September 24, 2012

GLUCOSAMINE - Do LQT Biên Dịch


KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

Glucosamine là một hợp chất tự nhiên được tìm thấy trong sụn ở tình trạng khỏe mạnh. Glucosamine sunfat là thành phần thông thường của glycoaminoglycans trong gian bào sụn (cartilage matrix) và hoạt dịch (synovial fluid: một chất lỏng tìm thấy trong khớp xương, màng bọc dây chằng, túi hoạt dịch, có tác dụng bôi trơn – còn được gọi là dịch khớp).


Bằng chứng có được từ các thử nghiệm chọn ngẫu nhiên được kiểm soát đã hổ trợ việc sử dụng glucosamine sunfat trong việc điều trị viêm khớp thoái hóa (osteoarthritis), đặc biệt là ở đầu gối. Người ta tin rằng gốc sunfat có giá trị lâm sàn trong hoạt dịch bằng cách làm sụn chắc hơn và hỗ trợ quá trình tổng hợp glycosaminoglycan. Nếu giả thiết này được xác nhận, nó sẽ có nghĩa rằng chỉ có dạng glucosamine sulfute có hiệu quả và các dạng không phải là sunfat glucosamine thì sẽ không có hiệu quả.

Glucosamine thường được sử dụng phối hợp với chondroitin, một loại glycosaminoglycan dẫn xuất từ sụn khớp. Việc dùng các liệu pháp bổ sung, bao gồm glucosamine, thì thường dành cho các bệnh nhân bị chứng viêm khớp thoái hóa, và có thể cho phép giảm bớt liều lượng các thuốc kháng viêm không steroid (non-steroidal anti-imflammatory drugs – NSAIDs).

CÁC TÊN GỌI KHÁC

2-acetamido-2-deoxyglucose, acetylglucosamine, Arth-X Plus®, chitosamine, ChitoSeal, Clo-Sur PAD, D-glucosamine, disease modifying drugs for osteoarthritis (DMOAD), enhanced glucosamine sulfate, Flexi-Factors®, glucosamine chlorohydrate, Glucosamine Complex®, glucosamine hydrochloride, glucosamine hydroiodide, Glucosamine Mega®, glucosamine N-Acetyl, glucosamine sulfate, glucosamine sulphate, Joint Factors®, N-acetyl D-glucosamine (NAG, N-A-G), Nutri-Joint®, poly-N-acetyl glucosamine (pGlcNAc), Poly-NAG, Syvek Patch, Ultra Maximum Strength Glucosamine Sulfate®.

CHỨNG CỨ

Các tác dụng này được thử nghiệm ở người hoặc động vật. Sự an toàn và tính hiệu quả không phải lúc nào cũng được chứng thực. Một số chứng bệnh dưới đây có thể nghiêm trọng, và phải được chuyên gia chăm sóc y tế (bác sĩ, dược sĩ, y tá) có giấy phép hành nghề kiểm tra và đánh giá.

Viêm khớp thoái hóa đầu gối (từ nhẹ đến vừa phải) (đã có chứng cứ khoa học có tính thuyết phục hỗ trợ cho tác dụng này)

Dựa trên các nghiên cứu ở người, có bằng chứng tương đối rõ ràng hỗ trợ cho việc sử dụng glucosamine sulfate để điều trị chứng viêm khớp thoái hóa đầu gối (knee osteoarthritis) từ nhẹ đến trung bình. Hầu hết các nghiên cứu đã sử dụng glucosamine sulfate được cung cấp bởi một nhà sản xuất ở Châu Âu (có tên là Rotta Research Laboratorium), và người ta chưa biết glucosamine được làm từ các nhà sản xuất khác có hiệu quả tương tự như vậy không. Mặc dù một số nghiên cứu về glucosamine vẫn chưa tìm thấy có được lợi ích, nhưng các nghiên cứu này đã được thực hiện trên các bệnh nhân bị viêm khớp thoái hóa nghiêm trọng hoặc các bệnh nhân đã sử dụng các sản phẩm không phải là glucosamine sunfat. Các chứng cứ về tác dụng của glycosaminoglycan polysulphate vẫn chưa thống nhất và cần được điều tra thêm. Cần có thêm các thử nghiệm lâm sàn được thiết kế hoàn chỉnh để xác định tính an toàn và hiệu quả, cũng như để kiểm tra các loại thuốc glucosamine khác nhau.

Viêm khớp thoái hóa (thông thường) (đã có chứng cứ khoa học khá rõ ràng hỗ trợ cho tác dụng này)

Một vài nghiên cứu ở người và các thử nghiệm trên động vật đã cho thấy các lợi ích của glucosamine trong việc điều trị viêm khớp thoái hóa ở các khớp khác nhau của cơ thể, mặc dù chứng cứ không được phong phú hơn so với chứng cứ về viêm khớp thoái hóa đầu gối. Một số tác dụng này bao gồm giảm đau, có thể do tác dụng kháng viêm của glucosamine, và cải thiện chức năng khớp. Nhìn chung, các nghiên cứu này đã không được thiết kế hoàn chỉnh. Mặc dù có một số nghiên cứu đầy triển vọng, nhưng cần có thêm nghiên cứu trong lĩnh vực này trước khi đưa ra một kết luận chắc chắn.

Suy tĩnh mạch mãn tính (chưa có chứng cứ khoa học rõ ràng hỗ trợ cho tác dụng này)

Suy tĩnh mạch mãn tính” (chronic venous insufficiency) là một hội chứng bao gồm sưng chân, giãn tĩnh mạch, đau nhức, ngứa, thay đổi về da, và lở loét da. Thuật ngữ này thường được sử dụng ở Châu Âu hơn ở Hoa Kỳ. Hiện nay, chưa có đủ bằng chứng khoa học đáng tin cậy để đề xuất glucosamine trong việc điều trị chứng bệnh này.

BệnhTiểu Đường (và các trường hợp bệnh liên quan) (chưa có chứng cứ khoa học rõ ràng hỗ trợ cho tác dụng này)

Các nghiên cứu ban đầu cho thấy rằng glucosamine không cải thiện được khả năng kiểm soát lượng đường trong máu, các nồng độ lipit, hoặc các nồng độ apolipoprotein ở bệnh tiểu đường. Cần có thêm nghiên cứu trong lĩnh vực này.

Bệnh Viêm Đường Ruột (Bệnh Crohn, viêm loét đại tràng) (chưa có chứng cứ khoa học rõ ràng hỗ trợ cho tác dụng này)

Nghiên cứu sơ bộ cho thấy các tiến bộ trong việc sử dụng N-acetyl như là một liệu pháp bổ sung đối với bệnh viêm đường ruột. Có có thêm bằng chứng khoa học trước khi đưa ra một đề xuất có tính thuyết phục cao.

Đau nhức (đau chân) (chưa có chứng cứ khoa học rõ ràng hỗ trợ cho tác dụng này)

Nghiên cứu sơ bộ ở người cho thấy các ích lợi của việc tiêm glucosamine cùng với chondroitin trong việc điều trị đau chân phát sinh từ chứng thoái hóa đĩa đệm cột sống phần thắt lưng lâu năm (advanced lumbar degenerative disc disease). Cần có thêm bằng chứng khoa học trước khi đưa ra một đề xuất chắc chắn.

Phục hồi chức năng (sau khi chấn thương đầu gối) (chưa có chứng cứ khoa học rõ ràng hỗ trợ cho tác dụng này)

Các vận động viên được cho sử dụng glucosamine khi bị các chấn thương nghiêm trọng ở đầu gối. Mặc dù glucosamine không cải thiện được cơn đau, nhưng nó giúp cải thiện được tính linh hoạt (dẻo dai). Cần thêm nghiên cứu để xác định các khám phá ban đầu này.

Viêm thấp khớp (chưa có chứng cứ khoa học rõ ràng hỗ trợ cho tác dụng này)

Nghiên cứu ban đầu ở người đã báo cáo các lợi ích của glucosamine trong việc điều trị đau khớp và tình trạng viêm ở chứng thấp khớp. Trong các nghiên cứu khác, glucosamine đã không phát huy được các tác dụng chống thấp khớp, nhưng nó cải thiện được các triệu chứng của bệnh. Tuy nhiên, đây chỉ là các thông tin ban đầu, và cần phải nghiên cứu thêm trước khi đưa ra kết luận. Việc điều trị viêm thấp khớp có thể phức tạp, và cần phải được chuyên gia chăm sóc y tế (bác sĩ, dược sĩ, y tá) có giấy phép hành nghề theo dõi các bệnh nhân bị chứng bệnh này.

Các rối loạn ở khớp hàm (chưa có chứng cứ khoa học rõ ràng hỗ trợ cho tác dụng này)

Các bằng chứng khoa học chưa đủ để đưa ra đề xuất hay chống lại việc sử dụng glucosamine (hoặc kết hợp glucosamine và chondroitin) để điều trị các rối loạn ở khớp hàm (temporomandibular joint disorder)

Cholesterol cao (có chứng cứ khoa học chống lại tác dụng này)

Glucosamine xem ra không thay đổi được nồng độ LDL (cholesterol xấu) hoặc HDL (cholesterol tốt) ở các bệnh nhân bị đau khớp mãn tính (chronic joint pain) hoặc bị bệnh tiểu đường.

CÁC TÁC DỤNG DỰA TRÊN TRUYỀN THỐNG HAY LÝ THUYẾT

Những cách sử dụng sau đây dựa trên các lý thuyết khoa học hoặc truyền thống. Chúng thường vẫn chưa được kiểm tra kỹ ở người, tính an toàn và hiệu quả không phải lúc nào cũng được chứng thực. Một vài chứng bệnh này có khả năng nghiêm trọng, và cần phải được chuyên gia chăm sóc y tế (bác sĩ, dược sĩ, y tá) có giấy phép hành nghề kiểm tra và đánh giá.

Bệnh SIDA (AIDS), các chấn thương thể thao, đau lưng, chảy máu do giãn tĩnh mạch thực quản (mạch máu trong thực quản), ung thư, suy tim xung huyết, trầm cảm, hội chứng đau cơ và khớp, sỏi thận, đau nửa đầu, ức chế miễn dịch, loãng xương, đau nhức, bệnh vẩy nến, trẻ hóa da, thái hóa đốt sống (sự phát triển của xương cựa gà trên cột sống), thuốc bôi giảm sắc tố (sản phẩm kết hợp chứa nhiều thành phần khác nhau), chữa lành vết thương.

LIỀU LƯỢNG

Các liều lượng dưới đây dựa vào nghiên cứu khoa học, các ấn phẩm, cách sử dụng truyền thống, hoặc ý kiến của chuyên gia. Nhiều loại thảo dược và thực phẩm chức năng vẫn chưa được kiểm tra kỹ, tính hiệu quả và an toàn có thể chưa được chứng thực. Các nhãn hiệu có thể được sản xuất khác nhau, với các thành phần có thể biến đổi, thậm chí trong cùng một nhãn hiệu. Các liều lượng dưới đây có thể không áp dụng cho tất cả mọi sản phẩm. Bạn nên đọc kỹ nhãn hướng dẫn trên sản phẩm và tham khảo về liều lượng với chuyên gia chăm sóc y tế (bác sĩ, dược sĩ, y tá) có giấy phép hành nghề trước khi bắt đầu sử dụng.

Người thành niên (18 tuổi trở lên)

Trong hầu hết các nghiên cứu hiện nay, glucosamine sunfat 500mg được uống bằng miệng dưới dạng viên nén hoặc dạng viên nang mỗi ngày 3 lần từ 30 đến 90 ngày. Liều uống 1,5 g (1500 mg) mỗi ngày một lần cũng được sử dụng. Các nghiên cứu có tính giới hạn đã sử dụng 1500 mg mỗi ngày dưới dạng bột tinh thể uống bằng miệng hoặc 500 mg glucosamine hydrocholoride 3 lần/ngày. Liều lượng 20 mg cho mỗi kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày cũng được đề xuất trong một số sản phẩm.  Có một nghiên cứu đã sử dụng liều 2000 mg mỗi ngày trong vòng 2 tuần.

Một loại glucosamine khác đã được sử dụng dưới dạng thoa (bôi) phối hợp với chondroitin trong thời gian 4 tuần. Tính an toàn và hiệu quả của các dạng thuốc này chưa được chứng thực rõ ràng. Glucosamine hydrochloride cung cấp nhiều glucosamine hơn glucosamine sunfat, mặc dù sự khác biệt này có thể không quan trọng khi các sản phẩm được chế biến nhằm cung cấp số lượng tổng cộng 500 mg glucosamine trong mỗi viên.

Trẻ em (dưới 18 tuổi)

Chưa có đủ bằng chứng khoa học để khuyến khích việc sử dụng glucosamine cho trẻ em

Nghiên cứu ở trẻ em cho thấy rằng có thể có một mối liên hệ giữa việc sử dụng MSM (methylsulfonylmethane) và bệnh tự kỷ (autism). Tác dụng có lợi hay có hại thì vẫn chưa được chứng thực. MSM thường bán trên thị trường với glucosamine như một loại thực phẩm chức năng, và tại thời điểm này nên tránh dùng cho trẻ em.

TÍNH AN TOÀN

Cơ Quan Quản Lý Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) không kiểm soát nghiêm ngặt các loại thảo dược và thực phẩm chức năng. Không có sự đảm bảo tính an toàn, tinh khiết và độ mạnh của các sản phẩm, đồng thời các tác dụng có thể thay đổi. Bạn phải luôn đọc kỹ các nhãn ghi trên sản phẩm. Nếu bạn đang bị một chứng bệnh, hoặc đang dùng các loại thuốc (tây dược), thảo dược, hoặc các loại thực phẩm chức năng nào khác, bạn phải trao đổi với chuyên gia chăm sóc y tế (bác sĩ, dược sĩ, y tá) có giấy phép hành nghề trước khi bắt đầu một liệu pháp mới.  Hãy tham khảo ý kiến với chuyên gia chăm sóc y tế (bác sĩ, dược sĩ, y tá) có giấy phép hành nghề ngay nếu bạn gặp phải các tác dụng phụ.

Các Tình Trạng Dị Ứng

Vì glucosamine có thể được làm từ vỏ tôm, cua, và động vật có vỏ sống dưới nước, do đó những người bị dị ứng với các động vật có vỏ sống dưới nước, hoặc nhạy cảm nghiêm trọng với iốt, có thể sẽ bị dị ứng với các sản phẩm glucosamine. Tuy nhiên, một vài nghiên cứu cho thấy rằng không có đủ chất gây dị ứng ở tôm trong các loại thực phẩm chức năng glucosamine để kích hoạt các phản ứng ở những bệnh nhân bị dị ứng với tôm. Tuy nhiên, bạn phải nên hết sức thận trọng. Một phản ứng nhạy cảm nghiêm trọng, bao gồm sưng cổ họng, đã được báo cáo khi sử dụng glucosamine sunfat. Có các trường hợp được báo cáo cho thấy mối liên hệ giữa các sản phẩm glucosemine/chodroitin và tình trạng trở nặng của bệnh hen suyễn.

Các Tác Dụng Phụ và Cảnh Báo

Trong hầu hết các nghiên cứu ở người, glucosamine sunfat đã được dung nạp tốt trong vòng 30 đến 90 ngày.

Các tác dụng phụ có thể bao gồm đau bụng, buồn ngủ, mất ngủ, nhức đầu, các phản ứng ở da, nhạy cảm ánh sáng mặt trời, và móng tay cứng. Có ít báo cáo về tình trạng đau bụng, chán ăn, buồn nôn, ói mửa, đầy hơi (khí), táo bón, ợ chua, và tiêu chảy. Căn cứ vào một số trường hợp ở người, tình trạng gia tăng huyết áp và nhịp tim tạm thời, cũng như loạn nhịp tim, có thể xảy ra khi sử dụng các sản phẩm glucosamine/chondroitin.  Dựa vào nghiên cứu ở động vật, về mặt lý thuyết, glucosamine có thể làm tăng nguy cơ gây ra bệnh đục thủy tinh thể mắt.

Người ta vẫn chưa rõ rằng glucosamine có làm thay đổi lượng đường trong máu không. Có một số các nghiên cứu trên người cho thấy rằng glucosamine được uống bằng miệng không có tác dụng lên lượng đường trong máu, trong khi các nghiên cứu khác báo cáo không thống nhất về các tác dụng lên insulin. Khi glucosamine được tiêm vào, nó có khả năng gây ra tình trạng kháng insulin và rối loạn chức năng lớp nội mạc.  Các nghiên cứu sơ bộ không cho thấy tác dụng lên nồng độ trung bình hemoglobin A1c ở bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường loại 2. Cần nên thận trọng ở những bệnh nhân có bệnh tiểu đường hoặc bị hạ đường huyết, cũng như ở các bệnh nhân đang sử dụng các loại thuốc (tây dược), các loại thảo dược, hoặc các loại thực phẩm chức năng mà có thể ảnh hưởng đến lượng đường trong máu. Lượng đường trong máu có thể cần phải được chuyên gia chăm sóc y tế (bác sĩ, dược sĩ, y tá) theo dõi, và có thể cần phải điều chỉnh lại việc sử dụng thuốc.

Trên lý thuyết, glucosamine có thể làm tăng các nguy cơ xuất huyết. Các bệnh nhân có các rối loạn xuất huyết, hoặc đang sử dụng các loại thuốc mà có thể làm gia tăng nguy cơ xuất huyết, phải nên hết sức cẩn thận. Việc điều chỉnh liều lượng thuốc có thể sẽ cần thiết.

Trong một vài trường hợp ở người, số lượng protein cao bất thường đã được tìm thấy trong nước tiểu của các bệnh nhân sử dụng các sản phẩm glucosamine/chondroitin. Ý nghĩa lâm sàn của trường hợp này vẫn chưa được hiểu rõ. Glucosamine được bài tiết ra khỏi cơ thể chủ yếu là trong nước tiểu, và quá trình loại bỏ glucosamine từ cơ thể bị trì hoãn ở những người bị suy giảm chức năng thận. Viêm thận khe cấp tính (acute interstitial nephritis), một tình trạng bệnh làm cho thận bị sưng lên và có thể làm suy yếu chức năng hoạt động, được báo cáo ở xuất hiện các bệnh nhân dùng glucosamine.  Hàm lượng creatine phosphokinase tăng lên trong máu có thể xảy ra khi sử dụng glucosamine/chondroitin, tình trạng này có thể do một số sản phẩm không được tinh khiết. Trường hợp này có thể thay đổi một vài kết quả xét nghiệm được thực hiện bởi các chuyên gia chăm sóc y tế.

Các dữ liệu ban đầu cho thấy rằng glucosamine có thể điều chỉnh hệ thống miễn dịch, mặc dù tính khả thi về lâm sàn của khả năng này vẫn chưa rõ ràng.

Đã có một bệnh nhân phát triển bệnh viêm gan (viêm gan ứ mật cấp tính - acute cholestatic hepatitis) sau khi sử dụng loại thực phẩm chức năng glucosamine forte.

Mang Thai và Cho Con Bú

Glucosamine không được khuyến khích sử dụng cho các phụ nữ đang mang thai hoặc cho con bú vì thiếu các bằng chứng khoa học hỗ trợ.

CÁC TƯƠNG TÁC THUỐC CÓ THỂ XẢY RA

Nếu bạn đang được điều trị bằng các loại thuốc sau đây, bạn không nên sử dụng glucosamine hoặc không nên thay đổi liều lượng thuốc bạn đang dùng nếu chưa trao đổi với chuyên gia chăm sóc y tế (bác sĩ, dược sĩ, y tá).

Warfarin (Coumadin).  Glucosamine có thể gia tăng tác dụng làm loãng máu của thuốc coumadin, đồng thời có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện các vết bầm tím (chấn thương các lớp mô hoặc xương dưới da) hoặc bị xuất huyết (chảy máu), và các tình trạng này có thể trở nên rất nghiêm trọng.  Hãy trao đổi với bác sĩ của bạn.

Các thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs).  Nếu bạn sử dụng thuốc kháng viêm không steroid để giảm cơn đau do chứng viêm khớp thoái hóa gây ra, thì việc sử dụng glucosamine có thể làm giảm liều lượng thuốc kháng viêm không steroid mà bạn cần phải dùng.  Vì các thuốc kháng viêm này có thể gây ra tình trạng xuất huyết bao tử, do đó giảm bớt liều lượng sử dụng có thể rất có lợi.  Tuy nhiên, hãy trao đổi với bác sĩ của bạn trước khi bắt đầu sử dụng glucosamine, vì có thể phải mất vài tháng trước khi bạn cảm thấy chứng bệnh được cải thiên.

Các loại thuốc hạ đường trong máu hoặc insulin.  Glucosamine có thể làm thay đổi liều lượng cần thiết cho các loại thuốc hạ đường trong máu và insulin.  Nếu bạn sử dụng các loại thuốc này để điều trị bệnh tiểu đường, hãy trao đổi với bác sĩ trước khi sử dụng glucosamine.

Doxorubicin, EtoposideTeniposide.  Glucosamine có thể tương tác đối kháng với các loại thuốc này.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thông tin này được dựa trên một tài liệu chuyên khảo đã được chỉnh sửa và đã được xem xét lại bởi các cộng tác viên của Natural Standard Research Collaboration (www.naturalstandard.com)

CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO ĐƯỢC CHỌN LỌC

Albert SG, Oiknine RF, Parseghian S, et al. The effect of glucosamine on Serum HDL cholesterol and apolipoprotein AI levels in people with diabetes. Diabetes Care 2007 Nov;30(11):2800-3.

Audimoolam VK, Bhandari S. Acute interstitial nephritis induced by glucosamine. Nephrol Dial Transplant 2006 Jul;21(7):2031.

Clegg DO, Reda DJ, Harris CL, et al. Glucosamine, chondroitin sulfate, and the two in combination for painful knee osteoarthritis. N Engl J Med 2006 Feb 23;354(8):795-808.

Dudek A, Raczkiewicz-Papierska A, T?ustochowicz W. [Efficacy of glucosamine sulfate treatment in patients with osteoarthritis] Pol Merkur Lekarski 2007 Mar;22(129):204-7.

Herrero-Beaumont G, Ivorra JA, Del Carmen Trabado M, et al. Glucosamine sulfate in the treatment of knee osteoarthritis symptoms: a randomized, double-blind, placebo-controlled study using acetaminophen as a side comparator. Arthritis Rheum 2007 Feb;56(2):555-67.

Mehta K, Gala J, Bhasale S, et al. Comparison of glucosamine sulfate and a polyherbal supplement for the relief of osteoarthritis of the knee: a randomized controlled trial [ISRCTN25438351]. BMC Complement Altern Med 2007 Oct 31;7:34.

Miller MR, Mathews RS, Reeves KD. Treatment of painful advanced internal lumbar disc derangement with intradiscal injection of hypertonic dextrose. Pain Physician 2006 Apr;9(2):115-21.

Muniyappa R, Karne RJ, Hall G, et al. Oral glucosamine for 6 weeks at standard doses does not cause or worsen insulin resistance or endothelial dysfunction in lean or obese subjects. Diabetes 2006 Nov;55(11):3142-50.

Nakamura H, Masuko K, Yudoh K, et al. Effects of glucosamine administration on patients with rheumatoid arthritis. Rheumatol Int 2007 Jan;27(3):213-8.

Ossendza RA, Grandval P, Chinoune F, et al. [Acute cholestatic hepatitis due to glucosamine forte]. Gastroenterol Clin Biol 2007 Apr;31(4):449-50
Østergaard K, Hviid T, Hyllested-Winge JL. [The effect of glucosamine sulphate on the blood levels of cholesterol or triglycerides--a clinical study]. Ugeskr Laeger 2007 Jan 29;169(5):407-10.

Ostojic SM, Arsic M, Prodanovic S, et al. Glucosamine administration in athletes: effects on recovery of acute knee injury.Res Sports Med 2007 Apr-Jun;15(2):113-24.

Theodosakis J. A randomized, double blind, placebo controlled trial of a topical cream containing glucosamine sulfate, chondroitin sulfate, and camphor for osteoarthritis of the knee. J Rheumatol 2004;31(4):826-827.

Thie NM, Prasad NG, Major PW. Evaluation of glucosamine sulfate compared to ibuprofen for the treatment of temporomandibular joint osteoarthritis: a randomized double blind controlled 3 month clinical trial. J Rheumatol 2001;28(6):1347-1355.

Villacis J, Rice TR, Bucci LR, et al. Do shrimp-allergic individuals tolerate shrimp-derived glucosamine? Clin Exp Allergy 2006 Nov;36(11):1457-61.


Nguồn (Source):