About

Friday, February 27, 2015

BỆNH SUYỄN (ASTHMA) - Do LQT Biên Dịch


CÁC LOẠI THUỐC CÓ TÁC DỤNG DÀI HẠN

Các loại thuốc này được sử dụng thường xuyên để ngăn ngừa các cơn suyễn và kiểm soát các triệu chứng mãn tính.

Các Loại Thuốc Corticosteroid Hít

Các loại thuốc corticosteroid, còn được gọi là glucocorticoid hoặc steroid, là những loại thuốc kháng viêm mạnh.  Các loại thuốc steroid không phải là thuốc giãn phế quản (chúng không làm thư giãn các đường dẫn khí) và có ít tác dụng đối với các triệu chứng.  Thay vào đó, các loại thuốc này có tác dụng dài hạn giảm viêm và ngăn ngừa tổn thương vĩnh viễn ở phổi.  Chúng còn có thể giúp ngăn ngừa các cơn suyễn xảy ra.  Việc sử dụng các loại thuốc corticosteroid ở các bệnh nhân bị suyễn từ vừa đến nghiêm trọng sẽ giảm bớt được tỉ lệ nhập viện và tử vong do bệnh suyễn gây ra.

Sử dụng thuốc corticosteroid bằng ống hít giúp cho thuốc có tác dụng kháng viêm khu vực trong phổi với rất ít tác dụng phụ khắp nơi trong cơ thể.  (Ngược lại, các thuốc steroid uống bằng miệng có nhiều tác dụng phụ khắp nơi trong cơ thể).  Các loại thuốc corticosteroid hít được đề xuất là trị liệu chính cho bất cứ bệnh nhân nào cần đến các loại thuốc kiểm soát dài hạn bệnh suyễn dai dẳng.

Các loại thuốc corticosteroid hít bao gồm:

-      Thế hệ các loại thuốc steroid hít mới nhất bao gồm fluticasone (Flovent), budesonide (Pulmicort), triamcinolone (Azmacort và các thuốc khác), flunisolide (AeroBid), mometasone furoate (Asmanex), và ciclesonide (Alvesco).  Các loại thuốc steroid này thỉnh thoảng được sử dụng phối hợp với một loại thuốc beta2-agonist tác dụng dài hạn trong một ống hít, chẳng hạn như budesonide-formoterol (Symbicort) và fluticosone-salmeterol (Advair).
-      Các loại thuốc corticosteroid thế hệ cũ bao gồm beclomethasone (Beclovent, Vanceril) và dexamethasone (Decadron Phosphate Respihaler và các thuốc khác).

Sự tính toán thời gian tối ưu cho liều lượng thuốc là rất quan trọng, và có thể thay đổi tùy theo loại thuốc.

Các loại thuốc steroid hít thường được xem là an toàn và hiệu quả, và hiếm khi gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng, trừ khi sử dụng các loại thuốc steroid uống bằng miệng trong một thời gian dài:

-      Các tác dụng phụ phổ biến nhất là ngứa cổ, khàn giọng, và khô miệng.  Sử dụng ống chứa (spacer) và xúc miệng sau mỗi trị liệu có thể giảm thiểu hoặc ngăn ngừa các tác dụng phụ này.
-      Phát ban, thở khò khè, sưng mặt (phù), nhiễm nấm ở miệng và cổ họng, bị vết thâm tím cũng có thể xảy ra nhưng không phổ biến khi sử dụng các ống hít.
-      Các loại thuốc corticosteroid hít có liên quan đến nguy cơ cao bị bệnh đục thủy tinh thể (cataract: bệnh cườm mắt) ở các bệnh nhân trên 40 tuổi, đặc biệt khi sử dụng liều lượng cao.  (Không tìm thấy nguy cơ cao hơn ở những người trẻ tuổi hơn).
-      Một số nghiên cứu báo cáo rằng những bệnh nhân sử dụng các loại thuốc steroid hít thường xuyên sẽ có nguy cơ cao bị loãng xương, một tác dụng phụ thường xảy ra khi sử dụng các loại thuốc steroid uống bằng miệng.

Các Loại Thuốc Beta2-Agonist Tác Dụng Dài Hạn

Các loại thuốc beta2-agonist tác dụng dài hạn được sử dụng để ngăn ngừa cơn suyễn (không dùng để điều trị các triệu chứng của cơn suyễn).  Các loại thuốc này có thể sẽ nguy hiểm khi sử dụng riêng, bởi vì chúng có thể ngụy trang các triệu chứng của bệnh suyễn, và chúng có thể làm tăng nguy cơ tử vong do bệnh suyễn trừ khi được phối hợp song song với một loại thuốc steroid hít.  Vào năm 2008, một hội đồng tư vấn của FDA đã bỏ phiếu cấm sử dụng thuốc salmeterol (Serevent) và formoterol (Foradil) để điều trị bệnh suyễn ở trẻ em và người thành niên.  Hội đồng FDA này đã quyết định rằng thuốc salmeterol-fluticasone (Advair) và formoterol-budesonide (Symbicort), hai loại thuốc beta2-agonist tác dụng dài hạn được phối hợp với một loại thuốc steroid trong một ống hít, có thể tiếp tục được sử dụng để điều trị bệnh suyễn từ vừa đến nghiêm trọng.

Các bác sĩ đang cố gắng xác định xem khi nào các loại thuốc beta2-agonist tác dụng dài hạn nên được thêm vào kế hoạch trị liệu cho bệnh suyễn.  Nếu các triệu chứng của bạn không cải thiện hoặc nếu các triệu chứng trở xấu đi khi sử dụng loại thuốc này, thì bác sĩ sẽ yêu cầu ngưng dùng thuốc.  Tuy nhiên, không nên ngưng sử dụng thuốc này hoặc các loại thuốc khác trị bệnh suyễn nếu chưa tham khảo với bác sĩ của bạn.

Thuốc Cromolyn

Cromolyn sodium (Intal) vừa là thuốc kháng viêm vừa có các đặc tính kháng histamine, nó có chức năng chặn các yếu tố gây bệnh suyễn, chẳng hạn như các chất gây dị ứng, khí hậu lạnh hoặc thể dục.  Một loại thuốc cromolyn dạng xịt mũi có tên là NasalCrom đã được chấp thuận là một loại thuốc mua không cần toa bác sĩ, nhưng chỉ được sử dụng để làm thuyên giảm tình trạng sung huyết mũi (nghẹt mũi) do dị ứng.  Bệnh nhân không nên sử dụng thuốc này để tự chữa bệnh, phải luôn tham khảo với bác sĩ khi sử dụng loại thuốc này.

Các Ứng Viên.  Thuốc cromolyn là một chọn lựa trị liệu cho bệnh suyễn do thể dục (exercise-induced asthma - EIA) ở mọi lứa tuổi, cho phụ nữ mang thai, và có thể để ngăn ngừa bệnh suyễn do dị ứng ở người thành niên cũng như ở trẻ em.  Cromolyn có thể được sử dụng thay thế cho các loại thuốc corticosteroid hít, các loại thuốc corticosteroid hít được xem là chọn lựa ưu tiên để kiểm soát dài hạn bệnh suyễn dai dẳng.

Các Tác Dụng Phụ.  Các tác dụng phụ của thuốc cromolyn bao gồm tình trạng sung huyết mũi (nghẹt mũi), ho, hắt hơi, thở khò khè, buồn nôn, chảy máu mũi, và khô cổ họng.

Các Loại Thuốc Ức Chế Leukotriene

Các loại thuốc ức chế leukotriene (còn được gọi là anti-leukotrienes hoặc leukotriene modifiers) là các loại thuốc ngăn chặn các phân tử leukotriene.  Leukotriene là các yếu tố miễn dịch mạnh, nếu với số lượng nhiều, sẽ sản sinh một số các chất hóa học gây hủy hoại mà chúng có thể gây viêm và vọp bẻ ở đường dẫn khí của những người có bệnh suyễn.  Giống như các loại thuốc kháng viêm khác, các loại thuốc ức chế leukotriene được sử dụng để ngăn ngừa, chứ không dùng để điều trị các cơn suyễn cấp tính.

Các loại thuốc ức chế leukotriene bao gồm montelukast (Singulair), zafirlukast (Accolate) và zileuton (Zyflo).  Các loại thuốc này được xem là một chọn lựa cho việc kiểm soát bệnh suyễn dài hạn, nhưng các loại thuốc corticosteroid hít nên được sử dụng trước tiên.  Những công dụng tiềm tàng khác bao gồm việc ngăn ngừa bệnh suyễn do thể dục gây ra.

Các Tác Dụng Phụ và Các Biến Chứng.  Khó chịu đường ruột là một tác dụng phụ rất phổ biến của các loại thuốc ức chế leukotriene.  Các lo ngại khác là những dấu hiệu về tổn thương gan ở các bệnh nhân khi sử dụng thuốc zafirlukast với liều lượng cao hơn liều lượng tiêu chuẩn.  Cho đến nay, chưa có báo cáo về các tác dụng gây hại cho gan khi sử dụng thuốc montelukast.

Cơ quan FDA đang đánh giá các báo cáo về khuynh hướng tự tử có liên quan đến các loại thuốc này.  Các bệnh nhân sử dụng thuốc ức chế leukotriene nên được theo dõi để tìm ra các thay đổi về hành vi và trạng thái.

Thuốc Theophylline

Thuốc Theophylline.  Thuốc theophylline (Theo-Dur, Theolair, Slo-Phyllin, Slo-bid, Constant-T, và Respbid) có tác dụng làm thư giãn các cơ xung quanh các tiểu phế quản (bronchiole) và còn có tác dụng kích thích hô hấp.  Việc sử dụng các loại thuốc corticosteroid hít và các loại thuốc beta2-agonist tác dụng dài hạn đã làm giảm đáng kể nhu cầu sử dụng thuốc theophylline ở đa số các bệnh nhân bị suyễn.  Thuốc này có thể có lợi cho việc điều trị bệnh suyễn ban đêm.  Được sản xuất dưới dạng viên nén, dạng chất lỏng, và dạng tiêm, một số viên nén và viên nang theophylline có tác dụng dài hạn, do đó có thể được uống 1 hoặc 2 lần mỗi ngày với các kết quả khả quan. 

Nếu thuốc theophylline không được sử dụng đúng như chỉ định, thì có thể sẽ xảy ra tình trạng uống quá liều.  Đặc tính độc hại có thể gây buồn nôn, nôn mửa, đau đầu, mất ngủ, và trong các trường hợp hiếm, có thể gây ra các rối loạn về nhịp tim cũng như chứng co giật cơ.  Hãy liên lạc với bác sĩ ngay nếu một trong số các tác dụng phụ này xảy ra.

Nguy cơ bị các tác dụng gây hại này khá thấp nếu loại thuốc này được sử dụng đúng như chỉ định, nhưng các bệnh nhân nên lưu ý các vấn đề sau:

-      Những người hút thuốc lâu năm có khả năng chuyển hóa thuốc theophylline khá nhanh và cần liều lượng thuốc này cao hơn những người không hút thuốc; loại thuốc theophylline tác dụng dài hạn rất có lợi cho những người hút thuốc lá.
-      Tiêu thụ quá nhiều chất caffeine có thể làm tăng nồng độ của loại thuốc này và làm tăng thời gian thuốc lưu lại trong cơ thể.
-      Thuốc theophylline cũng tương tác với nhiều loại thuốc khác được dùng cho các chứng bệnh thông thường khác, bao gồm bệnh suyễn.  Nên cẩn thận khi sử dụng các loại thuốc beta2-agonist phối hợp với thuốc theophylline.
-      Những người bị loét bao tử không nên sử dụng thuốc theophylline.  Những người cao tuổi và những người bị bệnh tim, bệnh gan, cao máu, bị các rối loạn tai biến ngập máu (seizure), hoặc bị suy tim nên cẩn thận khi sử dụng thuốc theophylline.  Những người bị các vấn đề về tim đồng thời sử dụng thuốc theophylline uống bằng miệng sẽ có nhiều nguy cơ bị đột tử do các vấn đề có liên quan đến tim gây ra.

Thuốc Omalizumab

Omalizumab (Xolair) được cơ quan FDA chấp thuận để điều trị cho các bệnh nhân từ 12 tuổi trở lên mắc bệnh suyễn dai dẳng từ vừa đến nghiêm trọng có liên quan đến dị ứng.  Sự hiện diện của các chứng dị ứng thường phải được chứng minh bằng hàm lượng của một số kháng thể immunoglobulin E (IgE) gia tăng trong máu.  Thuốc đầu tiên thuộc loại này được chấp thuận sử dụng điều trị cho bệnh suyễn là omalizumab, một kháng thể gen đơn (monoclonal antibody – Mab), đây là một loại thuốc được bào chế theo công nghệ cải biến gen để tấn công các mục tiêu rất chuyên biệt.  Omalizumab được tiêm cứ mỗi 2 – 4 tuần.  Thuốc này chỉ được sử dụng để điều trị cho các bệnh nhân bị bệnh suyễn dai dẳng từ vừa đến nghiêm trọng liên quan đến dị ứng, mà có các triệu chứng không thể kiểm soát được bằng các loại thuốc corticosteroid hít.

Thuốc omalizumab ngăn ngừa kháng thể IgE gây ra các tình trạng viêm mà sẽ dẫn đến các cơn suyễn.  Các nghiên cứu đã chứng minh cho thấy các loại ích tối ưu của loại thuốc này, bao gồm việc giảm bớt nhu cầu sử dụng các loại thuốc corticosteroid, ít có trường hợp nhập viện hơn, và các triệu chứng được cải thiện đáng kể.

Tuy nhiên, khoảng 1 trong số 1000 bệnh nhân sử dụng thuốc omalizumab sẽ phát triển tính quá mẫn cảm (một phản ứng dị ứng gây tử vong).  Các bệnh nhân có thể phát triển tính quá mẫn cảm sau khi sử dụng thuốc omalizumab, cho dù họ không có phản ứng với liều lượng đầu tiên.  Tính quá mẫn cảm có thể xảy ra lên đến 24 giờ sau khi sử dụng liều lượng thuốc này.

Thuốc omalizumab phải luôn được tiêm trong phòng khám bác sĩ và bác sĩ nên theo dõi bệnh nhân ít nhất 2 giờ sau khi được tiêm thuốc.  Bệnh nhân cũng nên mang theo các dụng cụ tự điều trị cho tính quá mẫn cảm (chẳng hạn như dụng cụ tiêm Epi-Pen) và biết cách dùng dụng cụ này.  Với dụng cụ tiêm Epi-Pen, hoặc các dụng cụ tự tiêm tương tự, bệnh nhân có thể nhanh chóng tự tiêm một liều epinephrine để giữ tính mạng.

Các triệu chứng của tính quá mẫn cảm bao gồm:

-      Khó thở
-      Bị thắt ngực
-      Chóng mặt
-      Ngất xỉu
-      Ngứa và nổi mày đay
-      Sưng miệng và sưng cổ họng