About

Friday, February 27, 2015

BỆNH SUYỄN (ASTHMA) - Do LQT Biên Dịch


CÁC LOẠI THUỐC TÁC DỤNG NHANH

Các loại thuốc này kiểm soát một cách nhanh chóng các cơn suyễn cấp tính.

Các Loại Thuốc Beta2-Agonist Tác Dụng Nhanh

Các loại thuốc beta2-agonist không có tác dụng giảm viêm hoặc giảm tình trạng thu hẹp đường hô hấp, nhưng chúng có tác dụng giãn phế quản, giúp thư giãn và mở rộng các đường dẫn khí bị thu hẹp trong thời gian cơn suyễn cấp tính xảy ra.  Các loại thuốc này được sử dụng riêng (không kết hợp với các loại thuốc khác) cho các bệnh nhân bị bệnh suyễn nhẹ và từng cơn.  Các bệnh nhân có các trường hợp nghiêm trọng hơn nên sử dụng kết hợp với các loại thuốc khác.


Trachea: Khí quản
Lung: Phổi
Asthmatic bronchiole: Tiểu phế quản của người mắc bệnh suyễn
Normal bronchiole: Tiểu phế quản bình thường

Suyễn là một chứng bệnh trong đó tình trạng viêm các đường dẫn khí làm cho lưu lượng khí ra vào phổi bị hạn chế.  Khi cơn suyễn xảy ra, cơ thể sản sinh thêm nhiều đờm, các cơ ở cuống phổi bị thắt chặt lại, và niêm mạc của các đường dẫn khí bị sưng, làm giảm đi lưu lượng khí đồng thời tạo ra âm thanh khò khè đặc thù.


Các loại thuốc beta2-agonist đặc trị, tác dụng nhanh bao gồm:

-      Albuterol (Proventil, Ventolin), có tên gọi ở các nước khác (ngoài Hoa Kỳ) là salbutamol, là một loại thuốc beta2-agonist tác dụng nhanh tiêu chuẩn ở Hoa Kỳ.  Các loại thuốc beta2-agonist tương tự khác là isoproterenol (Isuprel, Norisodrine, và Medihaler-Iso), metaproterenol (Alupent, Metaprel), pirbuterol (Maxair), terbutaline (Brethine, Brethaire, và Bricanyl), và bitolterol (Tornalate).
-      Các loại thuốc beta2-agonist mới hơn, bao gồm levalbuterol (Xopenex), có nhiều tác dụng đặc trị hơn các loại thuốc tiêu chuẩn.  Các nghiên cứu đã cho thấy rằng, levalbuterol có hiệu quả tương tự như thuốc albuterol, nhưng có ít tác dụng phụ hơn.

Các loại thuốc giãn phế quản tác dụng nhanh thường được sử dụng dưới dạng hít và có hiệu lực trong vòng 3 – 6 giờ.  Chúng giúp thuyên giảm các triệu chứng của các cơn suyễn cấp tính, nhưng chúng không kiểm soát được tình trạng viêm tiềm ẩn quan trọng.  Nếu bệnh suyễn tiếp tục trở xấu khi sử dụng các loại thuốc này, bệnh nhân nên trao đổi với bác sĩ về các loại thuốc corticosteroid hoặc các loại thuốc khác để điều trị tình trạng viêm tiềm ẩn.

Các Tác Dụng Phụ của Các Loại Thuốc Beta2-agonist.  Các tác dụng phụ của tất cả các loại thuốc beta2-agonist bao gồm:

-      Lo lắng
-      Run (tay, chân, cơ thể)
-      Bồn chồn
-      Đau đầu
-      Nhịp tim đập nhanh và không đều.  Thông báo ngay cho bác sĩ nếu tác dụng phụ này xảy ra, đặc biệt ở những người đang có các chứng bệnh tim.  Các bệnh nhân này phải đối phó với nguy cơ gia tăng bị đột tử do các vấn đề về tim.

Các loại thuốc beta2-agonist tương tác mạnh với một số loại thuốc khác, chắng hạn như thuốc chặn beta (beta-blocker), do đó bệnh nhân nên thông báo cho bác sĩ biết bất cứ loại thuốc nào đang sử dụng.  Các cá nhân có bệnh tiểu đường, bệnh tim, cao huyết áp, tăng năng tuyến giáp (hyperthyroidism), sưng tuyến tiền liệt, hoặc có tiền sử bị tai biến ngập máu (seizure) nên sử dụng các loại thuốc này cẩn thận.

Mất Hiệu Lực và Quá Liều.  Đã có một số lo ngại cho rằng các loại thuốc beta2-agonist tác dụng nhanh sẽ trở nên kém hiệu lực khi sử dụng thường xuyên trong một thời gian dài, làm tăng nguy cơ lạm dụng thuốc.  Theo thời gian, một số bệnh nhân có thể phát triển tình trạng lờn thuốc beta2-agonist tác dụng nhanh.  Mức độ ảnh hưởng đến các đường dẫn khí vẫn chưa rõ.

Các bệnh nhân, nếu nhận thấy các loại thuốc beta2-agonist kém hiệu quả, có thể đã lạm dụng thuốc.  Sử dụng thuốc quá liều có thể rất nghiêm trọng, và trong một số trường hợp hiếm, thậm chí có thể gây tử vong, đặc biệt ở các bệnh nhân có bệnh tim.

Các Loại Thuốc Chặn Acetylcholine

Hai loại thuốc hít, ipratropium bromide (Atrovent) và tiotropium (Spiriva) có tác dụng như thuốc giãn phế quản theo thời gian.  Cả hai loại thuốc đều không có lợi cho các cơn suyễn cấp tính.  Ngoài ra, các loại thuốc này không được chấp thuận sử dụng như thuốc đặc trị cho bệnh suyễn.  Tuy nhiên, chúng cũng có một số lợi ích:

-      Các loại thuốc này có thể có lợi cho một số bệnh nhân cao tuổi bị suyễn đồng thời bị khí thũng (emphysema) và viêm phế quản (bronchitis) mãn tính.
-      Kết hợp hai loại thuốc này với một loại beta-agonist có thể có lợi cho bệnh nhân ban đầu không có hiệu quả đối với phương pháp trị liệu riêng bằng thuốc beta2-agonist.

Các Loại Thuốc Corticosteroid Hệ Thống

Các loại corticosteroid uống bằng miệng phổ biến bao gồm prednisone, prednisolone, methylprednisolone, và hydrocortisone.  Các loại thuốc này rất hiệu quả trong tác dụng giảm viêm.  Chúng thường được sử dụng cho các cơn suyễn đột phát mà bệnh nhân không có phản ứng đối với các loại thuốc hít.  Trong một số trường hợp nghiêm trọng, chúng có thể được sử dụng như liệu pháp giúp ổn định bệnh.  Thông thường, bác sĩ sẽ cho sử dụng liều lượng cao, sau đó giảm dần trong vòng 5 – 7 ngày.

Các tác dụng phụ khi sử dụng dài hạn các loại thuốc corticosteroid uống bằng miệng bao gồm bệnh đục thủy tinh thể (cataract: cườm mắt), bệnh tăng nhãn áp (glaucoma), loãng xương (osteoporosis), bệnh tiểu đường (bệnh đái tháo đường), ứ nước (fluid retention), dễ nhiễm trùng, tăng cân, cao máu, giòn mao mạch, viêm nang lông (acne), lông tóc mọc nhiều, bại cơ (wasting of the muscles), kinh nguyệt không đều (menstrual irregularity), khó chịu, mất ngủ, chứng loạn tinh thần (psychosis).  Loãng xương là một tác dụng phụ phổ biến, nghiêm trọng và kéo dài khi sử dụng quá lâu các loại thuốc corticosteroid.


Normal bone: Xương bình thường
Osteoporotic bone: Xương của người bị chứng loãng xương

Loãng xương là một chứng bệnh đặc thù bởi tình trạng mất dần mật độ xương, làm mỏng các mô xương, và dễ bị nứt (gãy) xương.  Loãng xương có thể do bệnh tật, thiếu dinh dưỡng hoặc kích thích tố, và cao tuổi gây ra.  Tập thể dục thường xuyên và sử dụng vitamin cũng như các thực phẩm chức năng về khoáng chất có thể giảm bớt và thậm chí đảo ngược quá trình loãng xương.


Sử dụng dài hạn các loại thuốc corticosteroid uống bằng miệng có tác dụng ức chế sự tiết ra các kích thích tố steroid tự nhiên của các tuyến thượng thận.  Sau khi ngưng sử dụng các loại thuốc này, được gọi là ức chế thượng thận kéo dài, và có thể phải mất một thời gian (thỉnh thoảng lên đến 1 năm) để cơ thể có lại được khả năng sản sinh các steroid tự nhiên trở lại.  Đã có một số ít trường hợp bị thiếu hụt steroid (do tuyến thượng thận sản sinh) nghiêm trọng, xảy ra khi bệnh nhân chuyển từ thuốc corticosteroid uống bằng miệng sang dạng hít, mà trong các trường hợp hiếm, có thể gây tử vong.

Bệnh nhân không nên ngưng sử dụng các loại thuốc corticosteroid nếu chưa tư vấn với bác sĩ.  Nếu bác sĩ yêu cầu ngưng sử dụng thuốc corticosteroid, bệnh nhân cần phải được theo dõi thường xuyên.  Bệnh nhân nên trao đổi với bác sĩ về các phương pháp ngăn ngừa tình trạng thiếu hụt steroid tự nhiên trong thời gian ngưng sử dụng thuốc, đặc biệt trong những thời gian căng thẳng, là lúc nguy cơ tăng cao.