About

Friday, February 27, 2015

CHỨNG ĐAU THẦN KINH TỌA (SCIATICA) - Do LQT Biên Dịch


CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

Trong đa số các trường hợp được biết đến, cơn đau nhức bắt đầu bằng một sự thương tổn, thường là sau khi nâng một vật nặng, hoặc là sau khi chuyển động một cách đột ngột.  Tuy nhiên, không phải mọi người đều bị đau lưng sau khi bị thương tổn như thế.  Trong phần lớn các trường hợp bị đau lưng, các nguyên nhân gây ra cơn đau thường khó nhận biết.

Tuổi tác

Các đĩa đệm bắt đầu bị thoái hóa và trở nên mỏng hơn vào tuổi 30.  Một phần ba số người trưởng thành trên 20 tuổi cho thấy các dấu hiệu bị thoát vị đĩa đệm (mặc dù chỉ có 3% số đĩa đệm này gây ra các triệu chứng).  Khi con người càng có tuổi và các đĩa đệm bị khô dần và co lại, thì nguy cơ bị chứng hẹp cột sống càng gia tăng.  Tỉ lệ bị đau vùng thắt lưng và đau thần kinh tọa gia tăng ở phụ nữ vào thời kỳ mãn kinh do bị loãng xương.  Ở những người lớn tuổi, chứng loãng xương và viêm xương khớp (osteoarthritis) cũng khá phổ biến.  Tuy nhiên, nguy cơ bị đau vùng thắt lưng không luôn luôn đi kèm với tuổi tác, điều này cho thấy rằng ở một thời điểm nào đó, các chứng bệnh gây đau vùng thắt lưng trở nên bão hòa.

Các Ngành Nghề Có Nguy Cơ Cao

Các công việc bao gồm nâng, khom lưng, và xoay ở những tư thế không bình thường, cũng như các công việc gây ra trạng thái rung toàn thân (như lái xe tải đường dài), sẽ làm cho những người làm các công việc này gặp những nguy cơ đặc biệt mắc phải chứng đau vùng thắt lưng.  Nếu một người làm công việc này càng lâu, thì nguy cơ càng gia tăng.  Một số công nhân đeo đai lưng bảo vệ, nhưng có chứng cứ rõ ràng cho thấy rằng các đai lưng bảo vệ này chỉ có hiệu quả đối với những người hiện đang bị đau vùng thắt lưng.  Các đai lưng này không chịu được nhiều sức nặng dồn lên lưng và không giúp ngăn cản được những thương tổn về lưng.

Một số công ty đang phát triển các chương trình bảo vệ chống lại những thương tổn về lưng.  Tuy nhiên, các nghiên cứu không thống nhất về kết quả của các biện pháp can thiệp của các công ty.  Các chủ công ty và các công nhân nên cố gắng tạo ra môi trường làm việc an toàn.  Những nhân viên văn phòng nên dùng các loại ghế, bàn, và các thiết bị chịu sức nặng cho lưng hoặc giúp duy trì tư thế đúng quy cách.

Đau vùng thắt lưng là nguyên nhân gây ra các tổn thất nghiêm trọng về chi phí trả cho những ngày nghỉ bệnh.  Theo Cục Thống Kê Lao Động Hoa Kỳ (Bureau of Labor Statistics), đau lưng chịu trách nhiệm cho khoảng 60% các trường hợp nghỉ bệnh do cơn đau từ phần thắt lưng trở lên.  Một nghiên cứu năm 2004 đã phân tích các chi tiêu về chăm sóc sức khỏe ở Hoa Kỳ.  Sự phân tích này đã tìm thấy rằng phí tổn cho chứng đau lưng vượt quá 90 tỉ mỹ kim, trong đó 26 tỉ mỹ kim được chi tiêu trực tiếp cho việc điều trị chứng đau lưng.


Normal bone: Xương bình thường
Osteoporotic bone: Xương bị loãng

Chứng loãng xương là một chứng bệnh đặc trưng bởi mật độ xương bị giảm đáng kể, mô xương bị mỏng đi, rất dễ bị nứt (gãy) xương.  Chứng loãng xương có thể là hậu quả của một chứng bệnh, do thiếu dinh dưỡng trong bữa ăn hoặc thiếu hooc môn, hoặc do cao tuổi.  Tập thể dục thường xuyên, sử dụng vitamin và các thực phẩm chức năng có chứa khoáng chất có thể giúp giảm bớt hoặc đảo ngược quá trình loãng xương.


Các Chứng Bệnh ở Trẻ Em

Chứng đau thắt lưng dai dẳng ở trẻ em có nhiều khả năng do một nguyên nhân nghiêm trọng (mà cần được điều trị) gây ra hơn là chứng đau lưng ở những người trưởng thành.

Các vết nứt nhỏ do áp lực (thoái hóa đốt sống) ở cột sống là nguyên nhân phổ biến của chứng đau lưng ở các vận động viên trẻ.  Thỉnh thoảng một vết nứt (gãy) có thể không xuất hiện trong vòng 1 hoặc 2 tuần sau khi bị tổn thương.  Thoái hóa đốt sống có thể gây ra bệnh trượt đốt sống ra trước (spondylolisthesis), là một tình trạng trong đó cột sống trở nên không ổn định và các đốt sống bị trượt khỏi nhau.

Tật tăng ưỡn cột sống (hyperlordosis) là một tình trạng ưỡn vào trong bẩm sinh nghiêm trọng ở phần thắt lưng.  Chứng vẹo cột sống (scoliosis), là tình trạng bị uốn cong bất thường của cột sống ở trẻ em, thường không gây ra đau lưng.

Bệnh khớp mãn tính ở trẻ vị thành niên (juvenile chronic arthropathy) là một dạng do di truyền của viêm khớp.  Nó có thể gây đau ở xương cùng và các khớp hông ở trẻ em và những người trẻ tuổi.  Chứng bệnh này từng được đưa vào nhóm bệnh viêm khớp dạng thấp ở trẻ vị thành niên (juvenile rheumatoid arthritis), nhưng bây giờ đã được tách ra.

Các chấn thương cũng có thể gây ra tình trạng đau lưng ở trẻ em.

Mang Thai         

Các phụ nữ mang thai có khuynh hướng bị đau lưng do sự thay đổi vị trí của các cơ quan ở bụng, sự tái phân bố về phía trước của trọng lượng cơ thể, và sự nới lỏng của các dây chằng ở vùng khung chậu khi cơ thể chuẩn bị cho việc sinh đẻ.  Các phụ nữ có vóc dáng cao lớn có nhiều nguy cơ bị đau lưng hơn những phụ nữ có vóc dáng thấp.

Các Yếu Tố Tâm Lý và Xã Hội

Các yếu tố tâm lý được biết là đóng một vai trò khá quan trọng trong 3 giai đoạn của cơn đau vùng thắt lưng:

-      Một số chứng cứ cho thấy chứng trầm cảm từng tồn tại và thiếu khả năng đối phó có thể có nhiều khả năng dự đoán sự khởi phát của cơn đau hơn là những vấn đề về thể chất.  Một kiểu đối phó mang tính “bị động” (không muốn đối diện với các vấn đề) có liên quan mật thiết với nguy cơ phát triển tình trạng vùng cổ bị mất khả năng hoạt động hoặc bị đau vùng thắt lưng.
-      Các yếu tố xã hội và tâm lý, cũng như sự thỏa mãn trong công việc, tất cả đều đóng một vai trò quan trọng về mức độ nghiêm trọng trong cảm nhận của mỗi người về đau lưng.  Ví dụ, có một nghiên cứu đã so sánh các tài xế xe tải và các tài xế xe buýt.   Hầu như tất cả các tài xế xe tải đều hài lòng với công việc của họ.  Một nửa trong số họ báo cáo là bị đau lưng nhưng chỉ có 24% số tài xế xin nghỉ bệnh.  Ngược lại, các tài xế xe buýt báo cáo tỉ lệ thỏa mãn với công việc thấp hơn nhiều so với các tài xế xe tải, và các tài xế xe buýt bị đau lưng có tỉ lệ nghỉ bệnh cao hơn nhiều so với các tài xế xe tải mặc dù các tài xế xe buýt ít bị áp lực ở lưng hơn.  Tương tự, một nghiên cứu khác đã tìm thấy rằng các phi công, là những người thường báo cáo là “yêu thích công việc của họ”, đã báo cáo là rất ít bị các vấn đề về lưng hơn các nhân viên khác trong phi hành đoàn của họ.  Và thêm một nghiên cứu nữa báo cáo rằng chức vị thấp, ít quan hệ xã hội, và áp lực lớn ở những người lính đều có liên quan đến nguy cơ cao bị đau lưng mất khả năng hoạt động.
-      Trầm cảm và khuynh hướng bộc lộ cơn đau thể chất để phản ứng lại stress cũng làm tăng cao khả năng đau lưng cấp tính trở nên một chứng bệnh mãn tính.  Sự cảm nhận và cách đối phó của bệnh nhân với cơn đau nhức vào lúc cơn bộc phát cấp tính bắt đầu có thể thực sự tạo điều kiện cho bệnh nhân hồi phục hoặc là sẽ phát triển thành tình trạng mãn tính.  Các cá nhân có phản ứng quá mức đối với cơn đau và lo sợ kết quả lâu dài sẽ có khuynh hướng cảm thấy mất kiểm soát và trở nên mất tự tin, như vậy sẽ làm tăng nguy cơ bị các rối loạn mãn tính.

Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng các bệnh nhân bị trầm cảm kéo dài sẽ có kết quả không mấy khả quan sau các cuộc giải phẫu lưng.  Cần hết sức lưu ý rằng sự hiện diện của các yếu tố tâm lý không thể làm giảm được sự tồn tại của cơn đau và các tác động làm tê liệt chức năng hoạt động do cơn đau gây ra.  Tuy nhiên, nhận thức được sự tồn tại này như một vai trò quan trọng trong nhiều trường hợp bị đau vùng thắt lưng có thể giúp xác định được toàn bộ các chọn lựa trong việc điều trị.