About

Friday, February 27, 2015

ĐỘT QUỴ - TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO (STROKE) - Do LQT Biên Dịch


NGĂN NGỪA

Các bệnh nhân đã từng bị cơn đột quỵ hoặc cơn thiếu máu cục bộ đầu tiên sẽ có nhiều nguy cơ bị thêm một cơn đột quỵ nữa.  Các biện pháp ngăn ngừa cơn đột quỵ tiếp theo sẽ rất cần thiết để giảm bớt nguy cơ này.

Thay Đổi Lối Sống

Bỏ Hút Thuốc Lá.  Hút thuốc lá là một nguy cơ nghiêm trọng gây đột quỵ.  Bệnh nhân cũng nên tránh tiếp xúc với khói thuốc lá do người khác hút thuốc.

Ăn Uống Lành Mạnh.  Bệnh nhân nên có chế độ ăn uống dồi dào các loại trái cây (hoa quả) và rau quả, giàu chất kali, và có hàm lượng các chất béo bão hòa thấp.  Hãy hạn chế tiêu thụ muối ăn (dưới 2300 mg/ngày).  Các bệnh nhân cao tuổi và tuổi trung niên có tình trạng huyết áp cao nên hạn chế tiêu thụ muối ăn (không quá 1500 mg/ngày).  Đối với các kế hoạch ăn uống, chế độ ăn uống Địa Trung Hải hoặc Các Biện Pháp Ăn Uống Để Ngăn Chặn Tình Trạng Cao Huyết Áp (Dietary Approaches toStop Hypertension - DASH) có thể là các chọn lựa rất hữu hiệu để giảm bớt nguy cơ bị đột quỵ.

Thể Dục.  Thể dục giúp giảm bớt nguy cơ bị xơ vữa động mạch, do đó có thể giúp giảm bớt nguy cơ bị đột quỵ.  Các bác sĩ đề xuất ít nhất 30 phút tập dục mỗi ngày trong tuần (nếu có thể).

Duy Trì Cân Nặng Lành Mạnh.  Các bệnh nhân quá cân nên cố gắng giảm cân thông qua chế độ ăn uống lành mạnh và tập thể dục đều đặn.

Hạn Chế Tiêu Thụ Bia Rượu.  Uống bia rượu quá nhiều sẽ làm tăng nguy cơ bị cả hai loại đột quỵ do thiếu máu cục bộ tạm thời và đột quỵ do thiếu máu.  Nếu có uống, bạn hãy hạn chế không nên uống quá 1 ly mỗi ngày đối với phụ nữ, và không quá 2 ly mỗi ngày đối với nam giới.

Các Loại Thuốc Hủy Tiểu Huyết Cầu và Kháng Đông Để Ngăn Ngừa Đột Quỵ

Bác sĩ của bạn có thể đề xuất sử dụng thuốc aspirin hoặc một loại thuốc khác có tên clopidogrel (Plavix) để giúp ngăn ngừa huyết khối hình thành trong các động mạch hoặc ở tim.  Các loại thuốc này được gọi là thuốc hủy tiểu huyết cầu (antiplatelet drug).  Các loại thuốc này làm cho các tiểu huyết cầu ít bị kết dính, do đó ít có khả năng hình thành huyết khối.  Bạn không bao giờ nên uống thuốc aspirin nếu chưa tham khảo với bác sĩ.

Phương Pháp Ngăn Ngừa Đầu Tiên (phòng tránh cơn đột quỵ đầu tiên).  Khi các loại thuốc này được sử dụng trước khi cơn đột quỵ hoặc cơn thiếu máu cục bộ tạm thời xảy ra, thì trường hợp này được gọi là phương pháp ngăn ngừa đầu tiên (primary prevention).  Trước khi quyết định có nên cho bệnh nhân sử dụng thuốc aspirin hoặc cloridogrel để ngăn ngừa các cơn đột quỵ do tình trạng tắc nghẽn động mạch (ischemic stroke) gây ra không, bác sĩ phải cân nhắc xem bạn có bị gia tăng nguy cơ gặp các cơn đột quỵ do tình trạng xuất huyết não (hemorrhagic stroke) gây ra không, cũng như bị xuất huyết ở các khu vực khác trên cơ thể.

-      Đối với nam giới và phụ nữ ở bất cứ độ tuổi nào cảm thấy có ít nguy cơ bị đột quỵ, không có chứng cứ cho thấy sử dụng thuốc aspirin sẽ giúp ngăn ngừa được cơn đột quỵ.
-      Phụ nữ ở độ tuổi 55 – 79 nên sử dụng thuốc aspirin mỗi ngày nếu họ có nguy cơ bị đột quỵ hoặc bị nhồi máu cơ tim.  Một số yếu tố nguy cơ này là cao huyết áp, béo phì, hút thuốc lá, có tiền sử bị bệnh tim mạch, chứng rung tâm nhĩ, và chứng phình cơ tâm thất trái (left ventricular hypertrophy – LVH).
-      Phụ nữ dưới 55 tuổi không nên sử dụng aspirin để ngăn ngừa cơn đột quỵ đầu tiên.
-      Nam giới có độ tuổi từ 45 – 79 nên sử dụng thuốc aspirin nếu họ có nhiều nguy cơ bị nhồi máu cơ tim.  Tuy nhiên, nam giới không được khuyến khích sử dụng aspirin để ngăn ngừa đột quỵ.  Một số các yếu tố nguy cơ gây ra bệnh tim mạch vành và nhồi máu cơ tim là cao huyết áp, bệnh tiểu đường (đái tháo đường), hút thuốc lá, có tiền sử bị bệnh tim mạch, chứng rung tâm nhĩ, và chứng phình cơ tâm thất trái.
-      Nam giới dưới 45 tuổi không nên sử dụng aspirin để ngăn ngừa cơn đột quỵ đầu tiên.
-      Đối với phụ nữ và nam giới từ 80 tuổi trở lên, các bác sĩ vẫn chưa rõ các lợi ích ngăn ngừa đột quỵ của aspirin có vượt trội các nguy cơ xuất huyết đường tiêu hóa hoặc não không.

Ngăn Ngừa Cơn Đột Quỵ Tiếp Theo (ngăn ngừa cơn đột quỵ kế tiếp sau một cơn đã xảy ra).  Sau một cơn đột quỵ do thiếu máu cục bộ hoặc cơn thiếu máu cục bộ tạm thời, thì việc sử dụng riêng thuốc aspirin hoặc kết hợp aspirin và thuốc kháng đông dipyridamole (Persantine, hoặc Aggrenox khi kết hợp thành một viên với thuốc aspirin) một ngày 2 lần sẽ được khuyến khích để ngăn ngừa một cơn đột quỵ tiếp theo.  Clopidogrel có thể được sử dụng thay thế cho aspirin ở các bệnh nhân có tình trạng thu hẹp động mạch vành hoặc được gắn ống stent.  Kết hợp aspirin và clopidogrel không tạo ra thêm lợi ích nhưng sẽ làm tăng nguy cơ bị xuất huyết.

Các Loại Thuốc Kháng ĐôngWarfarin (Coumadin) là loại thuốc kháng đông (“thuốc làm loãng máu”) chính được dùng để ngăn ngừa các cơn đột quỵ ở các bệnh nhân có nguy cơ cao với chứng rung tâm nhĩ (atrial fibrillation).  Thuốc warfarin tạo ra nguy cơ xuất huyết, nhưng đối với đa số bệnh nhân, các lợi ích của thuốc này vượt trội các nguy cơ nó gây ra.  Nguy cơ bị xuất huyết đạt mức cao nhất khi mới bắt đầu trị liệu bằng warfarin, với liều lượng cao, và thời gian trị liệu dài hạn.  Các bệnh nhân có nguy cơ bị xuất huyết thường là những người cao tuổi và có bệnh sử bị xuất huyết bao tử và cao huyết áp.  Điều quan trọng là các bệnh nhân sử dụng thuốc warfarin phải được kiểm tra máu thường xuyên để đảm bảo rằng máu không “quá loãng”.  Máu quá loãng sẽ làm tăng nguy cơ xuất huyết.  Trong khi đó, máu “quá đặc” sẽ làm tăng nguy cơ hình thành huyết khối và đột quỵ.  Thời gian prothrombin (Prothrombin time: thời gian cần thiết cho mẫu prothrombin gây ra tình trạng máu đóng cục trong các điều kiện được tiêu chuẩn hóa) và các xét nghiệm tỉ lệ tiêu chuẩn hóa quốc tế (international normalized ratio test) được sử dụng để theo dõi tình trạng đông máu.

Những người với chứng rung tâm nhĩ (thường được xem là ứng viên cho phương pháp trị liệu bằng warfarin) thường có một hoặc nhiều trong số các đặc điểm sau đây:

-      Bệnh sử bị huyết khối ở phổi, đột quỵ, hoặc cơn thiếu máu cục bộ tạm thời
-      Bị huyết khối ở một trong các ngăn tim
-      Bệnh van tim nghiêm trọng
-      Cao huyết áp
-      Bệnh tiểu đường (đái tháo đường) và trên 65 tuổi
-      Phình trướng tâm nhĩ trái
-      Bệnh tim mạch vành
-      Suy tim
-      Từ 75 tuổi trở lên

Kiểm Soát Bệnh Tiểu Đường (Đái Tháo Đường)

Những người có bệnh tiểu đường nên đạt được hàm lượng glucoza trong máu lúc đói thấp hơn 110 mg/dl và tỉ lệ hemoglobin A1C thấp hơn 7%.  Chỉ tiêu huyết áp cho những người mắc bệnh tiểu đường nên là 130/80 mm Hg hoặc thấp hơn.

Kiểm Soát Huyết Áp

Việc hạ giảm huyết áp là rất cần thiết để ngăn ngừa đột quỵ.  Các bệnh nhân khỏe mạnh khác có chứng cao huyết áp nên đạt được mức huyết áp dưới 140/90 mg Hg.  Các bệnh nhân tiểu đường, bệnh thận mãn tính, hoặc xơ vữa động mạch nên đạt được mức huyết áp dưới 130/80 mm Hg.  Trị liệu bằng thuốc được khuyến khích cho những người bị cao huyết áp mà không thể kiểm soát huyết áp của họ bằng chế độ ăn uống và các thay đổi về lối sống khác.  Có nhiều loại thuốc được sử dụng để kiểm soát huyết áp.  Chúng bao gồm thuốc lợi tiểu (diuretic), thuốc ức chế men chuyển hóa angiotensin (angiotensin-converting enzyme inhibitor – ACE inhibitor), thuốc chặn thụ thể angiotensin (angiotensin-receptor blocker), thuốc chặn beta (beta-blocker), và thuốc chặn kênh canxi (calcium channel blocker).

Exercise and maintenance of a healthy weight: Tập thể dục và duy trì cân nặng khỏe mạnh
Lifestyle changes and/or medication may reduce high blood pressure to heathy levels: Thay đổi lối sống và/hoặc sử dụng thuốc có thể giúp hạ giảm tình trạng cao huyết áp xuống mức độ khỏe mạnh.
Medications such as diuretics, beta-blockers, potassium replacements, calcium channel blockers and ACE inhibitors: Các loại thuốc như thuốc lợi tiểu, thuốc chặn beta, thay thế kali, thuốc chặn kênh canxi, và thuốc ức chế men chuyển hóa angiotensin.
A healthy, low-fat diet rich in natural sources of vitamins and minerals: Một chế độ ăn uống lành mạnh, ít chất béo và giàu các nguồn vitamin, khoáng chất tự nhiên.

Chứng cao máu là một rối loạn được đặc thù bởi tình trạng cao huyết áp mãn tính.  Chứng bệnh này phải được theo dõi, điều trị, và được kiểm soát bằng thuốc, các thay đổi về lối sống, hoặc kết hợp cả hai.

Hạ Giảm Cholesterol “xấu” LDL

Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ (American Heart Association) đề xuất rằng các bệnh nhân bị một cơn đột quỵ do thiếu máu cục bộ hoặc một cơn thiếu máu cục bộ tạm thời nên uống một loại thuốc statin để hạ giảm hàm lượng cholesterol.  Đa số bệnh nhân nên đạt được mức cholesterol “xấu” LDL dưới 100 mg/dL.  Các bệnh nhân với nhiều yếu tố nguy cơ nên đạt được mức LDL dưới 70 mg/dL.

Các loại thuốc statin bao gồm lovastatin (Mevacor), pravastatin (Pravachol), simvastatin (Zocor), fluvastatin (Lescol), atorvastatin (Lipitor), và rosuvastatin (Crestor).