Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH SÁN LÁ PHỔI.

(PARAGONIMIASIS).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

CHỨNG BỆNH CHÂN MADURA

(MADURA FOOT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

MỘT BỘ PHẬN NGỰC GIẢ BIẾN MẤT TRONG KHI TẬP MÔN THỂ DỤC PILATES.

(DISAPPEARANCE OF A BREAST PROSTHESIS DURING PILATES).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK).

MỘT VIÊN ĐẠN NẰM TRONG ĐẦU.

(A HEAD SHOT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

TÌNH TRẠNG MÙ SAU KHI TIÊM MỠ

(BLINDNESS AFTER FAT INJECTION)

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH GÚT CÓ SỎI.

(TOPHACEOUS GOUT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH PHÌNH TRƯỚNG XƯƠNG KHỚP

(HYPERTROPHIC PULMONARY OSTEOARTHROPATHY) .

Nguồn (Source): www.nejm.org

About

Thursday, June 28, 2012

ĐÔNG VÀ TÂY CÓ THỂ CÓ CHUNG LỐI SUY NGHĨ KHÔNG? (CAN A WESTERNER THINK LIKE AN EAST ASIAN?) - Do LQT Biên Dịch


Lawrence T. White

Hãy tưởng tượng bạn đang ngồi một mình trong một phòng tối.  Trên tường trước mặt bạn có treo một thanh phát quang (illuminated rod), quay vòng một cách chậm chạp giống như cây kim la bàn chuyển động loạn xạ.  Bao quanh thanh phát quang này là một khung hình chữ nhật cũng phát quang, khung này nghiêng về một bên.  Nếu bạn được yêu cầu điều chỉnh thanh phát quang này để nó hướng thẳng đứng, như thế sự phán đoán của bạn về tư thế thẳng đứng của thanh phát quang này có bị ảnh hưởng bởi sự định hướng của khung phát quang không?

Đối với đa số người, câu trả lời sẽ là có, nhưng mức độ ảnh hưởng thay đổi tùy theo khu vực địa lý.  Ở một số vùng, sự định hướng của khung phát quang ảnh hưởng rất ít đến sự phán đoán về tư thế thẳng đứng của thanh phát quang, nhưng ở các nơi khác, nhiều người lại phải cố gắng rất nhiều để nhắm cho thanh phát quang theo hướng thẳng đứng.  Vấn đề là ở đâu?



Trên 20 năm qua, các nhà nghiên cứu đã kiên trì quan sát các mô hình khác nhau về nhận thức và khả năng tư duy ở các xã hội khác nhau.  Với rủi ro bị đơn giản hóa vấn đề khi cho rằng, người Tây Phương có khuynh hướng suy nghĩ theo lối phân tích (analytically), và người Đông Phương có khuynh hướng suy nghĩ một cách tổng thể (holistically: nhấn mạnh vào tính quan trọng của tập thể và tính phụ thuộc lẫn nhau của các cá thể).

Suy nghĩ theo lối phân tích là một dạng nhận thức đặc trưng bởi lý luận logic, và có một khuynh hướng (niềm tin) cho rằng các sự kiện (sự vật hiện tượng) là sản phẩm của các cá thể và những thuộc tính của họ.  Theo Michael Varnum và các đồng nghiệp của ông tại trường Đại Học Michigan (University of Michigan), những người suy nghĩ theo lối phân tích sẽ có xu hướng “giải thích các hiện tượng từ các bối cảnh nơi các hiện tượng này xảy ra”.  Đó là lý do tại sao người Tây Phương ít bị ảnh hưởng bởi sự định hướng của khung phát quang trong Thử Nghiệm Thanh phát quang-và-Khung phát quang (Rod-and-Frame Test).  Họ dễ dàng cách ly vật trọng tâm, ở đây là thanh phát quang, ra khỏi bối cảnh của nó.



Lối suy nghĩ mang tính tổng thể đặc trưng bởi phương pháp lý luận biện chứng (đạt đến chân lý bằng trao đổi các lý luận logic) tập trung vào các yếu tố nền tảng trong các bối cảnh trực quang, và tin tưởng rằng các sự kiện (sự vật hiện tượng) là sản phẩm của các động lực bên ngoài cũng như các tình huống.  Những người suy nghĩ một cách tổng thể có xu hướng “tập trung sâu rộng vào bối cảnh và các mối quan hệ”, điều này giải thích lý do tại sao các quyết định của người Đông Phương bị ảnh hưởng sâu rộng bởi khung phát sáng bị nghiêng trong thử nghiệm trên.



Hai lối suy nghĩ này rất khác biệt.  Ví dụ, những người suy nghĩ theo lối phân tích có nhiều khả năng phạm phải sai sót quy kết cơ bản (fundamental attribution error) hơn so với những người suy nghĩ một cách tổng thể, đó là đánh giá cao sự ảnh hưởng của các cá nhân và đánh giá thấp sự ảnh hưởng của các tình huống khi giải thích các sự kiện (sự vật hiện tượng).  Họ cũng có nhiều khả năng dự đoán rằng một xu hướng (ví dụ, trong thị trường chứng khoáng) sẽ tiếp tục và không đổi hướng. 



Trong hai lối nhận thức này, không có lối nhận thức nào vượt trội lối nhận thức nào, chúng chỉ đơn thuần là khác nhau.  Đồng thời, không phải tất cả mọi người trong cùng một nền văn hóa đều có cùng lối suy nghĩ.  Có thể rất dễ tìm được những người suy nghĩ một cách tổng thể ở Dallas, Texas, và những người suy nghĩ theo lối phân tích ở Đài Bắc, Đài Loan.

Đa số các nhà tâm lý học nghiên cứu về văn hóa đồng ý rằng các khác biệt (được quan sát) về lối nhận thức được phát sinh từ các khác biệt trong định hướng xã hội.  Một số nền văn hóa, ví dụ ở khu vực Bắc Mỹ và Tây Âu, khuyến khích sự phát triển định hướng xã hội độc lập, định hướng này tôn trọng các giá trị tự do ý chí, tự thể hiện, và thành tựu cá nhân.  Còn các nền văn hóa khác, ví dụ ở Đông Á và Châu Mỹ La Tinh, khuyến khích sự phát triển định hướng xã hội phụ thuộc lẫn nhau, định hướng này tôn trọng các giá trị hài hòa, các mối quan hệ, và sự thành công của tập thể.

Mối liên kết giữa định hướng xã hội và lối nhận thức được chứng minh một cách rõ ràng trong các nghiên cứu mới đây, so sánh các nhóm trong cùng một quốc gia.  Ví dụ, khu vực Bắc Ý xem ra có suy nghĩ độc lập hơn so với khu vực Nam Ý và cũng có nhiều khả năng suy nghĩ theo lối phân tích.  Những người làm nghề nông và nghề đánh cá ở vùng Biển Đen của Thổ Nhĩ Kỳ xem ra phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn so với những người chăn nuôi ở làng lân cận, và cũng có nhiều khả năng suy nghĩ một cách tổng thể.

Như vậy, người Tây Phương có thể có suy nghĩ giống với người Đông Phương không?  Hoàn toàn có thể.  Và người Đông Phương cũng có thể có suy nghĩ giống với người Tây Phương.  Thật vậy, đa số chúng ta đều có khả năng suy nghĩ theo lối phân tích và một cách tổng thể, tùy thuộc vào trạng thái tư duy của chúng ta.  Theo một cách nói, khi người Đông Phương được khuyến khích suy nghĩ về tính duy nhất của bản thân, thì họ thường “chuyển sang” hệ thống tư duy phân tích của họ.  Cũng như, khi người Tây Phương phải suy nghĩ đến mối quan hệ của bản thân với những người khác, thì họ thường chuyển sang lối suy nghĩ một cách tổng thể.  Thói quen của đa số người Tây Phương, đặc biệt nam giới, là lối suy nghĩ phân tích, và thói quen của đa số người Đông Phương là suy nghĩ một cách tổng thể.  Tuy nhiên, mỗi người chúng ta đều có khả năng suy nghĩ theo lối phân tích hoặc suy nghĩ một cách tổng thể, đó là một năng lực mà thường không được nhận biết.






Nguồn (Sources):


Ji, L.-J., Peng, K., & Nisbett, R. E. (2000). Culture, control and perception of relationships in the environment. Journal of Personality and Social Psychology, 78(5), 943-955.

Knight, N., & Nisbett, R. E. (2007). Culture, class and cognition: Evidence from Italy. Journal of Cognition and Culture, 7, 283–291.

Uskul, A. K., Kitayama, S., & Nisbett, R. E. (2008). Ecocultural basis of cognition: Farmers and fishermen are more holistic than herders. Proceedings of the National Academy of Science of the USA, 105, 8552-8556.

Varnum, M., Grossmann, I., Kitayama, S., & Nisbett, R. (2010). The origin of cultural differences in cognition: The social orientation hypothesis. Current Directions in Psychological Science, 19(1), 9-13.


Thursday, June 21, 2012

TÌM HIỂU VỀ HỆ MIỄN DỊCH: CÁCH THỨC NÓ HOẠT ĐỘNG (UNDERSTANDING THE IMMUNE SYSTEM: HOW IT WORKS) - Do LQT Miễn Dịch


CÁC LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU TRONG MIỄN DỊCH HỌC

Các nhà khoa học hiện nay có thể sản xuất hàng loạt các hợp chất do tế bào miễn dịch tiết ra, cả kháng thể và lymphokine, cũng như các tế bào miễn dịch chuyên biệt.  Nguồn cung cấp sẵn các chất liệu này không chỉ cách mạng hóa chương trình nghiên cứu bản thân hệ miễn dịch mà còn có một sự ảnh hưởng sâu rộng lên y học, nông nghiệp, và công nghiệp.

Các kháng thể đơn bào (monoclonal antibody) là các kháng thể giống nhau, được sản sinh từ một đơn bào B.  Bởi vì khả năng chuyên biệt độc đáo của chúng đối với các phân tử khác nhau, do đó các kháng thể đơn bào là các phương pháp điều trị đầy hứa hẹn cho một loạt các chứng bệnh.  Các nhà nghiên cứu tạo ra các kháng thể đơn bào bằng cách tiêm vào chuột một kháng nguyên mục tiêu rồi sau đó hợp nhất các tế bào B từ chuột với một tế bào có tuổi thọ cao.  Tế bào lai này trở thành một loại nhà máy sản xuất kháng thể, sản sinh hàng loạt các bản sao giống hệt các phân tử kháng thể chuyên biệt dành cho kháng nguyên mục tiêu này.

Tuy nhiên, các kháng thể của chuột là “phần tử lạ” đối với con người, và có thể kích hoạt phản ứng miễn dịch khi được tiêm vào cơ thể con người.  Do đó, các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu các kháng thể đơn bào nhân tạo.  Để xây dựng các phân tử này, các nhà khoa học lấy một đoạn kháng thể của chuột được gắn kết với kháng nguyên và kết dính nó với một khung kháng thể của người, như vậy giảm bớt đáng kể “phần lạ” của phân tử này.

Antigen: Kháng nguyên
Antibody-producing plasma cell: Tương bào sản sinh kháng thể
Cells fuse into a hybridoma: Các tế bào hợp nhất thành một tế bào lai
Long-lived plasma cell: Tương bào có tuổi thọ cao
Monoclonal antibodies: Các kháng thể đơn bào

Công nghệ kháng thể đơn bào có thể tạo ra các kháng thể chuyên biệt cho việc đặt hàng.








Vì chúng gắn kết với các phân tử rất chuyên biệt, cho nên các kháng thể đơn bào sẽ được sử dụng trong các xét nghiệm chẩn đoán để xác định các tác nhân gây bệnh xâm nhập hoặc các thay đổi trong các protein của cơ thể.  Trong y học, các kháng thể đơn bào có thể kết dính với các tế bào ung thư, chặn các tín hiệu tăng trưởng hóa học mà các tín hiệu này làm cho các tế bào phân chia không thể kiểm soát được.  Trong các trường hợp khác, các kháng thể đơn bào có thể đưa các chất độc hại nguy hiểm vào các tế bào được chọn lựa, tiêu diệt tế bào này nhưng không đụng chạm đến các tế bào lân cận.

Công Nghệ Cải Biến Gen

Công nghệ cải biến gen (genetic engineering) cho phép các nhà khoa học lấy các gen (DNA) ra khỏi một sinh vật và kết hợp chúng với các gen của một sinh vật khác.  Bằng cách này, các sinh vật khá đơn giản như vi khuẩn hoặc nấm men có thể được sử dụng để sản sinh hàng loạt các protein của cơ thể người, bao gồm các hooc môn như insulin cũng như lymphokine và monokine.  Các nhà khoa học còn có thể sản xuất các protein từ các tác nhân gây nhiễm trùng, chẳng hạn như virut viêm gan hoặc virut HIV, để sử dụng trong vắcxin.

Trị Liệu Gen

Công nghệ cải biến gen cũng tạo ra các hứa hẹn cho phương pháp trị liệu gen, thay thế các gen đã bị biến đổi, mất đi, hoặc thêm vào các gen có lợi.  Bệnh suy giảm miễn dịch kết hợp nghiêm trọng (severe combined immunodeficiency disease – SCID) là một ứng viên chính cho phương pháp trị liệu gen.  Bệnh suy giảm miễn dịch kết hợp nghiêm trọng (SCID) là một chứng bệnh di truyền hiếm, làm suy yếu hệ miễn dịch của một người, và làm cho người đó không có khả năng chống lại các bệnh nhiễm trùng.  Chứng bệnh này là do các đột biến ở một gen trong số các loại gen viết mã cho các thành phần quan trọng của hệ miễn dịch.  Cho đến gần đầy, phương pháp điều trị hiệu quả nhất cho bệnh suy giảm miễn dịch kết hợp nghiêm trọng (SCID) là cấy các tế bào gốc hình thành tế bào máu từ tủy xương của một người có sức khỏe tốt, và người này có quan hệ gần với bệnh nhân.  Tuy nhiên, các bác sĩ cũng có thể điều trị chứng bệnh này bằng cách đưa vào cơ thể bệnh nhân phiên bản cải biến gen của gen đã thiếu hụt.

Sử dụng phương pháp trị liệu gen để điều trị bệnh SCID sẽ được thực hiện theo di truyền học bằng cách lấy mẫu các tế bào tạo máu từ tủy xương của một người, đưa và các gen này một loại virut được cải biến gen chứa loại gen được hiệu chỉnh, và nuôi các gen được bổ sung này bên ngoài cơ thể của bệnh nhân.  Sau khi các tế bào tủy xương được cải biến gen bắt đầu sản sinh men (enzyme) hoặc protein bị thiếu hụt, chúng có thể được đưa vào lại cơ thể của bệnh nhân.  Sau khi đã đi vào cơ thể, các tế bào cải biến gen này có thể sản sinh thành phần bị thiếu hụt của hệ miễn dịch và bắt đầu khôi phục lại khả năng chống nhiễm trùng của người đó.

Cytokine-producing cell: Tế bào sản sinh cytokine
Bacterium: Vi khuẩn
Strand of DNA from cytokine-producing cell: sợi DNA từ tế bào sản sinh cytokine
Plasmid (a ring of DNA) from bacterium: Vòng DNA từ vi khuẩn
Cytokine gene is cut out of DNA: Gen cytokine được cắt ra khỏi DNA
Plasmid is cut open: Vòng DNA (plasmit) bị cắt ra
Cytokine gene is spliced into plasmid: Gen cytokine được đưa vào vòng DNA
Hybrid plasmid is put back into bacterium: Plasmit lai được đưa trở vào vi khuẩn
Bacterium makes human cytokines: Vi khuẩn tạo cytokine của người

Công nghệ cải biến gen biến các sinh vật đơn giản thành các nhà máy sản xuất các protein của cơ thể người.





Bệnh ung thư là một mục tiêu khác của phương pháp trị liệu gen.  Trong các thực nghiệm tiên phong, các nhà khoa học lấy các tế bào bạch huyết chống ung thư ra khỏi khối u của bệnh nhân ung thư, và đưa vào một loại gen có tác dụng tăng cường khả năng của tế bào bạch huyết sản xuất một sản phẩm chống ung thư với số lượng lớn, sau đó phát triển các tế bào được tái cấu trúc này với số lượng lớn trong phòng thí nghiệm.  Sau đó, các tế bào này được tiêm trở vào cơ thể của bệnh nhân, ở đó chúng có thể tìm kiếm và chuyển tải liều lượng lớn các chất hóa học chống ung thư.

Kiểm Soát Hệ Miễn Dịch

Nghiên cứu về cơ chế giới hạn và cân bằng có tác dụng kiểm soát phản ứng miễn dịch là nguồn thông tin đang phát triển về các chức năng miễn dịch bình thường và không bình thường.  Rồi đây, nó có thể giúp điều trị các chứng bệnh như luput ban đỏ toàn thân bằng cách ức chế những thành phần quá hoạt tính của hệ miễn dịch.

Các nhà khoa học cũng đang tìm ra các phương pháp để hiểu rõ hơn về hệ thống miễn dịch của người và các chứng bệnh gây hại đến hệ miễn dịch.  Bằng cách cấy các mô miễn dịch chưa trưởng thành hoặc các tế bào miễn dịch của người vào chuột bị bệnh suy giảm miễn dịch kết hợp nghiêm trọng (SCID), các nhà khoa học đã tạo ra một mô hình sống hệ miễn dịch người.  Mô hình động vật này hứa hẹn có giá trị rất lớn trong việc giúp ích cho các nhà khoa học hiểu được hệ miễn dịch và vận dụng nó để tạo ra lợi ích cho sức khỏe con người.

Immature human immune cells: Các tế bào miễn dịch chưa trưởng thành của người
Immature human immune tissue: Mô miễn dịch chưa trưởng thành của người
Mouse kidneys: Thận của chuột
Immuno-incompetent SCID-hu mouse: Chuột có bệnh SCID người và mất khả năng miễn dịch.

Chuột có bệnh SCID tạo ra một phương tiện để nghiên cứu hoạt động của hệ miễn dịch người.



Saturday, June 16, 2012

BẰNG CÁCH NÀO THỂ DỤC CÓ THỂ LÀM CHO BỘ NÃO THÔNG MINH HƠN (HOW EXERCISE COULD LEAD TO A BETTER BRAIN) - Do LQT Biên Dịch


Tác giả: GRETCHEN REYNOLDS
Đăng ngày: 18 tháng 4, 2012

Giá trị của loại trò chơi rèn luyện trí lực có thể mang tính chất suy đoán, như Dan Hurley viết trong bài nói về sự truy tìm phương pháp làm cho chúng ta thông minh hơn, nhưng có một cách khác dễ thực hiện và được khoa học chứng minh có thể giúp bạn thông minh hơn.  Hãy đi bộ hoặc đi bơi.  Trong hơn một thập niên, các nhà khoa học thần kinh (neuroscientist) và các nhà sinh lý học (physiologist) đã và đang thu thập chứng cứ về mối quan hệ có lợi giữa thể dục và trí thông minh.  Nhưng các phát hiện mới nhất đã làm rõ rằng đây không chỉ là một mối quan hệ; mà chúng thực sự có sự liên hệ mật thiết.  Sử dụng các công nghệ tinh vi để kiểm tra hoạt động của các nơron của con người – và sự cấu thành bản thân các chất ở não – các nhà khoa học chỉ trong vài tháng qua đã khám phá ra rằng thể dục dường như có thể tạo nên một bộ não có khả năng kháng lại tình trạng co (teo) não và gia tăng tính linh hoạt nhận thức (cognitive flexibility).  Thể dục, như ngành khoa học thần kinh mới đây nhận định, giúp tăng cường khả năng tư duy nhiều hơn bản thân quá trình tư duy.


Chứng cứ có tính thuyết phục nhất bắt nguồn từ một số nghiên cứu mới về các động vật ở phòng thí nghiệm sống trong các lồng bận rộn và náo nhiệt.  Từ lâu, cái gọi là các môi trường “được tạo cho phong phú” – nơi cư trú của các động vật này chứa đầy các đồ chơi và tham gia vào các nhiệm vụ mới lạ - sẽ đưa đến những cải thiện về năng lực trí tuệ của các động vật ở phòng thí nghiệm.  Trong đa số các trường hợp, môi trường phong phú này cũng bao gồm một bánh xe quay, bởi vì các loại chuột nhắt (mouse) và chuột cống (rat) thường rất thích chạy bộ.  Cho đến gần đây, đã có một nghiên cứu nhỏ được thực hiện để cố gắng thu thập các tác dụng đặc biệt của quá trình chạy bộ so với việc chơi đùa với các đồ chơi mới hoặc tập trung tinh thần vào các hoạt động khác mà không làm tăng nhịp tim.

Do đó, năm ngoái một nhóm các nhà nghiên cứu dẫn đầu bởi Justin S. Rhodes, một giáo sư tâm lý học tại Viện Khoa Học Kỹ Thuật Cao Cấp Beckman của trường Đại Học Illinois (University of Illinois), tập hợp 4 nhóm chuộc nhắt và chia chúng thành bốn nhóm riêng biệt.  Một nhóm sống trong một thế giới đầy cảm giác và vị giác, ăn các loại quả hạch, trái cây (hoa quả) và phó mát, thực phẩm của nhóm này thỉnh thoảng được rắc thêm quế, và được uống các loại nước có nhiều mùi vị khác nhau.  “Giường” của chúng là các kiến trúc có hình mái vòm chiếm một góc của lồng thí nghiệm.  Các quả bóng có màu sáng chói, các đường hầm bằng chất dẻo, các khối vuông có thể gặm nhấm, các tấm gương và các ván bập bênh (seesaw) chiếm các khu vực khác của lồng thí nghiệm.  Nhóm 2 có đầy đủ tất cả các đồ chơi này, thêm vào đó chúng có các bánh xe quay nhỏ có hình đĩa ở trong lồng của chúng.  Các lồng thí nghiệm của nhóm thứ 3 không có các món đồ chơi này, mà chúng chỉ có thùng sắt bình thường không thú vị.  Và nhà của nhóm thứ 4 chỉ có các bánh xe quay nhưng lại không có các đồ chơi hoặc các món ăn ngon.

Tất cả các động vật này hoàn tất một loạt các kiểm tra về trí lực vào lúc bắt đầu cuộc nghiên cứu và được tiêm một hợp chất cho phép các nhà khoa học theo dõi các thay đổi trong các cấu trúc não của chúng.  Sau đó chúng chạy bộ, chơi, hoặc nếu môi trường được làm phong phú, sẽ chạy giỡn trong lồng trong vòng vài tháng.

Sau đó, nhóm nghiên cứu của Rhodes cho các chú chuột nhắt trải qua các xét nghiệm nhận thức và kiểm tra các mô não.  Kết quả là các món đồ chơi và các món ngon, cho dù có kích thích bao nhiêu, cũng không cải thiện được bộ não của các động vật này.

“Chỉ có một vấn đề quan trọng”, Rhodes nói “và đó là chúng có bánh xe quay hay không”.  Các động vật nếu tập thể dục, cho dù là chúng có những thứ xa xỉ khác trong lồng của chúng hay không, cũng sẽ có bộ não khỏe mạnh hơn và có biểu hiện tốt hơn trong các kiểm tra về trí lực so với các chú chuột khác.  Các con vật không chạy bộ, cho dù thế giới của chúng có nhiều thứ xa xỉ như thế nào, thì cũng không thể cải thiện được trí thông minh theo các cách thức phức tạp và kéo dài mà nhóm của Rhodes đang nghiên cứu.  Rhodes nói rằng, “chúng rất thích các đồ chơi” và các chú chuột hiếm khi đi vào các khu vực trống và yên tĩnh ở trong lồng.  Nhưng trừ khi chúng cũng tập thể dục, nếu không thì chúng sẽ không trở nên thông minh hơn.

Tại sao thể dục có thể xây dựng được năng lực trí tuệ bằng những phương pháp mà quá trình tư duy không thể.  Bộ não, giống như tất cả các cơ và các bộ phận khác, đều là một tổ chức mô, và chức năng của nó bị suy giảm do ít sử dụng và do tuổi tác.  Bắt đầu vào những năm cuối của tuổi 20, mỗi năm đa số chúng ta sẽ mất đi khoảng 1% thể tích của cấu trúc chân hải mã ở não (hippocampus), là một bộ phận quan trọng của não liên quan đến trí nhớ và một số chức năng học hỏi kiến thức.



Mặc dù thể dục xem ra làm chậm đi hoặc làm đảo ngược quá trình làm hao mòn não, nhưng nó có ảnh hưởng rất lớn đến các tổ chức cơ.  Mặc dù cho đến gần đây các nhà khoa học cho rằng con người được sinh ra với một số lượng tế bào não nhất định và sẽ chẳng bao giờ sản sinh thêm, nhưng bây giờ họ đã hiểu rõ hơn.  Vào những năm 1990, sử dụng một công nghệ đánh dấu các tế bào mới sinh, các nhà nghiên cứu đã xác định, trong các quá trình mổ xẻ phân tích, rằng bộ não của người thành niên chứa một số lượng lớn các tế bào thần kinh mới sinh.  Các tế bào mới sinh này đặc biệt phổ biến trong cấu trúc chân hải mã ở não, cho thấy rằng quá trình hình thành các tế bào não mới chủ yếu xảy ra ở đó.  Càng khích lệ hơn là, các nhà khoa học tìm thấy rằng thể dục làm mồi khởi động quá trình hình thành các tế bào não.  Các chú chuột nhắt và chuột cống đã chạy bộ trong vài tuần thường có các tế bào thần kinh trong các cấu trúc chân hải mã nhiều gấp hai lần so với các chú chuột không vận động.  Bộ não của chúng, giống như các tổ chức cơ khác, trở nên gia tăng kích cỡ.

Nhưng chính hiệu ứng khó diễn tả mà thể dục tác động lên chức năng của các tế bào thần kinh mới hình thành thực sự là điểm đáng chú ý nhất.  Các tế bào não có thể cải thiện trí năng chỉ khi chúng nhập vào mạng lưới thần kinh đang tồn tại, và có nhiều tế bào không gia nhập vào, thay vào đó chúng di chuyển không định hướng vòng quanh trong não một thời gian ngắn rồi chết đi.

Tuy nhiên, một cách để kéo các tế bào thần kinh vào mạng lưới này là cần phải học hỏi một điều gì đó.  Trong một nghiên cứu năm 2007, các tế bào não mới ở chuột được nhập vào các mạng lưới thần kinh của các động vật này nếu các chú chuột học cách đi qua một mê lộ trong nước, một nhiệm vụ đòi hỏi vận dụng trí năng thay vì thể chất.  Nhưng các tế bào não này bị hạn chế rất nhiều về khả năng họa động của chúng.  Khi các nhà nghiên cứu điều tra hoạt động của não sau đó, họ đã tìm thấy rằng các tế bào mới được nối mạng chỉ hoạt động khi các chú chuột này lại tìm đường đi qua mê lộ lần nữa, nhưng không phát sáng khi chúng thực hiện các nhiệm vụ đòi hỏi nhận thức khác.  Kỹ năng học hỏi được mã hóa trong các tế bào đó đã không truyền sang các dạng trí năng khác của loài gặm nhấm.



Mặt khác, thể dục xem ra làm cho các tế bào thần kinh trở nên nhạy bén.  Khi các nhà khoa học trong một nghiên cứu khác cho các chú chuột nhắt chạy bộ, thì bộ não của các động vật này sẵn sàng kết nối các tế bào thần kinh mới vào mạng lưới thần kinh.  Nhưng các tế bào thần kinh này không chỉ phát hỏa (hoạt động) trong lúc chạy bộ sau đó, mà chúng còn phát sáng khi các con vật này thực hiện các kỹ năng nhận thức, giống như thăm dò các môi trường xa lạ.  Đối với các chú chuột nhắt, chạy bộ, khác với kỹ năng học hỏi, đã tạo ra các tế bào não mà chúng có thể làm nhiều việc cùng một lúc.

Làm thế nào thể dục tái cấu trúc trí năng ở cấp phân tử hiện tại vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn, nhưng nghiên cứu cho thấy rằng thể dục thúc đẩy những sự gia tăng cái gọi là yếu tố ảnh hưởng tế bào thần kinh bắt nguồn từ não (brain-derived neurotropic factor – B.D.N.F.), một chất làm tăng cường các tế bào và các sợi trục thần kinh (axon), củng cố các mối liên kết giữa các tế bào thần kinh và khởi động quá trình hình thành các tế bào não.  Các nhà khoa học không thể trực tiếp nghiên cứu các hiệu ứng tương tự trong bộ não con người, nhưng họ đã tìm thấy rằng sau khi tập thể dục, đa số người đều hiển thị mức B.D.N.F trong máu của họ cao hơn.

Một vài nhà nghiên cứu cho rằng hàm lượng cao yếu tố B.D.N.F. giúp giải thích tất cả những thay đổi trong não liên quan đến thể dục.  Toàn bộ quá trình hầu như hoàn toàn liên quan đến các quá trình di truyền và hóa sinh phức tạp nối tiếp.  Ví dụ, một nghiên cứu mới đây về não của các chú chuột cao tuổi, đã tìm thấy 117 gen được thể hiện các kiểu hình khác nhau trong não động vật sau khi chúng bắt đầu một chương trình chạy bộ, so sánh với các chú chuột không vận động, và các nhà khoa học chỉ xem xét một phần nhỏ các gen mà chúng có thể được thể hiện các kiểu hình khác nhau trong não do tập thể dục.

Loại hình thể dục nào sẽ sản sinh ra các hiệu ứng mong muốn này là một vấn đề khác chưa có câu trả lời và gây tò mò.  “Người ta vẫn chưa rõ là các loại hình vận động có cần phải là các môn thể dục tạo sức bền hay không,” dẫn lời nhà tâm lý học và khoa học thần kinh Arthur F. Kramer, giám đốc Viện Beckman tại Trường Đại Học Illinois và là một chuyên gia hàng đầu về thể dục và não.  Một số ít các nghiên cứu trong vài năm gần đây đã tìm thấy các lợi ích về trí năng ở những người cao tuổi tập nâng tạ trong một năm và ngoài ra không tập thể dục.  Nhưng đa số các nghiên cứu cho đến nay, và tất cả các thử nghiệm ở động vật, chỉ điều tra về vấn đề chạy bộ hoặc các hoạt động ưa khí khác.

Cho dù là loại hình hoạt động gì, nhưng một thông điệp nổi bật từ nghiên cứu khoa học gần đây là thể dục không nhất thiết phải tập đến kiệt sức để có được hiệu quả cho bộ não.  Khi một nhóm 120 người cao tuổi cả nam và nữ được tham gia vào các chương trình đi bộ và tập kéo giãn cơ (stretching) cho một nghiên cứu quan trọng năm 2011, thì những người đi bộ kết thúc chương trình vận động sau một năm, với kết quả là cấu trúc chân hải mã ở não của họ trở nên gia tăng kích cỡ.  Trong khi đó, những người tập kéo giãn cơ (stretcher) có thể tích cấu trúc này vẫn bị giảm như bình thường.  Những người đi bộ cũng cho thấy hàm lượng yếu tố B.D.N.F. trong máu của họ cao hơn so với nhóm tập kéo giãn cơ và biểu hiện trong các kiểm tra về trí năng tốt hơn.

Trên thực tế, các nhà nghiên cứu đưa ra kết luận rằng, những người đi bộ tăng tuổi thọ 2 năm hoặc tăng tuổi xuân cho cấu trúc chân hải mã.  Những người 65 tuổi có được bộ não của tuổi 63 đơn giản bằng cách đi bộ, đây là một tin mang tính cổ vũ cho những ai đang lo lắng phải đối diện với một tương lai sau này có một cuộc sống càng mất dần trí lực.


Nguồn (Source):








Friday, June 8, 2012

NHIỄM TRÙNG TAI - CẤP TÍNH (EAR INFECTION - ACUTE) - Do LQT Biên Dịch


PHẪU THUẬT

Thủ Thuật Chèn Ống Thông Tai (với Thủ Thuật Rạch Màng Nhĩ)

Thủ thuật chèn ống thông tai (tympanostomy) bao gồm phương pháp chèn ống thông để đưa chất dịch trong tai giữa ra ngoài.  Tiến trình này bao gồm:

-      Sử dụng thuốc gây mê (ở trạng thái ngủ, không có cảm giác đau).  Trẻ em thường thức giấc hoàn toàn trong vòng vài giờ.
-      Thủ thuật rạch màng nhĩ (myringotomy - đưa chất dịch ra ngoài) được thực hiện trước tiên.
-      Sau khi thực hiện thủ thuật rạch màng nhĩ, bác sĩ sẽ chèn vào một ống thông để đưa chất dịch ra khỏi tai giữa một cách liên tục.


Ear canal: Ống thính (ống tai)
Tympanic membrane: Màng nhĩ
Middle ear space: Khoảng không trong tai giữa
The eardrum (tympanic membrane) separates the ear canal from the middle ear: Màng nhĩ ngăn cách ống tai và tai giữa.




Ear infection with fluid behind tympanic membrane: Nhiễm trùng tai với chất dịch nằm phía sau màng nhĩ

 











Tiến trình chèn ống thông tai được đề xuất thực hiện cho:

-      tình trạng chất dịch nằm trong tai giữa (hiện diện hơn 12 tuần)
-      tình trạng nhiễm trùng tai tái phát cho dù các cố gắng ngăn ngừa (hơn ba lần nhiễm trùng trong 6 tháng)
-      tình trạng nhiễm trùng tai không cải thiện sau 2 đến 3 lần trị liệu kháng sinh hợp lý

Các triệu chứng bao gồm:

-      đau tai kéo dài
-      chảy nước ở tai
-      mất khả năng nghe (trong vòng 3 tháng)


A small incision is made in the tympanic membrane: Một vết rạch nhỏ ở màng nhĩ
Tube inserted to drain fluid: Ống thông tai được chèn vào để đưa chất dịch ra ngoài

 









Trong lúc bạn đang ngủ mê và không có cảm giác đau (sử dụng gây mê toàn phần), bác sĩ sẽ thực hiện một vết rạch nhỏ ở màng nhĩ, và chất dịch tích tụ trong đó được hút ra ngoài.  Một ống thông nhỏ được đưa qua vết rạch ở màng nhĩ để rút chất dịch trong tai giữa ra, và do đó ngăn ngừa tình trạng chất dịch tái tích tụ.  Tiến trình này kéo dài chưa đến 30 phút, tình trạng gây mê chỉ là tạm thời và rất an toàn.  Vết rạch sẽ lành lại mà không thấy vết khâu và lỗ rạch sẽ tự khép lại.  Ống thông tai sẽ tự động rớt ra ngoài sau một vài tháng.




Before: Trước
After: Sau

 











Tiến trình đưa ống thông vào tai giúp hạ giảm cơn đau và hồi phục khả năng nghe tức thời.  Các bệnh nhân thường được về nhà ngay trong ngày phẫu thuật.  Đa số những người thực hiện tiến trình này rất hài lòng với các kết quả.  Tính thường xuyên và mức độ nghiêm trọng của tình trạng nhiễm trùng tai giữa được giảm bớt đáng kể.  Nếu tình trạng nhiễm trùng tai tiếp diễn sau khi ống thông rớt ra, thì có thể phải lập lại tiến trình này.

Các Hiệu Ứng Hậu Phẫu Thuật.  Thủ thuật chèn ống thông tai là một tiến trình đơn giản, và đứa trẻ hầu như không cần phải ở lại bệnh viện qua đêm.  Thuốc Acetaminophen (Tylenol) hoặc ibuprofen (Advil) đủ hiệu quả để điều trị cơn đau nhức hậu phẫu thuật ở đa số trẻ em.  Tuy nhiên, một số trẻ em có thể cần đến thuốc codeine hoặc các loại thuốc giảm đau mạnh khác.

Thông thường, các ống thông tai sẽ ở lại trong màng nhĩ trong vòng ít nhất vài tháng trước khi tự rớt ra ngoài.  Trong một số trường hợp hiếm, bệnh nhân cần phải được giải phẫu để lấy ống ra.

Các Biến Chứng.  Chứng chảy mũ tai (Otorrhea) là một biến chứng phổ biến nhất sau khi phẫu thuật và có thể kéo dài ở một số trẻ em.  Tình trạng này thường được điều trị bằng thuốc kháng sinh nhỏ lỗ tai.

Các biến chứng phức tạp hơn do phẫu thuật thường ít phổ biến, nhưng cũng có thể bao gồm:

-      Các nguy cơ về gây mê.  Hiếm khi các phản ứng dị ứng hoặc các biến chứng khác, chẳng hạn như vọp bẻ hoặc nghẽn cổ họng, xảy ra.  Nguy cơ này đạt mức cao nhất ở các trẻ em có các chứng bệnh khác, phổ biến nhất là nhiễm trùng đường hô hấp trên, bệnh phổi, hoặc là chứng rối loạn trào ngược thực quản (gastroesophageal reflux disorder - GERD).  Các nguy cơ có liên quan đến gây mê hầu như luôn luôn rất dễ điều trị.
-      Ống thông tai bị tắc nghẽn.  Thỉnh thoảng các ống thông bị tắc nghẽn do các chất dịch kết dính tiết ra hoặc do máu đóng cục sau khi phẫu thuật.
-      Tình trạng thủng màng nhĩ vĩnh viễn.  Trường hợp này xảy ra khi màng nhĩ không lành lại sau khi các ống thông rớt ra.  Đây là một biến chứng nghiêm trọng được biết đến nhiều nhất, nhưng rất hiếm khi xảy ra.
-      Sẹo cũng có thể xuất hiện, đặc biệt là ở các trẻ em cần từ 2 lần phẫu thuật trở lên, nhưng vết sẹo không ảnh hưởng đến khả năng nghe.
-      Tế bào sừng keratin chứa các nang có tên cholesteatomas phát triển xung quanh khu vực ống thông trong khoảng 1% số bệnh nhân.

Tỉ lệ Thành Công.  Khả năng nghe hầu như luôn luôn được phục hồi sau khi thực hiện thủ thuật chèn ống thông tai.  Tình trạng khả năng nghe không được khôi phục như bình thường hoặc gần với mức bình thường là do các căn bệnh gây biến chứng, chẳng hạn như các vấn đề về tai trước đây hoặc chứng viêm tai giữa tràn dịch kéo dài ở các trẻ em đã từng thực hiện nhiều thủ thuật chèn ống thông tai.  Chất dịch tích tụ thường xuyên là lý do chính gây ra tình trạng khả năng nghe liên tục bị suy giảm.  Chỉ có một số ít các trường hợp bị mất khả năng nghe được quy cho các biến chứng do phẫu thuật.

Sử Dụng Nút Bịt Lỗ Tai Để Phòng Ngừa.  Nhiều bác sĩ cảm thấy rằng các trẻ em nên sử dụng nút bịt lỗ tai khi bơi lội (mặc dù đang mang ống thông trong tai) để ngăn ngừa bị nhiễm trùng.  Các bác sĩ khác cho rằng khi nào các trẻ em không nhảy chúi xuống nước hoặc không lặn dưới nước, thì không cần thiết phải sử dụng các nút bịt lỗ tai.  Các phụ huynh nên trao đổi với bác sĩ của các cháu bé về vấn đề này.  Bông gòn tẩm thạch dầu cũng có thể thay thế nút bịt tai rất hiệu quả.  Các trẻ em không cần thiết phải sử dụng nút bịt lỗ tai khi tắm gội.

Theo Dõi.  Ống thông tai sẽ rơi ra khi lỗ màng nhĩ đóng lại.  Điều này có thể xảy ra sau một vài tháng hoặc trên một năm sau đó.  Hoàn toàn không bị đau.  Thật vậy, bệnh nhân và các phụ huynh có thể không để ý ống thông tai bị rơi ra.

Khoảng 20 – 50% số trẻ em có thể bị tái phát bệnh viêm tai giữa tràn dịch và cần thêm phẫu thuật cắt bỏ xương chũm và rạch màng nhĩ.  Tiến trình tái chèn ống thông tai có thể được khuyến khích cho các trẻ em dưới 4 tuổi.

Thủ Thuật Rạch Màng Nhĩ 

Thủ thuật rạch màng nhĩ (myringotomy) được sử dụng để đưa chất dịch ra ngoài và cũng có thể được sử dụng (kết hợp hoặc không kết hợp với thủ thuật chèn ống thông tai) kết hợp với thủ thuật cắt bỏ xương chũm như một tiến trình tái phẫu thuật nếu thủ thuật chèn ống thông tai ban đầu không thành công.  Thủ thuật này sẽ không hiệu quả nếu được thực hiện riêng (không kết hợp với các thủ thuật khác).  Thủ thuật rạch màng nhĩ bao gồm các bước sau đây:  

-      Bác sĩ giải phẫu sẽ rạch một vết nhỏ trong màng nhĩ.
-      Chất dịch được hút ra bằng một dụng cụ có chức năng giống như máy hút bụi.
-      Chất dịch thường được xét nghiệm để xác định các vi khuẩn cụ thể.
-      Màng nhĩ sẽ lành lại trong vòng một tuần.

Thủ Thuật Cắt Bỏ Xương Chũm 

Các xương chũm là tập hợp các mô lymphô có dạng bọt ở phía sau cổ họng, tương tự như amiđan.  Thủ thuật cắt bỏ xương chũm thường chỉ được đề xuất cho chứng viêm tai giữa tràn dịch nếu có một chứng bệnh tồn tại chẳng hạn như 
chứng viêm xoang (sinusitis) mãn tính, tắc nghẽn mũi, hoặc viêm xương chũm (adenoiditis) mãn tính.  Thủ thuật cắt bỏ xương chũm (adenoidectomy) không được khuyến khích để điều trị cho chứng bệnh viêm tai giữa tràn dịch trừ khi có các chứng bệnh này tồn tại.

Thủ thuật cắt bỏ xương chũm kết hợp với thủ thuật loại bỏ chất dịch có thể được thực hiện nếu thủ thuật chèn ống thông tai ban đầu không thành công trong việc hạ giảm chứng viêm tai giữa tràn dịch.  Sự kết hợp hai tiến trình này rất thích hợp cho các trẻ em từ 4 tuổi trở lên.  Phương pháp chèn ống thông tai được đề xuất cho các trẻ em dưới 4 tuổi.  Các trẻ em dưới 4 tuổi không cần thiết phải thực hiện thủ thuật cắt bỏ xương chũm cùng với thủ thuật chèn ống thông tai.


Các xương chũm là các tổ chức mô cư trú ở phía trên cao thành phía sau của yết hầu (họng). Các xương này được cấu tạo bởi mô lympho, mà các mô lympho này giữ lại và tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh hòa lẫn trong không khí đi vào mũi hầu.









Thủ Thuật Rạch Màng Nhĩ Được Trợ Giúp Bằng Tia Laze

Thủ thuật rạch màng nhĩ được trợ giúp bằng laze được xem là một phương pháp thay thế cho thủ thuật chèn ống thông tai và rạch màng nhĩ truyền thống.  Hiện tại, chưa có đủ chứng cứ để cho rằng thủ thuật này có hiệu quả tương tự như thủ thuật chèn ống thông (đây là một tiến trình tiêu chuẩn).  Một số thực nghiệm lâm sàn đã cho thấy rằng, tỉ lệ thành công của thủ thuật rạch màng nhĩ được trợ giúp bằng tia laze chỉ bằng một nửa tỉ lệ thành công của phương pháp chèn ống thông tai/rạch màng nhĩ tiêu chuẩn.  Nhiều công ty bảo hiểm cho rằng phương pháp rạch màng nhĩ được trợ giúp bằng tia laze là một tiến trình còn đang thử nghiệm, do đó các công ty này không chấp nhận thanh toán chi phí khi bệnh nhân thực hiện thủ thuật này.