About

Friday, March 6, 2015

U XƠ TỬ CUNG (UTERINE FIBROIDS) - Do LQT Biên Dịch


CHẨN ĐOÁN

Kiểm Tra Khung Xương Chậu và Bệnh Sử

Một vài u xơ có thể có cảm giác như các u lồi lên trong khi kiểm tra khung chậu.  Khi kiểm tra khung chậu, bác sĩ cũng sẽ kiểm tra các tình trạng liên quan đến mang thai và các chứng bệnh khác, chẳng hạn như u nang buồng trứng (ovarian cysts).  Bác sĩ cũng sẽ hỏi bạn về bệnh sử, đặc biệt là khi nó liên quan đến các chu kỳ kinh nguyệt.  Các nguyên nhân khác gây ra tình trạng xuất huyết tử cung bất thường cũng phải được xem xét.

Siêu Âm

Siêu âm là kỹ thuật tạo hình tiêu chuẩn để phát hiện các u xơ tử cung.  Bác sĩ sẽ yêu cầu siêu âm qua thành bụng và qua âm đạo.  Siêu âm là một kỹ thuật không gây đau đớn, mà kỹ thuật này sử dụng sóng âm để soi hình tử cung và buồng trứng.  Trong kỹ thuật siêu âm qua thành bụng, dụng cụ dò siêu âm được di chuyển trên khu vực bụng.  Trong kỹ thuật siêu âm qua âm đạo, dụng cụ dò được đưa vào âm đạo.

Một kỹ thuật siêu âm khác, được gọi là siêu âm tử cung (hysterosonography), sử dụng kỹ thuật siêu âm cùng với saline (nước muối) được truyền vào tử cung để làm rõ hình ảnh của tử cung.

Nội Soi Tử Cung

Nội soi tử cung (Hysteroscopy) là một tiến trình được sử dụng để phát hiện sự hiện diện của các u xơ, bướu thịt (polyps), hoặc các nguyên nhân khác gây xuất huyết.  (Kỹ thuật này cũng có thể được sử dụng trong tiến trình phẫu thuật để cắt bỏ các u xơ).



Nội soi tử cung có thể được thực hiện ở văn phòng bác sĩ hoặc ở bệnh viện.  Tiến trình này sử dụng một ống dài và dẻo hoặc một ống cứng được gọi là ống soi tử cung (hysteroscope), ống này được đưa vào trong âm đạo đi qua cổ tử cung để đến được tử cung.  Đèn sợi quang và một máy quay phim trong ống soi này cho phép bác sĩ có thể nhìn thấy khoang tử cung.  Tử cung được chứa đầy nước muối saline hoặc khí CO2 để thổi phồng khoang tử cung và do đó bác sĩ có thể nhìn thấy rõ hơn.  Điều này có thể gây ra tình trạng vọp bẻ.

Nội soi tử cung là một tiến trình không xâm lân (không có vết rạch), và không đòi hỏi phẫu thuật; tuy nhiên, một phần ba số phụ nữ báo cáo là bị đau dữ dội khi thực hiện tiến trình này.  Gây tê cục bộ, khu vực, và gây mê có thể được thực hiện.

Phương Pháp Soi Ổ Bụng



Trong một số trường hợp, thủ thuật soi ổ bụng có thể được thực hiện như là một tiến trình chẩn đoán.  Phương pháp soi ổ bụng (laparoscope) bao gồm việc đưa một ống soi qua một vết rạch nhỏ gần rốn.  Trong khi phương pháp nội soi tử cung cho phép bác sĩ nhìn thấy được bên trong tử cung, thì phương pháp soi ổ bụng cho thấy hình ảnh bên ngoài của tử cung, bao gồm các buồng trứng, các ống dẫn trứng, và khu vực khung chậu tổng quát.

Các Xét Nghiệm Khác

Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể thực hiện sinh thiết màng trong tử cung để xác định xem có các tế bào bất thường nào ở màng trong tử cung mà có thể gây ra ung thư không.  Sinh thiết màng trong tử cung có thể được thực hiện ở văn phòng bác sĩ, có thể gây tê hoặc không gây tê.  Mở rộng và nạo tử cung (Dilation & curettage - D&C) là một tiến trình qua da (có vết rạch) mà bao gồm việc nạo màng trong tử cung.  Phương pháp này có thể được sử dụng để lấy mẫu các mô và cũng được sử dụng như là một tiến trình để giúp làm giảm tạm thời tình trạng chảy máu nhiều trong kỳ kinh nguyệt.

Bác sĩ cũng có thể yêu cầu thực hiện phương pháp đếm tế bào máu để kiểm tra các dấu hiệu bị chứng thiếu máu.

Loại Trừ Các Chứng Bệnh Khác Mà Có Thể Gây Ra Xuất Huyết Nặng

Hầu như tất cả phụ nữ, ở một thời điểm nào đó trong thời gian tiền mãn kinh, đều bị xuất huyết nhiều trong các kỳ kinh nguyệt.


Copper wire: Dây đồng
Cut-section of uterus: Mặt cắt ngang của tử cung

Intrauterine devices (IUDs) are molded plastic devices (some containing copper) which disrupt the normal uterine environment: Các dụng cụ đặt bên trong tử cung (IUDs) là những dụng cụ được đúc bằng nhựa (một số dụng cụ có chứa đồng), dụng cụ này làm gián đoạn môi trường của tử cung bình thường.

Dụng cụ đặt trong tử cung (IUD) ở trên sử dụng đồng như một hoạt chất ngừa thai; các dụng cụ khác sử dụng progesterone trong một thiết bị bằng nhựa.  IUDs rất hiệu quả trong việc ngừa thai (dưới 2% cơ hội mang thai mỗi năm cho dụng cụ IUD dùng progesterone, dưới 1% cơ hội mang thai mỗi năm cho dụng cụ IUD dùng đồng).  Các dụng cụ IDU đi cùng với nguy cơ gia tăng bị mang thai lạc vị và tình trạng tử cung bị rỗ, và chúng không giúp bảo vệ chống lại bệnh truyền qua đường sinh dục.  Các dụng cụ IUDs được bác sĩ chỉ định sử dụng (cần toa bác sĩ) và được bác sĩ đặt vào tử cung.

Một số tình trạng có thể gây ra hoặc góp phần tạo ra nguy cơ, bao gồm:

-      Các rối loạn về kinh nguyệt
-      Sẩy thai
-      Trễ kỳ kinh hoặc sắp mãn kinh
-      Bướu tử cung (những khối u nhỏ lành tính ở tử cung)
-      Dụng cụ ngừa thai (đặt trong tử cung - Intrauterine device - IUD)
-      Các rối loạn xuất huyết làm suy yếu khả năng đông máu, bệnh Von Willebrand
-      Ung thư tử cung
-      Nhiễm trùng các cơ quan sinh sản nữ
-      Bệnh lạc màng trong tử cung.  Tình trạng này xảy ra khi các tuyến ở màng trong tử cung bám vào cơ tử cung.  Các triệu chứng gần như tương tự với u xơ (xuất huyết nhiều và đau nhức).
-      Một số chứng bệnh, bao gồm các vấn đề về tuyến giáp và luput ban đỏ toàn thân
-      Một số loại thuốc, bao gồm các loại thuốc chống đông máu và các loại thuốc kháng viêm.
-      Thông thường, nguyên nhân bị xuất huyết nhiều vẫn chưa rõ căn nguyên.