Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH SÁN LÁ PHỔI.

(PARAGONIMIASIS).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

CHỨNG BỆNH CHÂN MADURA

(MADURA FOOT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

MỘT BỘ PHẬN NGỰC GIẢ BIẾN MẤT TRONG KHI TẬP MÔN THỂ DỤC PILATES.

(DISAPPEARANCE OF A BREAST PROSTHESIS DURING PILATES).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK).

MỘT VIÊN ĐẠN NẰM TRONG ĐẦU.

(A HEAD SHOT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

TÌNH TRẠNG MÙ SAU KHI TIÊM MỠ

(BLINDNESS AFTER FAT INJECTION)

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH GÚT CÓ SỎI.

(TOPHACEOUS GOUT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH PHÌNH TRƯỚNG XƯƠNG KHỚP

(HYPERTROPHIC PULMONARY OSTEOARTHROPATHY) .

Nguồn (Source): www.nejm.org

About

Saturday, May 26, 2012

TẠI SAO CHÚNG TA MƠ (WHY WE DREAM) - Do LQT Biên Dịch


Nhà khoa học thần kinh Mark Solms giải thích các giấc mơ có thể bảo vệ và làm cho bộ não của chúng ta quên đi thế giới bên ngoài như thế nào đồng thời cho phép cơ thể nghỉ ngơi.

Tác giả: Hara Estroff Marano

Nếu các giấc mơ là con đường hoàng gia đi đến tiềm thức, như Freud xác nhận, thì con đường đó có thể là một đại lộ đầy những khúc cua gấp và đoạn rẽ - dẫn đến nơi vô định.  Nhưng nó tạo ra những cảnh ngoạn mục dọc theo con đường. 



Đến lượt, các giấc mơ được xem là các dự báo về tương lai, đầy ý nghĩa – chỉ khi một người nào đó có thể tìm ra được ý nghĩa của nó – hoặc là sự giải thoát của các tế bào thần kinh thư giãn một cách ngẫu nhiên sau một ngày bận rộn.  Đã từng được xem là dấu hiệu của các xung điện đột ngột của các hoạt động của não gọi là giấc ngủ mắt chuyển động nhanh (rapid-eye-movement sleep), đến nay giấc mơ xem ra phần nào ít tập trung vào một giai đoạn ngủ nào đó; ít nhất 25% các giấc mơ phân tán đến các giai đoạn khác của giấc ngủ.  Quá trình ngủ mơ được xem rất quan trọng cho việc học hỏi, hoặc ít nhất quan trọng cho khả năng giải quyết vấn đề - hoặc rất đẹp nhưng không cần thiết.  Nó là biểu tượng của tình trạng suy yếu về tinh thần – hay là một tấm chắn an toàn làm lệch hướng nó.

Một bước chuyển hướng mới nhất về giấc ngủ bắt nguồn từ nhà khoa học thần kinh (neuroscientist) Nam Phi Mark Solms.  Solms cho rằng, có lẽ chúng ta bị nhầm lẫn giữa nguyên nhân và hậu quả.  Ông đề xuất rằng, giấc mơ không phải là một sản phẩm phụ của giấc ngủ, mà lâu nay người ta vẫn cho là như vậy.  Giấc mơ có thể là điều đầu tiên cho phép chúng ta ngủ nhiều hơn.

Solms nói rằng, “Các giấc mơ bảo vệ giấc ngủ”.  Chúng sản sinh ra một thế giới nhân tạo để giữ cho bộ não tạm thời bận rộn vì nhu cầu đòi hỏi hoạt động của bộ não.  Tư tưởng cấp tiến (cách tân) về giấc ngủ của ông bắt nguồn từ chứng cứ đang nổi lên cho rằng giấc ngủ mắt chuyển động nhanh (REM sleep) và quá trình mơ không đồng nghĩa, và cho rằng các cơ chế hoạt động của não trong giấc ngủ mắt chuyển động nhanh có thể hoàn toàn khác với các cơ chế hoạt động của não trong quá trình mơ.  Thật vậy, quá trình mơ hiện nay được cho rằng sử dụng các khu vực não có liên quan đến các chức năng thần kinh cao hơn.

Nói cách khác, quá trình mơ mang lại cho bộ não những điều mà chương trình hoạt hình sáng thứ bảy mang lại cho trẻ em, đó là, nó làm cho các trẻ em được tiêu khiển đủ để những kẻ hiếu động nhất trong gia đình này có thể có đủ thời gian hồi phục cần thiết.  Nếu không có sự tiêu khiển này, bộ não của chúng ta sẽ luôn bận rộn với những suy nghĩ (về cuộc sống, việc làm,…).

Solms nói tại một buổi họp của các nhà khoa học, “Giấc mơ là một trạng thái ảo giác có tính hoang tưởng” được tác động bởi sự kích hoạt hệ thống mang tính thúc đẩy cơ bản của não.  Và giống như những sự hoang tưởng, các giấc mơ có vẻ như bị kích thích bởi số lượng dồi dào chất dẫn truyền thần kinh dopamine.



Chất dopamine, mà các nhà khoa học hiện nay biết rõ, đóng một vai trò quan trọng trong việc điều khiển khả năng chú ý của chúng ta.  Chất truyền dẫn thần kinh này quyết định điều gì quan trọng trong môi trường của chúng ta, cho dù môi trường đó ở bên trong chúng ta hoặc ở bên ngoài.  Dưới sự ảnh hưởng của chất dopamine, các sự việc và ý tưởng nhảy ra từ phía sau, tạo sự chú ý cho chúng ta, thúc đẩy chúng ta hành động và hướng tới hành vi muốn đạt được mục đích.

Giấc mơ đánh lừa (làm cho) chúng ta nghĩ rằng đang vùng vẫy trong một thế giới rộng lớn hơn.  Solms nói rằng, “vấn đề cơ bản để sống còn là chúng ta phải đáp ứng tất cả các nhu cầu của bản thân ở thế giới bên ngoài”.  Bộ não có được câu trả lời này; nó phát sinh một loại động lực được liên kết lại được gọi với nhiều tên khác nhau: hệ thống “tìm kiếm” hoặc là “mong muốn”, một sự phối hợp hài hòa giữa các cấu trúc thần kinh đơn giản và phức tạp có tác dụng hướng chúng ta ra thế giới bên ngoài với một bầu khí đầy hy vọng và mong đợi mang tính tích cực.   Như Solms diễn tả, “nó là một động lực tìm kiếm niềm vui trong cuộc sống mang tính toàn diện” mà nó có khả năng giúp cho các loài động vật thỏa mãn các nhu cầu của chúng.

Nhà khoa học thần kinh tiên phong Jaak Panksepp mô tả hệ thống tìm kiếm như một “sự thúc đẩy không mục đích” (các mục đích, như việc thu gom thực phẩm, do hoàn cảnh đặc biệt đòi hỏi).  Nó là một trạng thái sẵn sàng hành động, một cơn thèm (ăn), mô hình sinh học thần kinh dựa trên quan niệm của Freud về ham muốn tình dục (libido).  Đại diện cho một chức năng rất cơ bản của não, hệ thống tìm kiếm ra lệnh và kích hoạt một loạt các đường truyền thần kinh.

Các nhà nghiên cứu tạo ra mô hình các chức năng của não đã cho thấy rằng những ảo giác của chứng rối loạn tâm thần (psychosis) liên quan đến sự kích hoạt quá mức các cấu trúc của hệ thống tìm kiếm.  Các ảo giác này cũng liên quan đến tình trạng rối loạn kiểm soát truyền dẫn chất dopamine.  Càng được xem là “cơn gió của ngọn lửa loạn tâm thần”, chất dopamine càng thúc đẩy bộ não đặt ra tính quan trọng không bình thường cho những sự biểu lộ bên trong nó.  Những sự hoang tưởng, nói cách khác, là các sai lầm về sự quy kết nổi bật.  Chúng ta đánh giá quá cao các ý tưởng của bản thân, mà thường bị lầm lẫn với trải nghiệm tri giác về thế giới.

Giấc mơ chia sẻ nhiều đặc điểm với ảo giác.  Chúng chính là các ảo giác mà tất cả chúng ta đều trải nghiệm.  Cả giấc mơ và ảo giác đều có liên quan đến sự kích hoạt mạnh mẽ hệ thống tìm kiếm.  Và Solms nhấn mạnh vào chứng cứ cho rằng quá trình mơ, giống như ảo giác, được tác động bởi chất dopamine.

Nhà khoa học thần kinh người Pháp Claude Gottesmann đã báo cáo rằng chất dopamine tiết ra trong nucleus accumbens (tập hợp các nơron và hình thành phần lớn cấu trúc hạt nhân thể vân trong não), một vị trí từ lâu được xem có liên quan đến các ảo giác của bệnh tâm thần phân liệt (schizophrenia), gia tăng đến mức cao nhất trong suốt giai đoạn ngủ mơ.  Gottesmann nói rằng, “quá trình mơ và bệnh tâm thần phân liệt có chung nền tảng về hóa học thần kinh”.

Các nghiên cứu khác cho thấy rằng thuốc tăng dopamine L-dopa, thường được sử dụng để điều trị bệnh Parkinson, khiến cho bệnh nhân ngủ mơ nhiều hơn, có nhiều cảm xúc với giấc mơ và có nhiều giấc mơ kỳ quái.

Do tác động của dopamine, giấc mơ lấp đầy tâm trí của chúng ta bằng vô số các kích thích làm cho chúng ta cảm thấy đáng quan tâm đến.  Solms nói rằng, “điều đó rất cần thiết bởi vì cơ thể được rút lui khỏi thế giới bên ngoài”.

Được thúc đẩy tìm kiếm nhưng bị ngăn chặn hành động bằng cách làm tê liệt các chất truyền dẫn thần kinh được tiết ra trong suốt giai đoạn ngủ mơ, chúng ta tự ấp ủ sự thể hiện của cuộc sống bên trong bản thân.  Và chúng ta thèm muốn các trải nghiệm mới mà chúng tạo nên cuốn phim thuộc tâm linh về các biểu lộ bên trong.

Solms nói rằng, “thuyết dopamine là luận điểm trung tâm giúp giải thích tại sao chúng ta mơ”.


Nguồn (Source):



Tuesday, May 22, 2012

SỐT XUẤT HUYẾT (DENGUE HEMORRHAGIC FEVER) - Do LQT Biên Dịch


KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

Bệnh sốt xuất huyết là chứng cảm nhiễm nghiêm trọng, có khả năng gây chết người, bị lây truyền bởi một số chủng loại muỗi (Aedes aegypti).

Các dữ liệu quan trọng

-      Sốt dengue là bệnh nhiễm virut do muỗi lây truyền.
-      Tình trạng nhiễm trùng này gây ra chứng bệnh giống cúm, và thỉnh thoảng phát triển thành biến chứng có khả năng gây tử vong được gọi là sốt xuất huyết.
-      Tỉ lệ mắc bệnh sốt dengue toàn cầu đã gia tăng đáng kể trong các thập niên gần đây.
-      Khoảng một nửa dân số thế giới hiện nay có nguy cơ mắc bệnh này.
-      Sốt dengue được phát hiện ở các vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới trên khắp thế giới, đa số ở các khu vực thành phố và thị trấn.
-      Bệnh sốt xuất huyết là nguyên nhân hàng đầu gây ra tình trạng bệnh nghiêm trọng và tử vong ở trẻ em ở một số nước Châu Á và Mỹ La Tinh.
-      Không có phương pháp điều trị cụ thể nào cho bệnh sốt dengue/sốt xuất huyết, nhưng nếu phát hiện bệnh sớm và được chăm sóc hợp lý sẽ giảm được tỉ lệ tử vong xuống dưới 1%.
-      Khả năng ngăn ngừa và kiểm soát bệnh sốt xuất huyết chủ yếu dựa vào các biện pháp kiểm soát hữu hiệu muỗi gây bệnh.

Sốt dengue là một bệnh nhiễm trùng do muỗi gây ra được tìm thấy ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên toàn thế giới.  Trong những năm gần đây, tình trạng lây nhiễm đã gia tăng chủ yếu ở các khu vực thành phố và thị trấn, và đã trở nên một mối quan tâm chính về sức khỏe công cộng mang tính quốc tế.

Sốt dengue nghiêm trọng (trước đây được gọi là Sốt Xuất HuyếtDengue Haemorrhagic Fever) được tìm ra đầu tiên vào những năm 1950 trong trong thời kỳ dịch sốt xuất huyết bùng phát ở Philippines và Thái Lan.  Ngày nay, bệnh sốt xuất huyết ảnh hưởng đến đa số các nước Châu Á và Châu Mỹ La Tinh, và đã trở thành nguyên nhân hàng đầu gây ra các trường hợp nhập viện và tử vong ở trẻ em sống tại các vùng này.

Có bốn nhóm virut đặc trưng gây ra bệnh sốt dengue (DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4).  Một người đã từng bị sốt dengue do một loại virut gây ra sẽ có khả năng miễn dịch suốt đời chống lại loại virut đó.  Tuy nhiên, khả năng miễn dịch chéo (cross-immunity) đối với các loại virut khác sau khi hồi phục chỉ mang tính tạm thời và bán phần.  Những lần nhiễm trùng tiếp theo do các loại virut khác gây ra sẽ làm tăng nguy cơ phát triển thành bệnh sốt xuất huyết.

Gánh nặng sốt dengue toàn cầu

Tỉ lệ mắc bệnh sốt dengue trên thế giới gia tăng một cách đột ngột trong các thập niên gần đây.  Trên 2,5 tỉ người – trên 40% dân số thế giới – đang có nguy cơ bị sốt dengue.  Tổ Chức Y Tế Thế Giới (World Health Organization – WHO) mới đây ước lượng có khoảng 50 – 100 triệu ca nhiễm bệnh sốt dengue trên toàn thế giới mỗi năm.

Trước năm 1970, chỉ có 9 nước gặp phải dịch sốt xuất huyết.  Chứng bệnh này hiện nay đã trở thành dịch bệnh mang tính địa phương đối với trên 100 nước ở Châu Phi, Châu Mỹ, Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương.  Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương là các khu vực bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất.

Các trường hợp bệnh xảy ra ở Châu Mỹ, Đông Nam Á, và Tây Thái Bình Dương đã vượt quá 1,2 triệu ca bệnh vào năm 2008 và trên 2,2 triệu ca vào năm 2010 (dựa vào các dữ liệu chính thức được cung cấp bởi Các Nước Thành Viên).  Mới đây, con số các trường hợp bệnh được báo cáo tiếp tục gia tăng.  Vào năm 2010, chỉ tính riêng Châu Mỹ đã có 1,6 triệu ca mắc bệnh sốt dengue, trong số đó có 49 000 ca mắc bệnh sốt xuất huyết.

Không chỉ con số các ca mắc bệnh gia tăng khi chứng bệnh này lan truyền qua các khu vực mới, mà các trận dịch còn đang bùng phát.  Nguy cơ bùng phát bệnh sốt dengue hiện nay ở Châu Âu và sự lây truyền mang tính địa phương của chứng bệnh này được báo cáo lần đầu tiên ở Pháp và Croatia vào năm 2012, và các trường hợp bệnh xâm nhập được phát hiện ở ba nước nước Châu Âu khác.

Ước tính có khoảng 500 000 người mắc bệnh sốt xuất huyết đòi hỏi nhập viện mỗi năm, đa số là trẻ em.  Khoảng 2,5% bệnh nhân trong số này bị tử vong.


Có nhiều chủng loại muỗi khác nhau, mà có thể mang một số loại bệnh nhiễm trùng quan trọng và phổ biến nhất trên thế giới, bao gồm bệnh West Nile, sốt rét, sốt vàng da, viêm não do virut, và sốt xuất huyết.









CÁC TÊN GỌI KHÁC

Xuất huyết nhiệt đới cấp tính, Hội chứng sốc sốt xuất huyết, Sốt xuất huyết Philippine, Sốt xuất huyết Thái, Sốt xuất huyết Singapore.


Hình ảnh minh họa này cho thấy một con muỗi nhà ở phía Nam. Loại muỗi này hút máu và mang nhiều dịch bệnh như là viêm não, West Nile, sốt xuất huyết, sốt vàng da, và các loại bệnh khác.










CÁC NGUYÊN NHÂN

Có bốn loại virut sốt nhiệt đới cấp tính khác nhau được xem là nguyên nhân gây ra bệnh sốt xuất huyết. Bệnh sốt xuất huyết xảy ra khi một người mắc phải một loại virut sốt nhiệt đới cấp tính sau khi bị nhiễm bởi một người khác trước đó. Khả năng miễn dịch trước đây đối với một loại virut sốt xuất huyết đóng một vai trò quan trọng trong trường hợp bệnh nghiêm trọng này.


Các loài muỗi thuộc loài muỗi vằn đẻ trứng dưới dạng các mảng trứng trôi nổi ở vũng nước ứ đọng hoặc không chảy. Muỗi đẻ nhiều trứng cùng một lúc kết dính với nhau thành dạng mảng. Một mảng trứng có thể chứa từ 100 đến 400 trứng. Trứng muỗi trải qua giai đoạn ấu trùng và nhộng, sau đó ăn các vi sinh vật trước khi phát triển thành các loài muỗi bay.



Muỗi aedes aegypti là sinh vật chính gây bệnh sốt dengue.  Virut được truyền cho người sau khi bị những con muỗi cái bị nhiễm chích vào.  Sau khi ấp trứng trong vòng 4 – 10 ngày, muỗi bị nhiễm virut có khả năng lây truyền virut suốt chu kỳ sống của nó.

Những người bị nhiễm là những người mang theo mầm bệnh và làm gia tăng mầm bệnh của virut, được xem là ổ virut truyền cho những con muỗi chưa bị nhiễm.  Các bệnh nhân đã bị nhiễm virut sốt dengue có thể lây truyền bệnh nhiễm trùng này (trong 4 – 5 ngày, tối đa 12 ngày) qua các con muỗi Aedes sau khi xuất hiện các triệu trứng đầu tiên.

Muỗi Aedes aegypti sinh sống ở các khu đô thị và sinh sản phần lớn ở các vật đựng nhân tạo.  Không giống các loài muỗi khác, muỗi Aedes aegypti là sinh vật đi hút máu vào ban ngày, thời gian hoạt động cao điểm là vào sáng sớm và trước khi trời tối.  Muỗi Aedes aegypti cái chích nhiều người trong mỗi lần đi hút máu.

Muỗi aedes albopictus, một loài sinh vật đứng thứ hai gây bệnh sốt dengue ở Châu Á, đã lan truyền đến Bắc Mỹ và Châu Âu phần lớn qua đường buôn bán quốc tế về vỏ xe (một môi trường sinh sản cho muỗi) và các hàng hóa khác (ví dụ: cây phát tàilucky bamboo).  Muỗi Aedes albopictus có khả năng thích nghi rất cao và do đó có thể tồn tại ở các vùng khí hậu mát mẻ ở Châu Âu.  Khả năng lan truyền bệnh của loại muỗi này là do khả năng chịu đựng được ở nhiệt độ dưới nhiệt độ đóng băng, nghỉ ngơi vào mùa đông, và khả năng trú ẩn ở những nơi cư trú rất nhỏ (bụi cỏ, kẽ đá,…)

Trên phạm vi toàn thế giới, có trên 100 triệu trường hợp mắc bệnh sốt dengue xảy ra mỗi năm.  Một số nhỏ các trường hợp này phát triển thành bệnh sốt xuất huyết (dengue hemorrhagic fever hoặc severe dengue).  Đa số các trường hợp bệnh ở Hoa Kỳ là do lây nhiễm từ các nước khác.  Một người đi du lịch trở về lại Hoa Kỳ có thể sẽ lây nhiễm cho những người không đi du lịch.

Các yếu tố gây nguy cơ mắc bệnh sốt xuất huyết bao gồm: có kháng thể của virut sốt nhiệt đới cấp tính từ lần nhiễm bệnh trước và dưới 12 tuổi, phụ nữ, hoặc người da trắng.

CÁC TRIỆU CHỨNG

Các triệu chứng ban đầu của sốt xuất huyết cũng tương tự như bệnh sốt nhiệt đới cấp tính, nhưng sau vài ngày bệnh nhân trở nên khó chịu, thao thức, và đổ mồ hôi. Các triệu chứng này được theo sau bởi một trạng thái giống như sốc.

Xuất huyết có thể xuất hiện dưới dạng các đốm máu nhỏ trên da (đốm xuất huyết) và các mảng máu lớn trên da (vết bầm máu). Tổn thương nhẹ có thể gây ra chảy máu.


Hình ảnh này cho thấy ấu trùng muỗi, là giai đoạn đầu của chu kỳ sống của muỗi.












Sốc có thể gây tử vong. Nếu bệnh nhân qua khỏi được, thì sẽ bắt đầu hồi phục trở lại sau một ngày bệnh thập tử nhất sanh .

Sốt dengue là một chứng bệnh giống cúm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến các trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và người thành niên, nhưng thỉnh thoảng có thể gây tử vong.

Sốt dengue nên bị nghi ngờ khi tình trạng sốt cao (104oF/40oC) đi kèm với hai trong số các triệu chứng sau: nhức đầu nghiêm trọng, đau phía trong mắt, đau nhức cơ và khớp, buồn nôn, nôn mửa, các tuyến bị sưng hoặc phát ban.  Các triệu chứng thường kéo dài trong vòng từ 2 – 7 ngày, sau một khoảng thời gian ấp trứng từ 4 – 10 ngày sau khi bị muỗi nhiễm virut chích.

Bệnh sốt xuất huyết là một biến chứng có thể gây tử vong do rò rỉ huyết tương, tích tụ dịch, rối loạn hô hấp, xuất huyết nghiêm trọng, hoặc suy yếu chức năng của cơ quan.  Các dấu hiệu cảnh báo xảy ra trong vòng từ 3 – 7 ngày sau khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên kết hợp với tình trạng hạ thân nhiệt (dưới 100oF/ 38oC) và bao gồm: đau bụng nghiêm trọng, nôn mửa liên tục, thở nhanh, chảy máu nứu răng, mệt mỏi, khó chịu, nôn mửa ra máu.  Giai đoạn nguy kịch trong vòng từ 24 – 48 giờ kế tiếp có thể gây chết người; do đó sự chăm sóc y tế thích hợp là rất cần thiết để phòng tránh các biến chứng và nguy cơ tử vong.

Các triệu chứng ban đầu bao gồm:

-      Giảm khẩu vị
-      Sốt
-      Đau đầu
-      Đau khớp
-      Suy nhược
-      Đau nhức cơ
-      Ói mửa

Các triệu chứng của giai đoạn cấp tính bao gồm:

-      Sự bồn chồn theo sau bởi:
• Vết bầm máu
• Phát ban toàn thân
• Đốm xuất huyết
• Các triệu chứng ban đầu trở xấu
-      Tình trạng giống như sốc
• Cảm lạnh, tay chân lạnh và ẩm ướt
• Đổ mồ hôi (toát mồ hôi)

CÁC KIỂM TRA VÀ XÉT NGHIỆM

Một cuộc kiểm tra sức khỏe có thể cho thấy:

-      Sưng gan (sự phình to gan)
-      Huyết áp thấp
-      Phát ban
-      Đỏ mắt
-      Cổ họng đỏ
-      Sưng tuyến
-      Nhịp tim đập nhanh, yếu

Các xét nghiệm có thể bao gồm:

-      Kiểm tra nồng độ khí trong máu ở động mạch (đo độ pH, nồng độ O2 và CO2 trong máu ở động mạch)
-      Xét nghiệm đông máu
-      Xét nghiệm chất điện phân
-      Xét nghiệm tỉ lệ phần trăm hồng cầu trong máu
-      Các enzyme gan
-      Số lượng tiểu cầu
-      Các xét nghiệm về huyết thanh (làm hiển thị các kháng thể kháng virut sốt cấp tính)
-      Xét nghiệm huyết thanh từ mẫu thử được lấy trong thời kỳ bệnh cấp tính và giai đoạn hồi phục (tăng độ chuẩn kháng nguyên sốt cấp tính)
-      Kiểm tra ga-rô (làm cho các đốm xuất huyết xuất hiện bên dưới băng ga-rô)
-      Chụp X-quang ở ngực (có thể cho thấy tình trạng tràn dịch màn phổi)

ĐIỀU TRỊ

Vì sốt xuất huyết do một loại virut gây ra mà được biết là không có phương pháp nào hoặc loại vắc xin nào có thể chữa khỏi, do đó cách điều trị duy nhất là chữa trị các triệu chứng.

-      Truyền máu hoặc đo số lượng tiểu huyết cầu có thể chữa trị vấn đề chảy máu.
-      Nước biển (IV) và chất điện phân cũng được sử dụng để điều trị tình trạng mất cân bằng chất điện phân
-      Liệu pháp thở bằng máy truyền oxy có thể cần thiết để điều chỉnh lượng oxy trong máu xuống thấp bất thường.
-      Bổ sung dung dịch bằng nước biển (IV) thường cần thiết để điều trị tình trạng mất nước trong cơ thể
-      Chăm sóc hỗ trợ trong phòng chăm sóc đặc biệt tại bệnh viện.

DỰ ĐOÁN

Với sự chăm sóc tích cực và kịp thời, hầu hết các bệnh nhân có thể hồi phục sau khi nhiễm bệnh sốt xuất huyết. Tuy nhiên, một nửa số bệnh nhân không được điều trị sẽ đi vào cơn sốc và không qua khỏi được.


Đây là những con nhộng muỗi.  Đây là một giai đoạn khác trong sự phát triển của muỗi.













CÁC BIẾN CHỨNG CÓ THỂ XẢY RA

-      Bệnh về não
-      Tổn thương gan
-      Tổn thương não
-      Động kinh
-      Sốc

KHI NÀO CẦN LIÊN HỆ VỚI BÁC SĨ

Hãy điện thoại cho bác sĩ ngay nếu bạn có các triệu chứng của sốt xuất huyết và đang ở trong một khu vực mà được biết bệnh sốt xuất huyết đang xảy ra, đặc biệt là nếu bạn đã từng bị sốt nhiệt đới cấp tính trước đây.


NGĂN NGỪA

Chưa có loại vắc xin nào có thể ngăn ngừa chứng bệnh sốt nhiệt đới cấp tính. Hãy sử dụng các vật dụng bảo vệ cá nhân như quần áo che được hết cơ thể, lưới, thuốc đuổi muỗi chứa DEET, và nếu có thể nên đi du lịch trong giai đoạn muỗi hoạt động tối thiểu. Các chương trình tiêu diệt muỗi (của địa phương) cũng có thể giúp làm giảm nguy cơ nhiễm bệnh.


Một kháng thể là một loại protein được sản sinh bởi hệ thống miễn dịch để thích ứng với kháng nguyên hiện diện.

Các kháng nguyên là các phân tử lớn (thường là protein) trên bề mặt của tế bào, của virut, nấm, vi khuẩn, và một số chất không có sự sống như các chất độc, các hóa chất, các loại thuốc, và các phần tử lạ đưa từ ngoài vào. Hệ thống miễn dịch nhận ra các kháng nguyên và sản sinh các kháng thể để tiêu diệt các chất chứa trong các kháng nguyên. 

Hiện tại, phương pháp duy nhất để kiểm tra hoặc phòng tránh sự lây truyền virut bệnh sốt dengue là chiến đấu với các loại muỗi gây bệnh, bằng cách:

-      ngăn ngừa muỗi tìm được môi trường đẻ trứng bằng cách quản lý môi trường và thay đổi môi trường;
-      xử lý chất thải cứng hợp lý và loại bỏ các môi trường sống nhân tạo của muỗi;
-      đậy kín, làm cạn và rửa sạch các nguồn dự trữ nước trong gia đình mỗi tuần;
-      sử dụng các loại thuốc trừ muỗi thích hợp cho các nguồn dự trữ nước ngoài trời;
-      sử dụng các vật dụng cá nhân có tính bảo vệ, chẳng hạn như lưới cửa sổ, áo dài tay hoặc quần dài, các chất được xử lý bằng thuốc trừ muỗi, máy đuổi muỗi và các dụng cụ phun hơi;
-      tăng cường sự tham gia của cộng đồng và huy động diệt trừ muỗi thường xuyên
-      xịt muỗi trong thời gian dịch bệnh bùng phát như một biện pháp khẩn cấp kiểm soát sinh vật gây bệnh.
-      tích cực quan sát và theo dõi các sinh vật gây bệnh để xác định các phương pháp can thiệp kiểm soát hữu hiệu.


References (CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO)

Halstead SB. Dengue fever/dengue hemorrhagic fever. In: Cohen J, Powderly WG, Berkley SF, Calandra T, Clumeck N, Finch RG, eds. Principles and Practice of Infectious Diseases. 6th ed. Philadelphia, Pa; Churchill Livingstone Elsevier; 2005: chap 184.
Tsai TF, Vaughn DW, Solomon T. Flaviviruses (yellow fever, dengue, dengue hemorrhagic fever, Japanese encephalitis, West Nile encephalitis, St. Louis encephalitis, tick-borne encephalitis). In: Mandell GL, Bennett JE, Dolin R, eds. Principles and Practice of Infectious Diseases. 6th ed. Philadelphia, Pa: Churchill Livingstone Elsevier; 2005: chap 149.



Nguồn (Sources):



Sunday, May 20, 2012

BỘ NÃO VÀ CƠ THỂ CỦA BẠN CÓ CẦN VITAMIN KHÔNG? (DO YOU NEED VITAMINS FOR YOUR BRAIN AND BODY?) - Do LQT Biên Dịch



Người Mỹ chi phí hàng tỉ Mỹ kim cho các loại thực phẩm chức năng khoáng chất đa vitamin; họ có thu được lợi ích gì cho sự đầu tư này chăng?  Không hoàn toàn.  Vô số các nghiên cứu bao gồm hàng trăm ngàn đàn ông và phụ nữ của mọi lứa tuổi và mọi kiểu gen di truyền đã không cho thấy được lợi ích hoặc cho thấy rất ít các lợi ích từ việc sử dụng một loại thực phẩm chức năng khoáng chất đa vitamin mỗi ngày.  Có một nghiên cứu quy mô lớn đã theo dõi cuộc sống của 182000 phụ nữ và nam giới, cho thấy những ai sử dụng các loại đa vitamin (multivitamin) đã không sống lâu hơn hoặc ít có bệnh tim và ung thư hơn, đây là hai căn bệnh gây chết người đứng đầu ở Hoa Kỳ (Am J Epidemiol 173: 906, 2011).  Khi 161000 phụ nữ hậu mãn kinh được theo dõi, thì những phụ nữ sử dụng các loại đa vitamin đã không cho thấy giảm bớt được khả năng bị ung thư ngực, ung thư buồng trứng, và các loại ung thư khác khi được so sánh với những phụ nữ không sử dụng các loại đa vitamin (Arch Intern Med 169: 294, 2009).  Khi 83000 đàn ông trung niên và cao niên được theo dõi, thì những người sử dụng các loại đa vitamin hàng ngày đã không biểu hiện được khả năng giảm bớt tử vong do bệnh tim mạch vành hoặc tai biến mạch máu não gây ra khi được so sánh với những nam giới không sử dụng các loại đa vitamin (Arch Intern Med 162: 1472, 2002).



Vì thế có thể bạn vẫn hy vọng rằng việc sử dụng các loại đa vitamin ít nhất cũng có thể đem lại được các lợi ích khiêm tốn cho sự đầu tư đáng kể về thời gian và tiền bạc của bạn.  Thật đáng buồn rằng, sau nhiều thập niên nghiên cứu, các chứng cứ chứng minh cho thậm chí các lợi ích sức khỏe khiêm tốn nhất cũng vẫn chưa chắc chắn lắm.  Ngay cả khi các nhà nghiên cứu kiểm tra các lợi ích của các loại đa vitamin đối với các triệu chứng có liên quan đến bệnh cảm lạnh thông thường, họ vẫn không tìm thấy được các lợi ích quan trọng nào về sức khỏe (J Am Geriatr Soc 55:35, 2007; Br Med J 331: 324, 1005; JAMA 288: 715; 2002). 

Về phần não bộ thì sao?  Chắc chắn rằng các loại đa vitamin sẽ có lợi cho não nếu chúng ta nhìn vào hàng trăm sự xác nhận trên internet!  Điều này không chính xác.  Khi các vị cao tuổi nam và nữ có sức khỏe tốt, ở độ tuổi từ 60 – 91, được cho sử dụng các loại đa vitamin trong vòng 6 tháng, họ đã không có được những biểu hiện tốt hơn trong các kiểm tra về trí nhớ và chức năng nhận thức khi được so sánh với những vị cao tuổi được cho sử dụng các loại giả dược (Prev Med 41:253, 2005; Nutr J. 6:10, 2007).  Các loại thực phẩm chức năng vitamin E không còn được khuyến khích sử dụng cho việc tăng cường sức khỏe của não.  Thật vậy, việc sử dụng liều lượng cao vitamin E trước đây được xem là có thể giúp làm chậm sự khởi phát của chứng mất trí do cao tuổi thì bây giờ được xác nhận là sẽ làm gia tăng nguy cơ xuất huyết não (Ann Pharmacother, 39: 2073, 2005). 

Mặc dù vẫn chưa có đủ chứng cứ cho rằng các loại đa vitamin cung cấp các lợi ích lâu dài về sức khỏe, nhưng tất cả chúng ta đều “nghiện” sử dụng các loại đa vitamin này.  Đây là lý do tại sao người Mỹ được xem là nhóm người sản sinh ra loại nước tiểu đắt tiền nhất thế giới.  Chúng ta sẽ bài tiết ngay những gì cơ thể không cần đến.  Tuy nhiên, khả năng bài tiết này là một lợi thế bởi vì nó bảo vệ chúng ta chống lại các tác dụng phụ độc hại khi tiêu thụ quá nhiều một số loại vitamin.  Ví dụ, vitamin A, D, E và K đặc biệt có nhiều rủi ro bởi vì chúng là những loại vitamin hòa tan trong chất béo và có thể tích tụ trong các đệm chất béo của cơ thể hoặc trong não bộ.  Tuy nhiên, tính độc hại thường chỉ có thể quan sát được sau khi uống vào liều lượng quá cao.  Chúng ta cần đến các loại vitamin để có được sức khỏe tốt nhưng nếu sử dụng quá nhiều thì có thể sẽ rất có hại.



Các mối lo ngại về các loại vitamin cũng như sự cân bằng giữa các nguy cơ và các lợi ích được nói đến trong những năm đầu của thập niên 1950 khi các bậc phụ huynh biết được rằng các chất có tính hóa học mạnh, đó là vitamin và khoáng chất, được thêm vào trong các loại ngũ cốc dùng cho bữa điểm tâm ưa thích của trẻ em.  Giải pháp khắc phục cho các nhà sản xuất là tạo hình tượng cho những viên thuốc này như những nhân vật hoạt hình ngốc nghếch nổi tiếng.  Gần đây vào năm 2004, nước Đan Mạch đã cấm các loại ngũ cốc được tăng cường bằng một số loại vitamin bởi vì có các mối lo ngại cho rằng hàm lượng quá cao vitamin B-6, canxi, axit folic và chất sắt có thể đạt đến mức độc hại nếu tiêu thụ mỗi ngày.  Nguy cơ này thì đặc biệt cao ở các trẻ nhỏ - là nhóm người tiêu thụ chủ yếu các loại ngũ cốc được tăng cường vitamin.  Người Đan Mạch có thể đã phản ứng quá mạnh mẽ đối với vấn đề này.  Tuy nhiên, sử dụng các loại vitamin mỗi ngày có thể không phải là một ý tưởng tốt nếu bạn đang ăn một loại ngũ cốc có chứa 100% hàm lượng được khuyến khích tiêu thụ mỗi ngày.

Nói chung, đa số chúng ta đang lãng phí tiền bạc bởi vì chúng ta hoàn toàn tin rằng chúng ta cần đến các loại hóa chất này để có được sức khỏe tốt.  Các chứng cứ có liên quan đến dịch tễ học không hỗ trợ cho niềm tin này.  Thật vậy, có một vài loại mà đã từng được xem là rất quan trọng đối với sức khỏe, chẳng hạn như selen hoặc vitamin A, thì cũng không hẳn là có hại.  Thật vậy, các đề xuất gần đây cho rằng nên tránh sử dụng liều lượng cao các loại thực phẩm chức năng này (Ann Inter Med 147:114, 2007). 

Tuy nhiên, và điều này không thể cường điệu hóa, một số người thực sự cần đến các thực phẩm chức năng của một số loại vitamin và khoáng chất do chế độ ăn uống không lành mạnh, bệnh tật, cao tuổi, giới tính, hoặc không có điều kiện tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, và đây chỉ là một vài lý do chính.  Tất cả chúng ta đều lưu ý đến các đề xuất cho rằng một số người trong chúng ta cần sản sinh nhiều vitamin D hơn, sử dụng axit folic trong thời gian mang thai, uống một số loại vitamin B để giúp cho não hoạt động tốt hơn và có sức khỏe tốt hơn, và tiêu thụ thêm chất sắt, đặc biệt là đối với phụ nữ dưới 50 tuổi.  Do vai trò quan trọng của chất sắt trong các phản ứng hóa học ở não, chứng thiếu máu thường có liên quan đến tình trạng lãnh đạm và trầm cảm.  Tình trạng thiếu chất sắt cũng được tìm thấy ở các trẻ em bị chứng rối loạn thiếu tập trung/hiếu động thái quá (J Nutr Health Aging, 10:377, 2006).  Sau cùng, bất kể bạn là ai, bạn cũng nên đưa thêm chất canxi vào chế độ ăn uống. 



Mức độ vừa phải vẫn là phương pháp tốt nhất cho đa số chúng ta, đó là bao gồm số lượng vừa đủ calo tiêu thụ mỗi ngày, tập thể dục vừa sức mỗi ngày, và cố gắng tiêu thụ các loại vitamin và khoáng chất từ các nguồn thực phẩm tự nhiên.



Nguồn (Source):





Saturday, May 19, 2012

MỤN NƯỚC "50 - 50" ("HALF-HALF" BLISTERS) - Do LQT Biên Dịch


Bác sĩ, Tiến sĩ Y Khoa Michael O’Connell, và Bác sĩ Y Khoa Victoria Goulden
N Engl J Med 2012; 366:e31May 17, 2012



Một người đàn ông 66 tuổi xuất hiện với tình trạng nổi mụn mủ cấp tính (acute pustular eruption).  Theo kiểm tra, một vùng phát ban hình vòng với nhiều mụn giộp được phát hiện ở phần thân của bệnh nhân; các mụn giộp chứa dịch màu vàng và trong suốt.  Bệnh nhân không có các triệu chứng về da hoặc các triệu chứng ảnh hưởng toàn thân có liên quan, và không ảnh hưởng đến mặt cũng như niêm mạc.  Kiểm tra một mẫu sinh tiết (biopsy) được lấy từ một mụn giộp của bệnh nhân cho thấy là mụn nước dưới lớp biểu bì và các đặc điểm khác đặc trưng cho bệnh viêm da mụn mủ dưới lớp biểu bì (subcorneal pustular dermatosis).  Phương pháp tạo phản quang trực tiếp bằng chất huỳnh quang (direct immunofluorescent staining) cho thấy kháng thể IgA tích tụ trong lớp biểu bì trên bề mặt da.  Bệnh viêm da mụn mủ dưới lớp biểu bì là một bệnh viêm da mụn mủ thường ảnh hưởng đến các khu vực đường cong ở phần thân và tay chân.  Gương mặt và các bề mặt niêm mạc thường không bị ảnh hưởng.  Những chỗ bị thương tổn thường có hình dạng các mụn giộp “50-50”, một nửa chứa mủ và một nửa chứa chất dịch trong suốt.  Sau đó, các mụn giộp này hợp lại tạo thành các hình vòng và có mép răng cưa hoặc gợn sóng.  Không giống bệnh viêm da mụn mủ ban đỏ cấp tính gây ngứa ảnh hưởng toàn thân (generalized erythematous pustulosis) có dạng bên ngoài tương tự, bệnh viêm da mụn mủ dưới lớp biểu bì không có liên quan đến thuốc.   Nó thường là tự phát hoặc không rõ nguyên nhân, nhưng trong một nhóm nhỏ các bệnh nhân, sự tích tụ kháng thể IgA có thể được phát hiện khi sử dụng phương pháp tạo phản quang trực tiếp bằng huỳnh quang, và được cho rằng hiện tượng này chồng lấp với bệnh pemphigus IgA (một trong số các chứng bệnh cấp tính hoặc mãn tính về da, đặc trưng bởi các nhóm mụn nước gây ngứa).  Được báo cáo có liên quan đến rối loạn tổng hợp kháng thể IgA sản sinh vô tính đơn (monoclonal gammopathy) và u tủy (myeloma).  Bệnh nhân không bị loạn thể tạng (dyscrasia: rối loạn khí chất).  Sau khi chẩn đoán bệnh, thuốc dapsone được chọn lựa để điều trị, nhưng bệnh nhân đã phát triển chứng thiếu máu hoại hồng cầu hay thiếu máu tan huyết (hemolytic anemia) sau khi sử dụng thuốc này.  Mặc dù các tình trạng nổi mụn mủ loại này thường không có phản ứng hiệu quả với các loại thuốc glucocorticoid, nhưng bệnh nhân đã có phản ứng trị liệu khả quan đối với các loại thuốc này.


Bác sĩ, Tiến sĩ Y Khoa Michael O’Connell
Bác sĩ Y Khoa Victoria Goulden
Bệnh viện Leeds General Infirmary, Leeds, Liên Hiệp Vương Quốc Anh


KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

Nếu mụn nước (blister: mụn giộp) không gây đau nhức nghiêm trọng, hãy cố tránh đừng chạm vào.  Lớp da bao bọc mụn nước tạo ra một màng chắn tự nhiên ngăn ngừa vi khuẩn và có tác dụng làm giảm nguy cơ nhiễm trùng.  Dùng băng cá nhân (bandage) che lại mụn nước có kích thước nhỏ, và dùng bông băng có lớp nhựa và có lỗ che lại mụn nước có kích thước lớn, vì loại bông băng này có khả năng hút ẩm và cho phép vết thương được thoáng khí.  Nếu bạn bị dị ứng với băng dán cá nhân hoặc bông băng, hãy sử dụng loại băng giấy.

Đừng chọc thủng mụn nước trừ khi nó gây đau nhức hoặc làm cho bạn không thể đi bộ hoặc sử dụng tay chân.  Nếu bạn bị bệnh tiểu đường (đái tháo đường) hoặc gặp vấn đề về tuần hoàn máu, hãy thảo luận với bác sĩ trước khi tiến hành các biện pháp tự chăm sóc dưới đây.

Cách rút chất lỏng trong mụn giộp

Để giúp giảm đau có liên quan đến mụn nước (mụn giộp), hãy rút chất lỏng trong mụn giộp nhưng đừng chạm đến lớp da bao bọc nó.  Sau đây là phương pháp thực hiện:

-      Rửa sạch tay và mụn giộp bằng xà phòng và nước ấm.
-      Dùng tăm bông (swab) tẩm dung dịch Iốt hoặc cồn rửa để khử trùng mụn giộp.
-      Khử trùng một cây kim sắc nhọn bằng dung dịch cồn rửa (rubbing alcohol).
-      Sử dụng cây kim này để chọc thủng mụn giộp.  Nhắm vào một số điểm gần mép của mụn giộp.  Để cho chất lỏng trong mụn giộp chảy ra, nhưng đừng chạm đến lớp da bao bọc mụn giộp.
-      Bôi (thoa) thuốc kháng sinh dạng mỡ lên mụn giộp và dùng băng cá nhân hoặc bông băng che lại vết thương.
-      Sau vài ngày, cắt bỏ các lớp da chết bằng nhíp (tweezers) và kéo (scissors) được khử trùng bằng dung dịch cồn.  Bôi (thoa) thêm thuốc kháng sinh và thay băng cá nhân.

Hãy điện thoại cho bác sĩ (hoặc đến gặp bác sĩ) nếu bạn thấy có dấu hiệu bị nhiễm trùng xung quanh mụn giộp, chẳng hạn như có mủ, bị mẫn đỏ, đau nhức nhiều hơn hoặc vùng da ở quanh khu vực mụn giộp có cảm giác ấm.

Ngăn ngừa mụn giộp

Để ngăn ngừa mụn giộp, hãy sử dụng bao tay, vớ (tất), băng cá nhân hoặc bông băng để che lại khu vực bị chà xát.  Các loại vớ (tất) đặc biệt dành cho các vận động viên được bán trên thị trường, các loại vớ này có lót đệm ở các khu vực quan trọng.  Bạn cũng có thể sử dụng miếng lót giầy để tránh bị chà xát, đặc biệt ở khu vực gót chân.



Nguồn (Source):