About

Wednesday, April 25, 2012

DẦU CÁ (FISH OIL) - Do LQT Biên Dịch


LIỀU LƯỢNG

Các liều lượng sau đây được dựa trên nghiên cứu khoa học, các ấn phẩm, truyền thống, hoặc ý kiến của chuyên gia.  Nhiều loại dược thảo và thực phẩm chức năng vẫn chưa được kiểm tra triệt để, tính an toàn và hiệu quả vẫn chưa được xác nhận.  Các nhãn hiệu có thể được thiết kế khác nhau, với các thành phần khác nhau, mặc dù cùng một nhãn hiệu.  Các liều lượng dưới đây có thể không áp dụng cho tất cả các sản phẩm.  Bạn nên đọc nhãn sản phẩm, và tham khảo liều lượng với bác sĩ trước khi bắt đầu sử dụng.

Người thành niên (18 tuổi trở lên):

Liều lượng tiêu thụ trung bình axit béo omega-3/omega-6: Người Mỹ bình thường tiêu thụ khoảng 1,6 g axit béo omega-3 mỗi ngày, trong đó khoảng 1,4 g (khoảng 90%) là axit alpha-linolenic, và chỉ 0,1 – 0,2 g (khoảng 10%) là axit béo EPA và DHA.  Người Phương Tây tiêu thụ axit béo omega-6 gấp 10 lần axit béo omega-3.  Số lượng lớn axit béo omega-6 này là do sử dụng các loại dầu thực vật chứa axit linoleic [ví dụ: dầu bắp, dầu anh thảo, dầu bí ngô (pumpkin oil), dầu rum (safflower oil), dầu mè, dầu đậu nành, dầu hoa hướng dương, dầu quả óc chó, dầu mầm lúa mì (wheatgerm oil)].  Vì axit béo omega-6 và omega-3 cạnh tranh với nhau để được chuyển đổi thành các chất chuyển hóa trong cơ thể, để có được các lợi ích về sức khỏe thì cơ thể cần giảm tiêu thụ các axit béo omega-6, hoặc gia tăng tiêu thụ các axit béo omega-3.

Liều lượng tiêu thụ axit béo omega-3 mỗi ngày được khuyến khích (dành cho người thành niên khỏe mạnh): Đối với người thành niên có sức khỏe tốt và không có bệnh sử về bệnh tim, Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ (American Heart Association) đề xuất ăn cá ít nhất mỗi tuần 2 lần.  Một cách cụ thể là, cá nhiều chất béo (fatty fish) được khuyến khích tiêu thụ, chẳng hạn như cá trống (anchovy), cá xanh (bluefish), cá chép (carp), cá bông lau (catfish), cá bơn lưỡi ngựa (halibut), cá trích (herring), cá hồi hồ (lake trout), cá thu (mackerel), cá nục (pompano), cá hồi (salmon), cá mú sọc (striped sea bass), cá tuna (albacore), và cá trắng (whitefish).  Hiệp hội này cũng khuyến khích tiêu thụ các nguồn axit alpha-linolenic từ thực vật, chẳng hạn như đậu hũ/đậu nành, quả óc chó (walnut), dầu hạt lanh (flaxseed oil), và dầu cải (canola oil).  Tổ Chức Y Tế Thế Giới (World Health Organization) và các tổ chức sức khỏe chính phủ của một số nước đề xuất tiêu thụ từ 0,3 – 0,5 g axit béo EPA+DHA mỗi ngày và từ 0,8 – 1,1 g axit alpha-linolenic mỗi ngày.  Nên tham khảo với bác sĩ và dược sĩ về liều lượng cho các chứng bệnh khác.

Trẻ Em (dưới 18 tuổi):

Các axit béo omega-3 được sử dụng trong một số thức ăn của sơ sinh, mặc dù rằng liều lượng hiệu quả vẫn chưa được xác định một cách rõ ràng.  Nên hạn chế cho các trẻ nhỏ tiêu thụ cá tươi do các chất ô nhiễm môi trường gây hại có thể hiện diện trong cá tươi.  Không nên cho trẻ em sử dụng các viên nang dầu cá, ngoại trừ dưới sự hướng dẫn của bác sĩ.

UỐNG BẰNG MIỆNG:

-      Cao triglyceride: 1 – 4 g dầu cá mỗi ngày
-      Cao huyết áp: 4 g dầu cá hoặc dầu cá cung cấp 2,04 g EPA và 1,4 g DHA mỗi ngày.
-      Tình trạng tâm nhĩ co bóp bất thường (atrial fibrillation: một trong các ngăn tim không bơm máu bình thường và do đó làm tăng nguy cơ bị huyết khối dẫn đến tình trạng đột quỵ): Ăn cá tuna hoặc cá nướng (cung cấp các axit béo omega-3) mỗi tuần 1 hoặc nhiều lần xem ra có thể giảm bớt nguy cơ bị tình trạng tâm nhĩ co bóp bất thường ở các bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên so với việc tiêu thụ cá một lần mỗi tháng hoặc ít hơn.  Ăn cá chiên hoặc bánh mì cá chiên không mang lại lợi ích nào.
-      Các vấn đề về thận có liên quan đến việc sử dụng cyclosporine để ngăn ngừa tình trạng bài thải bộ phận ghép: 12 g mỗi ngày chứa 2,2 g EPA và 1,4 g DHA.
-      Giảm nguy cơ chung bị tử vong và nguy cơ bị đột tử ở các bệnh nhân mắc bệnh tim mạch vành: Dầu cá cung cấp từ 0,3 – 6 g axit béo EPA với 0,6 đến 3,7 g axit béo DHA.
-      Bệnh suyễn ở trẻ em: Dầu cá cung cấp từ 17 – 26,8 mg/kg EPA và từ 7,3 – 11,5 mg/kg DHA để hạ giảm triệu chứng.  Phụ nữ mang thai tiêu thụ 4 g dầu cá mỗi ngày, cung cấp 32% EPA và 23% DHA với tocopherol (vitamin E), trong giai đoạn cuối mang thai đã được sử dụng để ngăn ngừa bệnh suyễn phát triển ở trẻ em.
-      Ngăn ngừa dị ứng ở trẻ em:  Phụ nữ mang thai tiêu thụ 4 g dầu cá mỗi ngày, cung cấp 32% EPA và 23% DHA với tocopherol (vitamin E), trong giai đoạn cuối mang thai.
-      Ngăn ngừa phát ban ngứa da mãn tính ở trẻ em: Phụ nữ mang thai tiêu thụ 4 g dầu cá mỗi ngày, cung cấp 32% EPA và 23% DHA với tocopherol (vitamin E), trong giai đoạn cuối mang thai.
-      Trị bệnh suyễn: 17 – 26,8 mg/kg EPA và 7,3 – 11,5 mg/kg DHA.
-      Ngăn ngừa và nghịch chuyển sự tiến triển của quá trình xơ cứng động mạch: 6 g dầu cá mỗi ngày trong 3 tháng đầu, sau đó là 3 g mỗi ngày.
-      Viêm thấp khớp (viêm khớp dạng thấp): Dầu cá cung cấp 3,8 g EPA và 2 g DHA mỗi ngày.
-      Rối loạn quá hiếu động thiếu tập trung (attention deficit-hyperactivity disorder – ADHD): Một loại thực phẩm chức năng chứa 400 mg dầu cá và 100 mg dầu anh thảo (Eye Q, Novasel), 6 viên nang mỗi ngày.
-      Ngăn ngừa sẩy thai ở phụ nữ bị hội chứng kháng thể kháng photpholipit (antiphospholipid antibody syndrome) và từng bị sẩy thai trong quá khứ: 5,1 g dầu cá với tỉ lệ 1,5 EPA:DHA.
-      Hành kinh bị đau: Liều lượng mỗi ngày bao gồm 1080 mg EPA và 720 mg DHA.
-      Hội chứng Raynaud: Liều lượng mỗi ngày bao gồm 3,96 g EPA và 2,64 g DHA.
-      Giảm cân: Liều lượng mỗi ngày gồm 2 – 7 oz (57 – 198 g) cá chứa khoảng 3,65 g axit béo omega-3 (0,66 g từ EPA và 0,60 g từ DHA).
-      Làm chậm tình trạng xuống cân ở bệnh nhân ung thư: mỗi ngày 7,5 g dầu cá, cung cấp 4,7 g EPA và 2,8 g DHA.
-      Cải thiện các rối loạn vận động (movement disorder) ở trẻ em bị rối loạn phối hợp vận động: Dầu cá chứa 480 mg DHA kết hợp với 35 mg axit arachidonic và 96 mg axit gamma-alpha linolenic từ dầu anh thảo, 24 mg dầu cỏ xạ hương (húng tây), và 80 mg vitamin E (Efalex).
-      Chứng trầm cảm cùng với các loại thuốc chống trầm cảm truyền thống: 9,6 g dầu cá mỗi ngày.
-      Ngăn ngừa rối loạn tâm thần toàn phần phát triển ở những người bị các triệu chứng nhẹ: 1,2 g dầu cá mỗi ngày.
-      Giữ cho tĩnh mạch mở sau phẫu thuật bắc cầu mạch vành: Mỗi ngày 4 g dầu cá chứa 2,04 g EPA và 1,3 g DHA.
-      Ngăn ngừa động mạch đóng lại được khai thông bởi trị liệu “bong bóng” (PTCA):  6 g dầu cá mỗi ngày bắt đầu một tháng trước khi trị liệu “bong bóng” và sau phẫu thuật tiếp tục một tháng, sau đó 3 g dầu cá mỗi ngày trong vòng 6 tháng.
-      Giảm bớt và ngăn ngừa huyết áp tăng cao liên tục và dài hạn cũng như duy trì chức năng thận sau khi ghép tim: Mỗi ngày 4 g dầu cá (46,5% EPA và 37,8% DHA).
-      Ngăn ngừa máu đóng cục sau khi đặt ống thẩm tách (lọc máu): 6 g dầu cá mỗi ngày.
-      Duy trì chức năng thận ở các bệnh nhân bị bệnh thận IgA nghiêm trọng: 4 – 8 g dầu cá mỗi ngày.
-      Cao triglyceride và cao cholesterol: Sử dụng dầu cá cung cấp 1800 – 2160 mg EPA và 1200 – 1440 mg DHA kết hợp với 1800 – 2160 mg bột tỏi mỗi ngày để hạ mức cholesterol tổng cộng, LDL, triglyceride, và tỉ lệ cholesterol tổng cộng với HDL, và tỉ lệ LDL với HDL.
-      Tình trạng không dung nạp salicylate: 10 g dầu cá mỗi ngày.