About

Saturday, April 14, 2012

CÁC VẤN ĐỀ CẦM MÁU VÀ NGHẼN MẠCH (HEMOSTASIS AND THROMBOSIS ISSUES) - Do LQT Biên Dịch

Click here to load this Caspio Cloud Database

Đăng ngày: Thứ tư, 14 tháng 3 năm 2012
Tác giả: Dược sĩ Charles H. Brown, MSPharm, RPh, CACP (Chuyên gia kháng đông được chứng nhận)

Trị liệu bằng thuốc statin được báo cáo là có tác dụng chống máu kết khối trong mạch máu

Mặc dù phương pháp trị liệu bằng thuốc statin đa số được chỉ định để hạ thấp mức cholesterol, nhưng bên cạnh đó statin còn có các lợi ích khác, bao gồm kháng viêm và chống máu kết khối trong mạch máu.  Những người có mức cholesterol tăng cao thì có nhiều nguy cơ hình thành xơ vữa trong các động mạch.  Trong một số trường hợp, mảng vữa bên trong các mạch máu có thể bị xé rách, do đó kích hoạt sự hình thành của một huyết khối.  Các huyết khối tuần hoàn trong cơ thể có thể một phần hoặc hoàn toàn cắt đứt nguồn cung cấp máu quan trọng đến tim hoặc não.  Nếu không có đủ nguồn cung cấp máu, thì tim và mô não sẽ bị hủy hoại nhanh chóng.

Một nghiên cứu lâm sàn mới đây báo cáo rằng trị liệu bằng thuốc statin (simvastatin) giúp giảm bớt sự kích hoạt của một quá trình máu kết khối nào đó (tissue factor) mà nó độc lập với tác dụng hạ giảm hàm lượng lipit.  Các nhà nghiên cứu cho thấy rằng các thuốc statin chỉ nhắm vào quá trình máu đóng khối “xấu” và có khả năng bị kích hoạt, nhưng không nhắm vào các quá trình “tốt” được sử dụng trong sự đông máu bình thường, do đó không liên quan đến nguy cơ xuất huyết gia tăng mà đây là một tác dụng phụ điển hình của các loại thuốc kháng đông đang được bán trên thị trường.

Nguy Cơ Về Tim Gia Tăng Được Tìm Thấy Ở Các Bệnh Nhân Sử Dụng Thuốc Dabigatran

Các dữ liệu được thu thập lại từ 7 nghiên cứu trước đây, bao gồm 30514 bệnh nhân, so sánh thuốc dabigatran với warfarin, enoxaparin, hoặc giả dược (placebo).  Tỉ lệ nhồi máu cơ tim hoặc đau thắt ngực tăng lên 33% ở những người sử dụng thuốc dabigatran.  Tuy nhiên, nói chung nguy cơ này vẫn rất thấp; chỉ có 237 trên 20000, hoặc 1,19% số người sử dụng thuốc dabigatran gặp phải các tình trạng liên quan đến tim, so sánh với 0,79% số người sử dụng thuốc khác hoặc giả dược.

Vào thời điểm này người ta vẫn chưa biết được (các) cơ chế chính xác.  Mặc dù đã có báo cáo về nguy cơ gia tăng này, nhưng cơ quan FDA cho rằng nguy cơ này không có con số thống kê đáng kể.  Các nhà nghiên cứu cho thấy rằng các bác sĩ có thể sẽ thận trọng khi chỉ định sử dụng thuốc dabigatran cho đến khi có thêm nghiên cứu được thực hiện để làm rõ nguy cơ nhồi máu cơ tim tiềm ẩn, đặc biệt đối với các bệnh nhân được xác định bị bệnh thiếu máu cơ tim (ischemic heart disease).

Xuất Huyết Do Phản Ứng Thuốc Cao Hơn Khi Sử Dụng Dabigatran So Với Warfarin

Các mối lo ngại về xuất huyết khi sử dụng dabigatran tiếp tục với một bản báo cáo mới về các phản ứng thuốc gây hại (adverse drug reactions – ADRs) bao gồm tình trạng xuất huyết được báo cáo cho cơ quan FDA xảy ra nhiều hơn khi sử dụng dabigatran so với warfarin trong 3 tháng đầu năm 2011.  Phần lớn các tình trạng xuất huyết khi sử dụng dabigatran bao gồm xuất huyết trong sọ não (intracranial hemorrhage) ở các bệnh nhân cao tuổi (tuổi trung bình là 80).

Các dữ liệu mới nhất cho thấy 505 báo cáo về tình trạng xuất huyết khi sử dụng thuốc dabigatran trong 3 tháng đầu năm 2011, mà báo cáo QuarterWatch nói rằng “nhiều hơn bất cứ loại thuốc nào được theo dõi, bao gồm warfarin (đứng thứ hai), với 176 trường hợp bị xuất huyết”.  Mặc dù cần có thêm nghiên cứu, nhưng có thể rằng một liều lượng “dành cho mọi người” 150 mg mỗi ngày 2 lần có thể không phù hợp cho một số bệnh nhân, đặc biệt là các bệnh nhân cao tuổi và các bệnh nhân có số lượng creatinine được thận lọc ra khỏi máu rất thấp.

Trị Liệu Bằng Thuốc Aspirin Hiệu Quả Tương Tự Với Thuốc Warfarin Đối Với Tình Trạng Suy Tim

Các bệnh nhân bị suy tim có nguy cơ gia tăng bị tử vong và đột quỵ do các trường hợp máu kết khối trong mạch máu gây ra, và thường được chỉ định sử dụng thuốc warfarin hoặc aspirin.  Thử Nghiệm So Sánh Warfarin và Aspirin trong Quá Trình Máu Rời Khỏi Tim Mỗi Khi Co Bóp Bị Hạ Giảm (Warfarin vs Aspirin in Reduced Cardiac Ejection Fraction - WARCEF), một thử nghiệm ngẫu nhiên, che mắt hai đối tượng, đã so sánh 2305 bệnh nhân sử dụng warfarin (tỉ lệ mục tiêu trung bình quốc tế 2-3,5) hoặc aspirin 325 mg mỗi ngày.

Các bệnh nhân từ 176 khu vực ở 11 quốc gia được ghi tên và được theo dõi.  Số năm theo dõi tổng cộng của các bệnh nhân trong nhóm sử dụng warfarin là 4045 và 4033 trong nhóm sử dụng aspirin.  Tuổi trung bình của bệnh nhân là 61; 80% là nam giới.  Quá trình theo dõi trung bình là 3,5 năm, với phạm vi từ 1 đến 6 năm.  Các nhà nghiên cứu kết luận rằng nói chung không có sự khác biệt về các kết quả kết hợp ban đầu về tử vong, đột quỵ do thiếu máu nghẽn mạch (ischemic stroke), hoặc xuất huyết trong sọ não (intracranial hemorrhage) giữa các nhóm điều trị.


Nguồn (Source):