About

Friday, February 27, 2015

BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 1 - BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG LOẠI 1 (TYPE 1 DIABETES) - Do LQT Biên Dịch


CHẨN ĐOÁN

Xét Nghiệm Về Các Bất Thường của Hàm Lượng Glucose

Hàm Lượng Glucose Trong Máu Lúc ĐóiXét nghiệm hàm lượng glucose trong máu lúc đói (fasting plasma glucose - FPG) là một xét nghiệm tiêu chuẩn cho việc chẩn đoán bệnh tiểu đường.  Đây là một xét nghiệm máu đơn giản được thực hiện sau 8 giờ không ăn.  Nói chung, các kết quả cho thấy:

-      Hàm lượng FPG được xem là bình thường lên đến mức 100 mg/dL (hoặc 5,5 mmol/L).
-      Mức 100 – 125 mg/dL (5,5 – 7,0 mmol/L) được xem là hàm lượng glucose lúc đói bị suy giảm, hoặc tiền tiểu đường.  Các mức glucose này được xem là những yếu tố nguy cơ gây ra bệnh tiểu đường loại 2 và các biến chứng của nó.
-      Bệnh tiểu đường được xác định khi hàm lượng FPG ở mức 126 mg/dL (7,0 mmol/L) hoặc cao hơn.

Xét nghiệm FPG không phải lúc nào cũng đáng tin cậy, vì thế bệnh nhân được khuyến khích thực hiện lại xét nghiệm nếu kết quả xét nghiệm ban đầu cho thấy sự hiện diện của bệnh tiểu đường, hoặc nếu các xét nghiệm cho thấy kết quả bình thường ở những người có các triệu chứng hoặc các yếu tố gây nguy cơ mắc bệnh tiểu đường.  Ví dụ, những người thực hiện xét nghiệm vào buổi trưa và cho thấy các kết quả bình thường có thể thực sự có hàm lượng không bình thường mà sẽ được phát hiện nếu được xét nghiệm vào buổi sáng.

Không nên yêu cầu bệnh nhân xét nghiệm tràn lan để xác định những người có nhiều nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 1.

Xét Nghiệm Dung Nạp Glucose: Xét nghiệm dung nạp glucose bằng miệng (The oral glucose tolerance test - OGTT) phức tạp hơn xét nghiệm hàm lượng glucose trong máu lúc đói (FPG) và có thể chẩn đoán sai bệnh tiểu đường ở những người không có bệnh đó.  Một số chuyên gia đề xuất xét nghiệm này nên là một xét nghiệm theo dõi sau khi thực hiện xét nghiệm FPG nếu kết quả xét nghiệm FPG bình thường nhưng bệnh nhân lại có các triệu chứng hoặc các yếu tố gây nguy cơ mắc bệnh tiểu đường.  Xét nghiệm này sử dụng các tiến trình sau:

-      Trước tiên sử dụng xét nghiệm FPG.
-      Xét nghiệm máu tiếp theo được thực hiện 2 giờ sau khi uống một dung dịch glucose đặc biệt.

Các kết quả sau đây cho thấy những tình trạng khác nhau:

-      Mức xét nghiệm OGTT là bình thường lên đến 140 mg/dL.
-      Mức 140 – 199 mg/dL được xem là tình trạng dung nạp glucose bị suy yếu, hoặc tiền tiểu đường.
-      Bệnh tiểu đường được xác định khi mức xét nghiệm OGTT là 200 mg/dL hoặc cao hơn.

Những người sẽ thực hiện xét nghiệm FPG (Xét nghiệm hàm lượng glucose trong máu lúc đói) và OGTT (Xét nghiệm dung nạp glucose bằng miệng) thì không được ăn ít nhất là 8 giờ trước cuộc xét nghiệm.

Để chuẩn bị cho Xét Nghiệm Dung Nạp Glucose Bằng Miệng:

-      Hãy dùng bữa ăn có các chất dinh dưỡng được cân bằng có chứa ít nhất 150 đến 200 g chất carbohydrate mỗi ngày trong vòng 3 ngày trước cuộc xét nghiệm.  Trái cây, bánh mì, ngũ cốc (cereals), hạt ngũ cốc, gạo, bánh quy giòn (crackers), và các loại rau quả như khoai tây, đậu, và bắp là các nguồn dồi dào chứa chất carbohydrate.
-      Không được ăn, uống, hút thuốc, hoặc tập thể dục căng thẳng trong ít nhất 8 giờ trước khi được lấy mẫu xét nghiệm máu.
-      Hãy nói cho bác sĩ của bạn biết về tất cả các loại thuốc được kê toa và không cần toa mà bạn đang sử dụng.  Bạn có thể được yêu cầu phải ngưng sử dụng một số loại thuốc trước cuộc xét nghiệm này.

Xét Nghiệm Dung Nạp Glucose có thể cần đến 4 giờ để thực hiện.  Vì sự vận động cá nhân có thể ảnh hưởng đến các kết quả xét nghiệm, do đó bạn sẽ được yêu cầu ngồi yên trong suốt quá trình xét nghiệm.  Không được ăn trong suốt quá trình xét nghiệm.  Bạn chỉ có thể uống nước (H2O) trong suốt thời gian này.

Hãy nói chuyện với bác sĩ của bạn về những lo ngại về sự cần thiết của xét nghiệm, các rủi ro, và cách thức cuộc xét nghiệm được thực hiện. 


Xét Nghiệm Dung Nạp Glucose Bằng Miệng được thực hiện để phát hiện bệnh tiểu đường.  Phần đầu của cuộc xét nghiệm bao gồm việc uống một dung dịch glucose đặc biệt.  Sau đó vài giờ, máu sẽ được lấy mẫu để xét nghiệm hàm lượng glucose trong máu.  Các bệnh nhân bị bệnh tiểu đường sẽ có hàm lượng glucose trong máu cao hơn mức bình thường. 




Xét Nghiệm Hàm Lượng Glycosylated Hemoglobin (Hemoglobin A1c)Xét nghiệm này kiểm tra hàm lượng glycosylated hemoglobin trong máu, mà còn được gọi là hemoglobin A1c (HbA1c).  Xét nghiệm này không bị ảnh hưởng bởi thực phẩm được tiêu thụ, do đó xét nghiệm có thể được thực hiện bất cứ lúc nào.

-      Các kết quả xét nghiệm glucose trong máu giúp cho bệnh nhân và bác sĩ biết tình trạng bệnh tiểu đường được kiểm soát như thế nào chỉ trong ngày xét nghiệm đó.
-      Một khi một phân tử đường trong máu kết dính vào một phân tử hemoglobin, mà phân tử này được tìm thấy trong mỗi tế bào máu đỏ (hồng huyết cầu), thì nó sẽ không bao giờ tách ra [một quá trình được gọi là liên kết với phân tử đường (glycation)].  Nếu một bệnh nhân bị bệnh tiểu đường có hàm lượng đường gia tăng trong nhiều ngày, thì sẽ có càng nhiều các phân tử glucose trong máu kết dính với phân tử hemoglobin.  Nếu điều đó xảy ra, thì mức hemoglobin A1c sẽ tăng cao hơn.
-      Do đó, mức hemoglobin A1c gia tăng như thế sẽ giúp cho bác sĩ và bệnh nhân biết được tình trạng bệnh tiểu đường được kiểm soát như thế nào ở bệnh nhân trong 3 tháng qua.
-      Việc đo hàm lượng glycosylated hemoglobin không được khuyến khích cho sự chẩn đoán ban đầu của bệnh tiểu đường, vì kết quả đo bình thường không loại trừ được bệnh tiểu đường.

Hàm lượng glycosylated hemoglobin tăng cao có liên quan chặt chẽ với phần lớn, nếu không phải là tất cả, các triệu chứng của bệnh tiểu đường.  Mức chỉ tiêu của HbA1c đối với những người thành niên nên là:

-      Thông thường, khoảng 7%.
-      Nếu một người thành niên có thể quản lý chặt chẽ chứng bệnh tiểu đường của họ mà không gặp phải tình trạng giảm glucose trong máu (hypoglycemia) thường xuyên hoặc nghiêm trọng, thì hàm lượng HbA1c càng gần 6% là càng lý tưởng.
-      Hàm lượng glycosylated hemoglobin lên cao trong khoảng 11 – 12% cho thấy việc kiểm soát glucose rất kém.

Mức chỉ tiêu của HbA1c đối với trẻ em nên là:

-      Thấp hơn 7,5 – 8,5% đối với trẻ em dưới 6 tuổi
-      Thấp hơn 8% đối với trẻ em từ 6 – 12 tuổi
-      Thấp hơn 7,5% đối với trẻ em từ 13 – 19 tuổi.

Lên kế hoạch kiểm tra hàm lượng HbA1c:

-      Mỗi 6 tháng nếu bệnh tiểu đường được kiểm soát chặt chẽ
-      Mỗi 3 tháng nếu không được kiểm soát chặt chẽ

Xét Nghiệm Kháng Insulin.  Các chuyên gia hy vọng rằng một ngày gần đây sẽ có một xét nghiệm đơn giản về tính năng kháng insulin (insulin resistance – một tình trạng insulin kém hiệu quả trong việc hạ thấp hàm lượng đường trong máu, thường là do insulin liên kết với các kháng thể, và có liên quan đến các chứng bệnh béo phì, nhiễm toan xeton, và nhiễm trùng) để xác định những người có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường.  Một số nghiên cứu đề nghị rằng việc đo hàm lượng insulin và triglyceride trong thời gian nhịn đói có thể dự đoán được tính nhạy cảm insulin của một người.

Các Xét Nghiệm Tự Kháng Thể

Bệnh tiểu đường loại 1 được đặc trưng bởi sự hiện diện của các loại kháng thể mà chúng tấn công các tế bào đảo tụy.  Các kháng thể này được xem là tự kháng thể (autoantibodies) bởi vì chúng tấn công các tế bào của chính cơ thể đó – không phải là sinh vật lạ xâm nhập.  Các xét nghiệm máu cho các tự kháng thể này có thể giúp phân biệt bệnh tiểu đường loại 1 và loại 2.

Các Xét Nghiệm Đánh Giá Ban Đầu về Các Biến Chứng

Các Xét Nghiệm Đánh Giá Ban Đầu về Bệnh Tim.  Tất cả các bệnh nhân bị bệnh tiểu đường nên được xét nghiệm về:

-      Áp suất máu.  Bác sĩ của bạn nên kiểm tra áp suất máu của bạn mỗi khi đến khám.  Chỉ tiêu áp suất máu là 130/80 mm Hg hoặc thấp hơn.
-      Hàm lượng lipit, bao gồm cholesterol.  Những người bị bệnh tiểu đường nên giữ cho mức LDL (cholesterol “xấu”) thấp hơn 100 mg/dL, mức HDL (cholesterol “tốt”) cao hơn 40 mg/dL, và mức triglyceride thấp hơn 150 mg/dL.  Xét nghiệm nên được thực hiện hàng năm và có thể cách một năm cho các bệnh nhân kiểm soát tốt hàm lượng lipit và không có chứng cứ bị bệnh tim.
-      Kiểm tra thể dục tim nên được xem xét cho các bệnh nhân thành niên với các triệu chứng hoặc các phát hiện trên biểu đồ điện tim, hoặc trước khi bắt đầu một chương trình thể dục.


Biểu đồ điện tim (electrocardiogram - ECG, EKG) được sử dụng rộng rãi trong việc chẩn đoán bệnh tim, từ bệnh tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh đến nhồi máu cơ tim và viêm cơ tim ở những người thành niên.  Có một số loại biểu đồ điện tim khác nhau hiện đang được sử dụng.







Các Xét Nghiệm Đánh Giá Ban Đầu về Tổn Thương Thận.  Biểu thị đầu tiên của bệnh thận là chứng anbumin vi niệu (microalbuminuria), trong đó một số lượng rất ít (30 – 300 mg mỗi ngày) protein được gọi là anbumin được tìm thấy trong nước tiểu.  Chứng anbumin vi niệu cũng là nguyên nhân tạo ra các biến chứng khác liên quan đến các bất thường của mạch máu, bao gồm nhồi máu cơ tim và đột quỵ (tai biến mạch máu não).

Hiệp Hội Bệnh Tiểu Đường Hoa Kỳ (The American Diabetes Association) khuyến khích rằng những người bị bệnh tiểu đường nên tiếp nhận xét nghiệm nước tiểu để phát hiện chứng anbumin vi niệu.  Các bệnh nhân cũng nên được xét nghiệm hàm lượng creatinine trong máu mỗi năm ít nhất một lần.  Creatinine là một sản phẩm thải mà được thận lọc ra khỏi máu.  Hàm lượng cao creatinine có thể là dấu hiệu bị tổn thương thận.  Bác sĩ sử dụng các kết quả từ xét nghiệm creatinine trong máu để tính toán tỉ lệ dịch lọc cầu thận (glomerular filtration rate - GFR).  Tỉ lệ GFR là một dấu hiệu cho thấy chức năng hoạt động của thận; nó đánh giá khả năng lọc máu của thận.

Kiểm Tra Bệnh Võng Mạc.  Hiệp Hội Bệnh Tiểu Đường Hoa Kỳ khuyến khích rằng các bệnh nhân bị bệnh tiểu đường loại 1 nên có một cuộc kiểm tra mắt toàn diện hàng năm, với tình trạng tăng nhãn cầu, để kiểm tra các dấu hiệu về bệnh võng mạc (retinopathy).  Các bệnh nhân có ít nguy cơ có thể chỉ cần kiểm tra trong mỗi 2 – 3 năm.

Kiểm Tra Bệnh Thoái Hóa Thần Kinh.  Tất cả bệnh nhân nên được kiểm tra về tình trạng thoái hóa thần kinh (neuropathy), bao gồm một cuộc kiểm tra bàn chân toàn diện.  Các bệnh nhân bị mất cảm giác ở bàn chân nên được kiểm tra bàn chân mỗi 3 – 6 tháng để xem xét các vết lở loét hoặc nhiễm trùng.

Kiểm Tra Các Bất Thường ở Tuyến Giáp.  Các xét nghiệm về chức năng của tuyến giáp nên được thực hiện.