About

Saturday, March 10, 2012

BỆNH CẢM CÚM (FLU) - Do LQT Biên Dịch


ĐIỀU TRỊ

Sau đây là một vài lời khuyên về thức ăn và thức uống. Đa số các đề xuất này sẽ không chữa khỏi hẳn bệnh cảm lạnh, nhưng chúng có thể giúp người bệnh đối phó tốt hơn với một số triệu chứng:

-      Uống nhiều nước và nghỉ ngơi nhiều khi cần thiết vẫn là lời khuyên tốt nhất để giảm bớt sự khó chịu của bệnh cảm lạnh thông thường. Nước là thức uống tốt nhất và giúp bôi trơn các màng nhầy. (Không có bằng chứng cho thấy uống sữa sẽ làm gia tăng hoặc làm dịch nhầy thêm trầm trọng, mặc dù sữa là một loại thực phẩm và không nên dùng sữa để thay thế thức uống).
-      Nước súp gà (chicken soup) quả thực giúp ích cho chứng sung huyết và nhức mỏi cơ thể. Hơi nóng từ nước súp có thể là lợi ích quan trọng của nước súp này, mặc dù các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã thực sự báo cáo rằng các thành phần trong nước súp có thể có tác dụng kháng viêm. Thật vậy, bất kỳ loại thức uống nóng nào cũng có tác dụng làm dịu tương tự nhờ hơi nước. Trà gừng, nước trái cây, và trà nóng với mật ong pha với chanh tất cả đều hữu ích.
-      Thức ăn cay có chứa ớt hoặc cây cải ngựa (horseradish) có thể giúp làm thông xoang mũi.
-      Các thực phẩm giàu các loại vitamin A và C thì rất được khuyến khích. Chúng bao gồm cam, kiwi, và cà chua cung cấp vitamin C, khoai lang, rau bina (spinach), bông cải xanh (broccoli) cung cấp vitamin A.

Các Loại Vitamin

Mặc dù một vài nghiên cứu cho thấy rằng sử dụng liều lượng lớn vitamin C có thể rút ngắn thời gian bị cảm lạnh, nhưng hầu hết các bằng chứng khoa học cho thấy là không có ích lợi. Dùng liều lượng cao Vitamin C thì không được khuyến khích, vì các lý do sau đây:

-      Dùng liều lượng cao vitamin C có thể gây nhức đầu, các vấn đề về đường ruột và tiết niệu, và thậm chí bị sỏi thận
-      Bởi vì vitamin C làm gia tăng sự hấp thu chất sắt, do đó những người bị một số chứng rối loạn máu, như bệnh nhiễm sắc tố sắt mô (hemochromatosis: hiện tượng dư thừa chất sắt trong người), bệnh thiếu máu Địa Trung Hải (thalassemia), hoặc bệnh thiếu máu nguyên bào sắt (sideroblastic anemia: hiện tượng nguyên bào sắt xuất hiện trong tủy xương) nên tránh dùng liều lượng cao loại vitamin này.
-      Sử dụng liều lượng lớn vitamin C cũng có thể ảnh hưởng đến các loại thuốc chống đông máu (thuốc làm loãng máu), các xét nghiệm máu cho bệnh tiểu đường, và các xét nghiệm phân.

Ngoài ra, nhìn lại các chứng cứ cho thấy rằng dùng liều lượng lớn vitamin C sau khi các triệu chứng cảm lạnh khởi phát sẽ không giúp hạ giảm các triệu chứng hoặc rút ngắn được cơn bệnh cảm lạnh.

Kẽm

Kẽm xem ra ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch và nó có thể có tác động trực tiếp đến các loại virút. Tuy nhiên, cách thức nó hoạt động thì chưa biết được rõ ràng. Kẽm được chế tạo dưới dạng các viên kẹo ngậm hoặc dạng gel thông mũi hiện nay đang được bán để điều trị cảm lạnh. Các nghiên cứu vẫn chưa thống nhất về các tác dụng của kẽm đối với bệnh cảm lạnh. Một sự xem duyệt lại các nghiên cứu hiện có so sánh giữa điều trị bằng kẽm với giả dược (placebo) hoặc “viên đường” chỉ  tìm thấy một nghiên cứu có chất lượng cao, mà kết quả cho thấy rằng dạng gel thông mũi có chứa chất kẽm có thể có một lợi ích nào đó. Lợi ích chung của kẽm trong việc ngăn ngừa cảm lạnh vẫn chưa được chứng minh.Trong bất kỳ trường hợp nào, những người có một chế độ ăn uống đầy đủ và một hệ thống miễn dịch khỏe mạnh thì không nên uống chất kẽm dài hạn, với mục đích ngăn ngừa cảm lạnh.

Các tác dụng phụ. Các tác dụng phụ, đặc biệt của dạng kẹo ngậm, bao gồm:

-      Khô miệng
-      Táo bón
-      Buồn nôn
-      Không ngon miệng (có thể chỉ xảy ra đối với kẹo ngậm kẽm gluconate)
-      Nôn mửa nghiêm trọng, mất nước, và bồn chồn (các dấu hiệu của việc sử dụng quá liều, hãy đi bác sĩ)
-      Phản ứng dị ứng (hiếm)

Các tương tác với thực phẩm và thuốc. Kẽm cũng có thể tương tác với các loại thuốc hoặc các yếu tố khác:

-      Nó có thể làm giảm sự hấp thu của một số loại thuốc kháng sinh.
-      Các loại thực phẩm giàu canxi hoặc phốt pho có thể làm giảm sự hấp thu kẽm
-      Dùng liều lượng cao và trong thời gian dài, kẽm có thể gây ra hiện tượng thiếu chất đồng.

Các loại thuốc làm giảm đau nhẹ và giúp giảm sốt

Nhiều người dùng thuốc để làm giảm cơn đau nhẹ và giảm sốt. Người thành niển thường chọn asprin, ibuprofen (Advil), hoặc acetaminophen (Tylenol).

Các loại thuốc sau đây được khuyến khích dùng cho trẻ em:

-      Acetaminophen (Tylenol) hoặc ibuprofen (thường là Advil hoặc Motrin) là các loại thuốc giảm đau thông thường mà các bậc phụ huynh thường dùng cho con cái của họ. Hầu hết các bác sĩ nhi khoa khuyên nên dùng thuốc này cho trẻ em bị sốt trên 101 oF (khoảng 38 oC). Một số bác sĩ nhi khoa đề nghị dùng luân phiên 2 loại thuốc này, mặc dù chưa có bằng chứng nào cho thấy sự đề nghị dùng thuốc theo chế độ này là có lợi, mà có thể có hại.
-      Aspirin và các sản phẩm có chứa aspirin không bao giờ nên dùng cho trẻ em hoặc thanh thiếu niên. Hội chứng Reye, một chứng bệnh rất nghiêm trọng có thể đe dọa đến tính mạng, có liên quan đến việc sử dụng aspirin ở trẻ em có triệu chứng cúm hoặc thủy đậu.

Băng dán mũi

Băng dán mũi (như hiệu Breath Right) được dán ngang qua phần dưới của mũi và làm cho lỗ mũi mở rộng ra. Các băng dán này có thể làm mở rộng xoang mũi và giúp giảm nghẹt mũi do cảm lạnh, viêm xoang, hay chứng dị ứng phấn hoa. Cho đến bây giờ, vẫn chưa có bằng chứng khoa học nào cho thấy chúng mang lại các lợi ích như thế.

Rửa mũi

Rửa mũi có thể giúp loại bỏ dịch nhầy từ mũi. Một loại dung dịch muối có thể mua ở một tiệm thuốc tây hoặc tự chế tại nhà. Một nghiên cứu báo cáo rằng cả dung dịch tự làm tại nhà (dùng 1 muỗng cafe muối và một nhúm soda nung nóng trong một pint (0,5 lít) nước ấm) hoặc dung dịch rửa mũi bằng nước muối ưu trương bán ngoài tiệm không có bất kỳ hiệu quả nào đối với các triệu chứng. Hơn thế nữa, một nghiên cứu sơ bộ cho thấy rằng loại dung dịch nước muối xịt mũi không cần toa bác sĩ có chứa chất bảo quản benzalkonium chloride thực sự có thể làm xấu đi các triệu chứng và tình trạng nhiễm khuẩn.

Tuy nhiên, một số bác sĩ đã ủng hộ cho cách rửa mũi truyền thống mà đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ qua và khác với cách dùng trong hầu hết các nghiên cứu. Nó không chứa chất baking soda và dùng nhiều chất lỏng hơn cho mỗi liều và ít muối hơn. Việc rửa mũi nên được thực hiện nhiều lần trong ngày

Một phương pháp đơn giản để tiến hành rửa mũi:

-      Cúi đầu xuống bồn nước
-      Đổ một ít dung dịch vào lòng bàn tay và hít qua mũi, từng lỗ một.
-      Khạc nhổ dung dịch còn dư lại ra ngoài
-      Hỉ nhẹ mũi

Dung dịch này cũng có thể được đưa vào mũi bằng cách sử dụng một ống xơ-ranh lớn bơm tai bằng cao su, có bán ở tiệm thuốc. Trong trường hợp này, quá trình như sau:

-      Cúi đầu xuống bồn nước
-      Chỉ cho đầu của ống tiêm vào một lỗ mũi
-      Bóp nhẹ bóng bơm nhiều lần để rửa khoang mũi
-      Sau đó bóp chặt bóng bơm vừa đủ để dung dịch đi vào miệng
-      Tiến trình này nên được lặp lại ở lỗ mũi kia

Thuốc thông mũi truyền trực tiếp

Thuốc thông mũi truyền trực tiếp được đưa trực tiếp đến các khoang mũi với hơi xịt, gel, giọt, hoặc dạng hơi. Các dạng thuốc đưa vào mũi có tác dụng nhanh hơn so với dạng thuốc uống và có tác dụng phụ ít hơn. Chúng thường đòi hỏi phải dùng thuốc thường xuyên, mặc dù các dạng có hoạt tính lâu dài bây giờ đã có bán sẵn. Các thành phần và thương hiệu của thuốc thông mũi bao gồm:

Các loại thuốc thông mũi trực tiếp có tác dụng lâu dài. Chúng có hiệu quả trong một vài phút và duy trì từ 6 đến 12 giờ. Các thành phần chính trong các loại thuốc thông mũi có hoạt tính lâu dài là:

-      Oxymetazoline: Bao gồm các nhãn hiệu Vicks Sinex (nhãn hiệu 12 giờ), Afrin (nhãn hiệu 12 giờ), Dristan 12-Hour, Good Sense, Nostrilla, Neo-Synephrine 12-Hour.
-      Xylometazoline: Inspire, Otrivin, Natru-vent

Thuốc thông mũi truyền trực tiếp có tác dụng ngắn hạn. Các tác dụng thường kéo dài khoảng 4 giờ. Các thành phần chính của thuốc thông mũi ngắn hạn bao gồm:

-      Phenylephrine: Neo-Synephrine (nhẹ, đều đặn, hiệu nghiệm cao), 4-Way, Dristan Mist Spray, Vicks Sinex
-      Naphazoline (Naphcon Forte, Privine)

Phụ thuộc thuốc và hiệu ứng tái lại. Mối nguy hiểm chính khi dùng thuốc thông mũi truyền trực tiếp, đặc biệt dạng hoạt tính dài hạn, là chu kỳ của các hiệu ứng phụ thuộc và hiệu ứng tái lại (rebound effects). Các nhãn hiệu 12-giờ tạo ra một nguy cơ đặc biệt cho hiệu ứng này. Hiệu ứng này hoạt động theo cách như sau:

-      Dùng trong một thời gian dài (trên 3 đến 5 ngày), thuốc thông mũi truyền trực tiếp sẽ mất hiệu lực và thậm chí gây sưng ở khoang mũi.
-      Các bệnh nhân này sau đó gia tăng số lần sử dụng liều lượng thuốc. Chứng nghẹt mũi trở nên xấu hơn, và bệnh nhân dùng thuốc thường xuyên hơn, có một số trường hợp dùng thường xuyên mỗi giờ.
-      Các bệnh nhân sau đó bị lệ thuộc vào thuốc.

Ghi Chú:
Hiệu ứng tái lại (rebound effects): là xu hướng của một loại thuốc, khi ngưng sử dụng, gây ra tình trạng tái lại của các triệu chứng đang được điều trị, trở nên nặng hơn so với trước (tức là các triệu chứng sẽ càng rõ rệt hơn sau khi ngưng dùng thuốc so với trước khi dùng thuốc).

Mẹo vặt khi sử dụng. Các biện pháp phòng ngừa sau đây là rất quan trọng đối với người sử dụng thuốc thông mũi truyền trực tiếp:

-      Khi dùng ống xịt mũi, nên xịt từng lỗ một. Chờ một phút để cho thuốc thấm vào các mô niêm mạc, rồi sau đó mới xịt lại.
-      Giữ cho khoang mũi ẩm. Tất cả các dạng thuốc thông mũi có thể gây rát và nhức mũi. Chúng cũng có thể làm khô các khu vực bị ảnh hưởng và các mô bị tổn thương.
-      Không dùng chung ống nhỏ thuốc và ống hít (inhalators) với người khác
-      Chỉ dùng thuốc thông mũi cho các trường hợp bệnh mà đòi hỏi sử dụng ngắn hạn, như trước khi du lịch bằng máy bay, hoặc cho các tình trạng dị ứng đơn lẻ. Không được dùng quá 3 ngày liên tiếp. Khi dùng dài hạn, các thuốc thông mũi trở nên vô hiệu lực và dẫn đến cái gọi là hiệu ứng tái lại (rebound effect) và nghiện thuốc.
-      Vứt bỏ các ống thuốc xịt, ống thuốc hít, hoặc các dụng cụ truyền thuốc thông mũi khác khi thuốc không còn cần thiết. Theo thời gian, các dụng cụ này sẽ trở thành ổ chứa vi khuẩn.
-      Vứt bỏ thuốc nếu nó trở nên đục và không rõ ràng.

Thuốc thông mũi uống bằng miệng

Thuốc thông mũi uống bằng miệng cũng có nhiều nhãn hiệu, khác nhau chủ yếu trong các thành phần của chúng. Các thành phần hoạt chất thông thường nhất là pseudoephedrine (Sudafed, Actifed, Drixoral) hoặc phenylephrine (Sudafed PE và nhiều sản phẩm trị cảm lạnh khác).

Các tác dụng phụ của những loại thuốc chống nghẹt mũi. Các loại thuốc thông mũi có một số tác dụng phụ, và các tác dụng phụ này có khuynh hướng xảy ra ở dạng thuốc uống hơn là dạng thuốc truyền trực tiếp vào mũi và bao gồm các triệu chứng sau:

-      Tâm trạng lo âu và căng thẳng
-      Buồn ngủ (đặc biệt là với các loại thuốc uống thông mũi và uống chung với rượu)
-      Thay đổi nhịp tim và huyết áp

Tránh uống thuốc thông mũi với rượu hoặc một số thuốc khác, bao gồm monoamine oxidase inhibitors (MAOI) và thuốc an thần.

Các cá nhân có nguy cơ về các biến chứng từ các loại thuốc thông mũi. Những người có thể có nguy cơ cao hơn về các biến chứng là những người bị một số trường hợp bệnh, bao gồm các chứng rối loạn mà làm cho các mạch máu dễ bị co thắt lại. Các trường hợp như thế bao gồm các bệnh sau:

-      Bệnh tim
-      Huyết áp cao
-      Bệnh tuyến giáp
-      Bệnh tiểu đường
-      Các vấn đề về tuyến tiền liệt mà gây ra những vấn đề về tiết niệu
-      Đau nửa đầu
-      Hiện tượng Raynaud (Tình trạng nhạy cảm của bàn tay với cơn lạnh do sự co thắt của các động mạch ở các ngón tay, dẫn đến tình trạng tái nhợt và tê ở ngón tay.)
-      Nhạy cảm cao với cơn lạnh
-      Bệnh khí thũng (emphysema) hoặc viêm phế quản mãn tính (chronic bronchitis).

Bất cứ người nào bị các trường hợp bệnh trên đây thì không nên sử dụng thuốc thông mũi truyền trực tiếp hoặc thuốc uống bằng miệng mà không có sự hướng dẫn của bác sĩ. Ngoài ra, bệnh nhân đang dùng các loại thuốc làm tăng nồng độ serotonin, chẳng hạn như thuốc chống trầm cảm, thuốc chống đau nửa đầu, thuốc giảm mập, St. John's wort (một loại dược thảo dùng để trị chứng trầm cảm), và methamphetamine, thì nên tránh dùng các thuốc thông mũi. Việc dùng chung thuốc như vậy sẽ làm cho các mạch máu trong não bị thu hẹp lại một cách đột ngột, gây ra đau đầu nghiêm trọng thậm chí dẫn đến đột quỵ

Những người nên sử dụng các loại thuốc này một cách thận trọng bao gồm: (hãy tham khảo ý kiến bác sĩ của bạn)

-      Bất cứ người nào đang mang thai
-      Trẻ em: Trẻ em có khả năng chuyển hóa các loại thuốc thông mũi khác biệt với người lớn.Theo đề xuất mới, thuốc thông mũi không nên dùng cho tất cả các trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 4 tuổi. Trẻ nhỏ có nguy cơ đặc biệt với các tác dụng phụ làm suy giảm hệ thống thần kinh trung ương. Các triệu chứng như vậy gây ra sự thay đổi về huyết áp, cảm giác lờ đờ, ngủ sâu, và có khi bị hôn mê. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các sản phẩm trị ho và cảm lạnh này thường không có hiệu quả trong việc điều trị cho trẻ em dưới 6 tuổi.

Vào tháng 10 năm 2007, các nhà sản xuất thuốc tự nguyện thu hồi khỏi thị trường các sản phẩm trị ho và cảm lạnh uống bằng miệng, bao gồm thuốc thông mũi, dành cho trẻ em dưới 2 tuổi, do tác hại từ việc sử dụng sai quy cách. Vào cuối năm 2008, Hiệp Hội Các Sản Phẩm Y Tế Giành Cho Người Tiêu Dùng (Consumer Healthcare Products Association), đại diện cho hầu hết các nhà sản xuất Hoa Kỳ về các loại thuốc trị ho và cảm lạnh không cần toa bác sĩ ở trẻ em, bắt đầu tự nguyện sửa đổi nhãn sản phẩm của mình để đọc là “Không dùng cho trẻ em dưới 4 tuổi”. Hành động này đã được hỗ trợ bởi cơ quan FDA. Xin lưu ý rằng, không có sản phẩm nào bị thu hồi ở các tiệm thuốc tây lần này. Vì vậy, có thể có một giai đoạn chuyển tiếp mà các hướng dẫn về cách sử dụng cho những chai thuốc khác nhau của cùng một loại thuốc có thể là khác nhau, một số nhãn hướng dẫn có thể ghi “KHÔNG ĐƯỢC DÙNG” cho trẻ em dưới 2 tuổi, trong khi các loại khác thì sẽ có những đề xuất mới cho trẻ em 4 tuổi. Cơ quan FDA đề nghị các bậc phụ huynh nên làm theo các hướng dẫn trên chai thuốc mà họ đã mua.

Trong bất cứ trường hợp nào cũng không nên cho trẻ em sử dụng thuốc của người lớn, kể cả các loại thuốc mua không cần toa bác sĩ.

Các phương thuốc trị ho

Các nghiên cứu quan trọng đã cho thấy rằng các loại thuốc trị ho không cần toa bác sĩ không có hiệu quả lắm, nhưng chúng cũng không có hại.

-      Nếu có nhiều đờm, bệnh nhân có thể thử dùng thuốc ho có chứa guaifenesin (Robitussin, Scot-Tussin Expectorant), chất này sẽ làm loãng dịch nhầy. Bệnh nhân không nên cản lại cơn ho mà có dịch nhầy và đờm. Điều quan trọng là tống chất này ra. Để làm loãng đờm, bệnh nhân nên uống nhiều nước và sử dụng máy tăng độ ẩm (humidifier) hoặc máy xông hơi (steamer).
-      Đối với các bệnh nhân bị ho khan (dry cough), loại thuốc ức chế cơn ho (suppressant) có thể rất có lợi, chẳng hạn như loại thuốc có chứa dextromethorphan (Drixoral Cough, Robitussin Maximum Strength Cough Suppressant).
-      Các loại thuốc có chứa cả hai chất ức chế cơn ho và chất phân hủy đờm (expectorant) thì không có lợi và nên tránh. Kẹo ho có chứa dextromethorphan thì không giúp ích được nhiều. Bệnh nhân có xu hướng dùng kẹo ho để làm giảm cơn ho.

Các loại thuốc ho cần toa bác sĩ với liều lượng nhỏ thuốc phiện có bán ở tiệm thuốc. Chúng thường được dành riêng cho bệnh nhiễm trùng đường hô hấp dưới (từ khí quản đến phổi) với các triệu chứng ho đáng kể.

Các loại thuốc điều trị bệnh viêm họng đi kèm với cảm lạnh

Viêm họng liên quan đến cảm lạnh thường là nhẹ. Các cách điều trị sau đây có thể có lợi:

-      Kẹo ho (cough drops), thuốc xịt cổ họng, hoặc xúc miệng bằng nước ấm pha muối có thể giúp làm giảm đau họng và giảm ho.
-      Thuốc xịt cổ họng có chứa phenol (ví dụ Vicks chloraseptic) có thể đặc biệt có lợi. Phenol có tính kháng khuẩn. Trong một nghiên cứu, các bệnh nhân bị viêm họng mà dùng thuốc xịt cảm thấy cơn cảm lạnh giảm nhanh hơn, bao gồm sốt, đau đầu, và các triệu chứng khác so với giả dược (placebo). Các bệnh nhân này đã không dùng thuốc kháng sinh.
-      Kẹo ho chứa tinh dầu bạc hà (menthol) và chất gây mê nhẹ, chẳng hạn như là benzocaine, hexylresorcinol, phenol, và dyclonine (có hiệu quả nhất) có thể làm dịu chứng viêm họng nhẹ.
-      Những người bị viêm họng do chứng chảy mũi ngược (postnasal drip) có thể thử dùng một muỗng cà phê thuốc nước kháng axit. Bệnh nhân không nên uống bất cứ thứ gì sau đó, vì mục đích là để dung dịch tráng cổ họng và giúp trung hòa axit trong dịch nhầy mà nó có thể gây ra cơn đau họng.

Nếu cơn đau họng là khá nghiêm trọng và không thích ứng với những cách điều trị nhẹ, thì bệnh nhân hoặc các bậc phụ huynh nên kiểm tra với bác sĩ để xem có phải là bị viêm họng do khuẩn cầu chuỗi (strep throat) gây ra không, mà bệnh này thì đòi hỏi phải dùng thuốc kháng sinh.

Các loại Thuốc trị Cảm Lạnh và Cảm Cúm Kết Hợp và Thuốc kháng Histamine.

Có rất nhiều loại thuốc bán trên thị trường có các thành phần được kết hợp nhắm vào nhiều mục đích hơn là một triệu chứng của bệnh cảm lạnh hoặc cảm cúm. Nói chung, chúng không có hại, nhưng chúng có một số vấn đề sau:


-      Một số thành phần có thể tạo ra các phản ứng phụ mà không giúp ích gì cho việc điều trị bệnh cảm lạnh.
-      Trong một vài trường hợp, các thành phần thuốc xung đột với nhau (chẳng hạn như chất phân hủy đờm và chất ức chế cơn ho)
-      Trong các trường hợp khác, một bệnh nhân có thể mong muốn gia tăng liều lượng để cải thiện một triệu chứng, điều này sẽ tạo ra sự gia tăng các thành phần khác mà không có tác dụng tốt, và ở liều cao hơn, có thể gây ra các tác dụng phụ.

Lưu ý về Thuốc Kháng Histamine. Nhiều loại thuốc kết hợp có chứa kháng histamine. Thuốc kháng histamine được sử dụng cho các bệnh dị ứng, và thường không được đề xuất dùng cho việc làm giảm các triệu chứng của bệnh cảm lạnh thông thường. Tuy nhiên, một số bằng chứng cho thấy rằng chúng có thể có một vài giá trị.

Các loại thuốc kháng histamines thế hệ đầu tiên (first-generation antihistamines) có thể giúp làm giảm các triệu chứng của bệnh cảm lạnh. Các lợi ích của chúng đối với bệnh cảm lạnh có lẽ là do đặc tính gây buồn ngủ mà chúng gây ra. các loại kháng histaminie này bao gồm Benadryl, Tavist, and Chlor-Trimeton. Các loại mới hơn, thuốc kháng histamines thế hệ thứ hai (Claritin, Allegra, Zyrtec) không có các tác dụng này và cũng có vẻ là không có hiệu quả chống lại bệnh cảm lạnh.

Dược Thảo và Thực Phẩm Chức Năng

Dược thảo và các loại thực phẩm chức năng không được kiểm soát bởi cơ quan FDA. Điều này có nghĩa là các nhà sản xuất và phân phối không cần sự chấp thuận của FDA để bán các sản phẩm của họ. Ngoài ra, bất cứ chất nào làm ảnh hưởng đến các chất hóa học trong cơ thể con người, giống như thuốc tây, vẫn có thể sản sinh ra các tác dụng phụ mà có thể gây hại. Đã có nhiều trường hợp được báo cáo về các tác dụng phụ nghiêm trọng và thậm chí gây tử vong từ các sản phẩm dược thảo.

Sau đây là các lo ngại đặc biệt đối với những người dùng các phương thuốc chữa trị tự nhiên cho bệnh cảm lạnh hoặc cảm cúm:

-      Hoa cúc tím (Echinacea) thường được dùng để ngăn ngừa sự khởi phát và làm giảm các triệu chứng của bệnh cảm lạnh hoặc cúm. Các nghiên cứu chất lượng cao đã không thành công trong việc chứng minh các loại dược thảo này giúp ngăn ngừa hoặc điều trị cúm. Ngoài ra, có một số người bị dị ứng với hoa cúc tím. Những người bị các chứng bệnh về hệ thống miễn dịch hoặc dị ứng với thực vật nên tránh dùng nó. Đã có một vài báo cáo của những người bị dị ứng da đối với loại dược thảo này được gọi là chứng ban đỏ nốt (erythema nodosum), đặc thù bởi các nốt đỏ dưới da, có cảm giác đau khi chạm vào.
-      Các sản phẩm trị dị ứng và trị cảm lạnh bằng dược thảo của Trung Quốc có thể chứa một lượng rất ít axit aristolochic, là một chất hóa học gây tổn thương thận và gây ung thư. Nhiều loại thuốc nhập khẩu từ châu Á có thể chứa các loại thuốc có hiệu lực mạnh, như phenacetin và steroids, cũng như các kim loại độc hại.