About

Saturday, February 28, 2015

VIÊM THẤP KHỚP - VIÊM KHỚP DẠNG THẤP (RHEUMATOID ARTHRITIS) - Do LQT Biên Dịch


SỬ DỤNG THUỐC

Các Loại Thuốc Chống Thấp Khớp Hạ Giảm Bệnh

Các loại thuốc chống thấp khớp hạ giảm bệnh (Disease-modifying anti-rheumatic drugs - DMARDs) là phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho bệnh viêm thấp khớp.  Các loại thuốc này được dùng riêng hoặc kết hợp với các loại thuốc DMARD sinh học.

Các loại thuốc DMARD không có các đặc tính phổ biến nào khác ngoài khả năng làm chậm sự tiến triển của bệnh viêm thấp khớp.  Nhiều loại thuốc được dùng cho các chứng bệnh khác và tình cờ được phát hiện là có thể giúp ích cho bệnh viêm thấp khớp.  Các loại thuốc chống thấp khớp hạ giảm bệnh (DMARD) bao gồm:

-      Methotrexate (được xem là thuốc điều trị tiêu chuẩn hiện hành)
-      Leflunomide
-      Hydroxychloroquine
-      Sulfasalazine
-      Gold
-      Minocycline
-      Azathioprine
-      Cyclosporine

Một cách đáng tiếc là, tất cả các loại thuốc DMARD có khuynh hướng mất đi hiệu quả theo thời gian, ngay cả thuốc methotrexate.  Các bệnh nhân hiếm khi sử dụng một loại thuốc quá 2 năm.  Kết hợp các loại thuốc DMARD với nhau hoặc với các thuốc ở các hạng mục khác sẽ là phương pháp điều trị tốt nhất cho nhiều bệnh nhân.  Điều trị kết hợp các loại thuốc khác với một loại thuốc corticosteroid cũng có thể giúp ích được.

Tất cả các loại thuốc DMARD có thể tạo ra các tác dụng phụ ở bao tử và ruột, đồng thời, về lâu dài, mỗi loại thuốc này sẽ gây ra một số nguy cơ bị các phản ứng ít xuất hiện nhưng nghiêm trọng.  Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các loại thuốc này có thể ít gây hại hơn so với việc điều trị dài hạn bằng thuốc kháng viêm không steroid (NSAID).

Methotrexate.  Methotrexate (Rheumatrex, Trexall) có tác dụng là một loại thuốc kháng viêm và hiện nay là loại thuốc DMARD được sử dụng nhiều nhất, đặc biệt cho trường hợp bệnh viêm thấp khớp nghiêm trọng.  Methotrexate bắt đầu có hiệu lực trong vòng 3 – 6 tuần, nhưng chỉ sau 12 tuần sự điều trị mới có hiệu quả đầy đủ.

Tuy nhiên, khi được sử dụng riêng (không kết hợp) thậm chí loại thuốc này cũng mất đi tác dụng.  Nó có thể có hiệu quả hơn khi sử dụng kết hợp với các loại thuốc DMARD hoặc các loại thuốc khác.  Methotrexate thường được kết hợp với hydroxychloroquine, sulfasalzine, hoặc leflunomide.  Nó cũng có thể được kết hợp với các loại thuốc kích thích phản ứng sinh học (biological response modifier drugs) khác, đặc biệt để điều trị cho các bệnh nhân bị bệnh thấp khớp phát triển sớm.  Phương pháp điều trị kết hợp này xem ra có tác dụng tốt hơn so với trị liệu bằng một loại thuốc.

Khoảng 20% số bệnh nhân ngưng sử dụng thuốc methotrexate vì các tác dụng phụ của nó.  Các tác dụng phụ này bao gồm buồn nôn và nôn mửa, phát ban, rụng tóc nhẹ, nhức đầu, lở miệng, và nhức cơ.  Methotrexate làm giảm hàm lượng axit folic (folate) trong cơ thể, vì thế có thể tạo ra một số tác dụng phụ này.  Các bác sĩ có thể kê toa các loại thực phẩm chức năng axit folic để ngăn ngừa các tác dụng phụ.  Tuy nhiên, có nghiên cứu cho thấy rằng axit folic có thể ảnh hưởng đến tính hiệu quả của thuốc methotrexate.

Methotrexate thường được sử dụng dưới dạng thuốc viên.  Các bệnh nhân nào cần liều lượng cao hơn có thể sử dụng dạng thuốc tiêm.  Methotrexate có ít tác hại nghiêm trọng hơn nhiều loại thuốc DMARD.  Mặc dù các tác dụng nghiêm trọng này hiếm khi xảy ra, nhưng chúng có thể là:

-      Tổn hại thận và gan.  Những người đặc biệt có nguy cơ bị tổn hại gan khi dùng thuốc methotrexate bao gồm các bệnh nhân tiểu đường, béo phì, và nghiện rượu.  Bệnh nhân nên hạn chế tiêu thụ các thức uống có cồn không quá 2 ly (chai) mỗi tháng trong khi đang sử dụng loại thuốc này.
-      Gia tăng nguy cơ bị các bệnh nhiễm trùng.  Methotrexate không nên sử dụng cho các bệnh nhân có các bệnh nhiễm khuẩn hoạt tính, nhiễm virut herpes-zoster hoạt tính, bệnh lao hoạt tính hoặc không hoạt tính, viêm gan B hoặc C mãn tính hoặc cấp tính.
-      Bệnh phổi xảy ra ở khoảng 5% số bệnh nhân.  Những người có chức năng phổi hoạt động kém thì có nhiều nguy cơ nhất.
-      Loại thuốc này làm gia tăng nguy cơ bị dị tật bẩm sinh và do đó các phụ nữ đang mang thai không nên sử dụng.  Tuy nhiên, methotrexate không ảnh hưởng đến cơ hội mang thai khỏe mạnh trong tương lai ở người phụ nữ.

Leflunomide.  Thuốc leflunomide (Arava) chặn các kháng thể tự miễn dịch và giảm viêm.  Nó cũng có thể ức chế chất metalloproteinases (MMP), có liên quan đến tình trạng hủy hoại sụn.

Thuốc leflunomide cần vài tuần để giúp cải thiện cơn đau và sưng ở khớp.  Sau 6-12 tuần điều trị thì mới có thể có được hiệu quả đầy đủ.

Thuốc leflunomide có thể được sử dụng riêng hoặc kết hợp với các thuốc DMARD khác chẳng hạn như methotrexate.  (Phương pháp điều trị kết hợp này sẽ tạo ra nguy cơ gây độc hại gan và vì thế đòi hỏi sự giám sát).

Các báo cáo về các tác dụng gây hại cũng tương tự như thuốc methotrexate.  Các trường hợp phổ biến bao gồm buồn nôn, tiêu chảy, rụng tóc, và phát ban.  Các tác dụng phụ nghiêm trọng có thể xảy ra bao gồm các bệnh nhiễm trùng và tổn thương gan.  Những người sử dụng thuốc leflunomide nên được giám sát thường xuyên, bao gồm các xét nghiệm máu kiểm tra chức năng hoạt động của gan, và bất cứ ai bị các chứng bệnh về gan đều không nên dùng loại thuốc này.  Các bệnh nhân có các bệnh nhiễm khuẩn hoạt tính, nhiễm virut herpes-zoster hoạt tính, bệnh lao hoạt tính hoặc không hoạt tính, hoặc viêm gan B, C mãn tính hoặc cấp tính không nên sử dụng thuốc leflunomide.

Hydroxychloroquine. Thuốc hydroxychloroquine (Plaquenil) trước đây được sử dụng để ngăn ngừa bệnh sốt rét và hiện nay cũng được sử dụng cho bệnh thấp khớp phát triển chậm và nhẹ.  Thuốc này bắt đầu cải thiện các triệu chứng trong vòng 1-2 tháng, nhưng có thể cần đến 6 tháng để có được hiệu quả đầy đủ.  Thuốc này xem ra cũng không làm chậm được tiến triển của bệnh.  Hydroxycholoroquine thường gây ra ít tác dụng phụ hơn các loại thuốc DMARD khác.  Các tác dụng phụ phổ biến nhất là buồn nôn và tiêu chảy, và các tác dụng phụ này thường được thuyên giảm theo thời gian hoặc khi uống thuốc trong khi ăn.  Các tác dụng phụ ít phổ biến hơn bao gồm phát ban ở da, bạc tóc hoặc thưa tóc. 

Thuốc này đã từng có liên quan đến các vấn đề về mắt và thị giác, nhưng với các liều lượng thấp hiện tại thì tác dụng phụ này hiếm khi xảy ra.  Nếu các vấn đề về thị lực có xảy ra, thường là ở bệnh nhân sử dụng liều quá cao, những người bị bệnh thận, hoặc những người trên 60 tuổi.  Tuy nhiên, các bệnh nhân nên đi kiểm tra mắt (bao gồm cả kiểm tra võng mạc) trong năm đầu tiên điều trị.  Các bệnh nhân có các nguy cơ mắc bệnh (bệnh gan, bệnh võng mạc, trên 60 tuổi) nên đi kiểm tra mắt hàng năm.  Các bệnh nhân nên thông báo cho bác sĩ biết nếu gặp phải bất kỳ sự thay đổi đột ngột nào về thị giác.

SulfasalazineSulfasalazine (Azulfidine) được sản xuất vào những năm 1930 để điều trị bệnh viêm thấp khớp, ít được ưa chuộng khi phương pháp điều trị bằng vàng xuất hiện.  Tuy nhiên, nó đã có lại được tính phổ biến, và hiện nay được sử dụng để điều trị cho bệnh viêm thấp khớp ở người lớn và trẻ em.  Thuốc có tác dụng tốt nhất khi chứng bệnh này bị hạn chế trong phạm vi các khớp.  Triệu chứng được thuyên giảm trong vòng 1 - 3 tháng.

Các tác dụng phụ thường phổ biến, đặc biệt là bị khó chịu ở bao tử và ruột, và thường xảy ra trong thời gian đầu điều trị.  (Tuy nhiên, thuốc sulfasalazine ít gây ra các tác dụng phụ về bao tử và đường ruột hơn, chẳng hạn như lở loét bao tử, so với các loại thuốc kháng viêm không steroid).  Dạng viên nén bọc đường có thể giúp hạ giảm các tác dụng phụ.  Các tác dụng phụ khác bao gồm phát ban ở da (ngứa ở da) và nhức đầu.  Thuốc sulfasalazine làm gia tăng tính nhạy cảm với ánh nắng.  Phải thoa (bôi) kem chống nắng (sunscreen), có chỉ số SPF 15 hoặc cao hơn, trong khi đang sử dụng loại thuốc này.  Những người bị tắc nghẽn đường ruột hoặc đường tiết niệu, hoặc những người bị dị ứng với các loại thuốc sulfa hoặc salicylate thì không nên sử dụng thuốc sulfasalazine.

Thuốc Chứa Vàng.  Thuốc chứa vàng từ lâu đã là một loại thuốc DMARD được sử dụng để điều trị bệnh viêm thấp khớp, mặc dù việc sử dụng vàng trong điều trị đã giảm xuống với sự xuất hiện của các loại thuốc hạ giảm bệnh và các loại thuốc sinh học.  Thuốc chứa vàng thường được sử dụng dưới dạng tiêm vì dạng uống bằng miệng, auranofin (Ridaura), có ít hiệu quả hơn.  Có hai dạng thuốc tiêm chứa vàng: Gold sodium thiomalate (Myochrysine) và aurothioglucose (Solganal).  Có thể cần đến 3-6 tháng để các dạng thuốc tiêm có hiệu lực đối với các triệu chứng của bệnh viêm thấp khớp.

Các dạng thuốc tiêm chứa vàng gây ra các chứng lở miệng đối với khoảng 1 phần 3 số bệnh nhân.  Các tác dụng phụ ở da bao gồm ngứa và phát ban, mà có thể trở nên nghiêm trọng ở một số bệnh nhân.  Các tác dụng phụ nghiêm trọng nhất của các loại thuốc tiêm chứa vàng (mặc dù hiếm thấy) là tình trạng tổn hại thận và giảm số lượng bạch cầu.  Các loại thuốc tiêm chứa vàng thường không được sử dụng cho các phụ nữ mang thai.  Người ta vẫn chưa xác định rõ thuốc chứa vàng có gây ra dị tật bẩm sinh không, nhưng các bác sĩ thường khuyến khích phụ nữ nên sử dụng thuốc ngừa thai trong khi đang dùng loại thuốc này. 

MinocyclineMinocycline (Minocin) là một loại thuốc kháng sinh nhóm tetracycline thường được dành cho các bệnh nhân bị bệnh viêm thấp khớp nhẹ.  Có thể cần đến 2-3 tháng thì các triệu chứng mới bắt đầu có dấu hiệu thuyên giảm và phải mất đến một năm mới có được hiệu quả đầy đủ.  Các tác dụng phụ bao gồm chứng khó tiêu, chóng mặt, và phát ban ở da.  Việc sử dụng dài hạn thuốc minocycline có thể gây ra các thay đổi về màu da, nhưng tác dụng phụ này thường biến mất sau khi ngưng sử dụng thuốc này.  Thuốc minocycline có thể gây ra tình trạng nhiễm trùng nấm (yeast infection) ở phụ nữ.  Các phụ nữ mang thai hoặc có kế hoạch mang thai không nên sử dụng loại thuốc này.  Minocycline sẽ làm gia tăng tính nhạy cảm với ánh sáng, vì thế bệnh nhân sẽ phải thoa (bôi) kem chống nắng.  Trong các trường hợp hiếm, minocycline có thể ảnh hưởng đến thận và gan.

AzathioprineAzathioprine (Imuran) ức chế chức năng hoạt động của hệ miễn dịch.  Cần 6-8 tuần để có được những cải thiện ban đầu của các triệu chứng và mất khoảng 12 tuần để có được hiệu quả hoàn toàn. Azathioprine có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng về đường ruột và bao tử.  Khoảng 10 – 15% số bệnh nhân gặp phải tình trạng buồn nôn và nôn mửa, thường đi kèm với đau bao tử và tiêu chảy.  (Uống loại thuốc này mỗi ngày hai lần, thay vì mỗi ngày một lần, hoặc uống sau khi ăn có thể giúp tránh được tình trạng này).  Azathioprine cũng có thể gây ra các vấn đề về chức năng hoạt động của gan và tình trạng viêm tuyến tụy (lá lách), cũng như có thể hạ giảm số lượng bạch cầu.

Cyclosporine.  Giống như azathioprine, cyclosporine (Sandimmune, Neoral) là một loại thuốc ức chế miễn dịch.  Nó được sử dụng cho những người mắc bệnh viêm thấp khớp, và những bệnh nhân này không có phản ứng với các loại thuốc khác.  Có thể cần đến 1 tuần để các triệu chứng thuyên giảm và mất 3 tháng mới có được hiệu quả hoàn toàn.  Các tác dụng phụ nghiêm trọng và phổ biến nhất của cyclosporine là cao huyết áp và các rối loạn chức năng thận.  Mặc dù chức năng thận thường được cải thiện sau khi ngưng dùng thuốc, nhưng tình trạng cao huyết áp nhẹ đến vừa phải có thể tiếp tục xảy ra.  Thuốc cyclosporine cũng có thể gây ra bệnh gút (thống phong) hoặc làm cho bệnh gút trầm trọng thêm ở những người đang có chứng bệnh này.

Các tác dụng phụ thông thường khác bao gồm nhức đầu, buồn nôn, nôn mửa, đau bao tử và khó tiêu, sưng bàn tay và bàn chân.  Khoảng 10% số bệnh nhân uống thuốc cyclosporine sẽ phát triển tình trạng cơ thể bị rung, mọc nhiều tóc, vọp bẻ, tê hoặc ngứa ran ở bàn tay và bàn chân (bệnh thoái hóa thần kinh).  Sưng nứu răng cũng phổ biến.  Bệnh nhân nên vệ sinh tốt răng miệng, bao gồm việc đánh răng và xỉa răng thường xuyên.

Thuốc Kích Thích Phản Ứng Sinh Học (DMARD sinh học)

Thuốc kích thích phản ứng sinh học (biologic response modifiers) là các loại thuốc được bào chế từ các tế bào sống.  Các loại thuốc này nhắm đến các bộ phận chuyên biệt của hệ miễn dịch, là các bộ phận góp phần gây ra tình trạng viêm và tổn hại khớp xuất hiện trong quá trình bệnh viêm thấp khớp.

Các loại thuốc kích thích phản ứng sinh học hiện được chấp thuận sử dụng bao gồm:

-      Etanercept (Enbrel).  Etanercept là một loại thuốc có tên là yếu tố hoại tử chống khối u (anti-tumor necrosis factor – anti-TNF).  Được chấp thuận vào năm 1988, etanercept là loại thuốc kích thích phản ứng sinh học đầu tiên được sử dụng để điều trị bệnh viêm thấp khớp.  Nó cũng được chấp thuận sử dụng cho bệnh viêm thấp khớp trẻ em và viêm khớp vẩy nến (psoriatic arthritis).
-      Infliximab (Remicade). Được chấp thuận vào năm 1999, infliximab cũng là một loại thuốc kháng TNF (anti-TNF drug).  Nó được sử dụng kết hợp với methotrexate.
-      Adalimumab (Humira). Adalimumab cũng là một loại thuốc kháng TNF.  Được chấp thuận đầu tiên vào năm 2002 là một phương pháp điều trị ưu tiên số 2 cho bệnh viêm thấp khớp, adalimumab lại được chấp thuận vào năm 2005 là một phương pháp trị liệu ưu tiên số 1 cho bệnh viêm thấp khớp và viêm khớp vẩy nến.  Thuốc này được sử dụng riêng hoặc kết hợp với thuốc methotrexate hoặc các thuốc DMARD khác.  Thuốc này cũng cho thấy các kết quả triển vọng trong các thử nghiệm lâm sàn đối với bệnh viêm thấp khớp trẻ em.
-      Anakinra (Kineret).  Được chấp thuận vào năm 2001, anakinra nhắm vào interleukin-1 (IL-1), một hợp chất miễn dịch khác.
-      Abatacept (Orencia).  Được chấp thuận vào năm 2005 cho những người thành niên mắc phải bệnh viêm thấp khớp vừa phải đến nghiêm trọng và không phản ứng với các loại thuốc DMARD hoặc thuốc kháng TNF.  Abatacept còn được gọi là tác nhân điều biến đồng kích thích tế bào T (T cell co-stimulation modulator).  Thuốc này ngăn chặn sự kích hoạt tế bào T.  Thuốc này được sử dụng riêng hoặc kết hợp với các loại thuốc DMARD bên cạnh các loại thuốc kháng TNF.
-      Rituximab (Rituxan).  Được chấp thuận vào năm 2006, rituximab nhắm vào các tế bào CD20-dương B và ngăn chặn hoạt động của các tế bào nay.  Thuốc này được sử dụng kết hợp với methotrexate cho các bệnh nhân bị viêm thấp khớp từ vừa phải đến nghiêm trọng nếu không có hiệu quả khi sử dụng các thuốc kháng TNF.

Một số loại thuốc này được sử dụng như các phương pháp điều trị đầu tiên cho bệnh viêm thấp khớp.  Các loại thuốc khác được sử dụng cho các bệnh nhân nếu không có hiệu quả khi sử dụng các loại thuốc DMARD hoặc các loại điều trị khác.  Tùy thuộc vào loại thuốc đặc trị, chúng có thể được sử dụng riêng hoặc kết hợp với thuốc methotrexate.  Tuy nhiên, các loại thuốc kích thích phản ứng sinh học không được dùng kết hợp với nhau, vì chúng có thể dẫn đến các tình trạng nhiễm trùng nghiêm trọng.

Giống như các loại thuốc trị viêm thấp khớp khác, các loại thuốc này không chữa khỏi được bệnh viêm thấp khớp nhưng có thể giúp làm chậm tiến trình bệnh và tình trạng hủy hoại khớp.  Trong các thử nghiệm lâm sàn gần đây, một số bệnh nhân được thuyên giảm khi sử dụng methotrexate kết hợp với infliximab, adalimumab, hoặc rituximab.

Các Tác Dụng Phụ và Các Biến Chứng.  Etanercept, adalimumab, và anaknra được tiêm cho bệnh nhân và có thể gây đau nhức ở khu vực được tiêm.  Để tránh các phản ứng do tiêm thuốc, thỉnh thoảng các bệnh nhân được trị liệu trước bằng thuốc methamphetamine, một loại thuốc corticosteroid, nhưng có nghiên cứu cho thấy rằng steroid không mấy hiệu quả.  Infliximab, abatacept và rituximab được truyền vào tĩnh mạch.  Các phản ứng phổ biến của việc truyền tĩnh mạch bao gồm nhức đầu, buồn nôn, và các triệu chứng giống cúm.  Bởi vì các loại thuốc kích thích phản ứng sinh học ảnh hưởng đến hệ miễn dịch, do đó các bệnh nhân sử dụng loại thuốc này sẽ có nhiều nguy cơ bị các bệnh nhiễm trùng.

Các loại thuốc DMARD sinh học không nên cho các bệnh nhân bị nhiễm khuẩn hoạt tính, nhiễm virut herpes-zoster hoạt tính, bệnh lao hoạt tính hay không hoạt tính, hoặc viêm gan B, C hoạt tính hoặc mãn tính sử dụng.  Ngoài ra, các loại thuốc kháng TNF (infliximab, etanercept, adalimumab) không nên cho các bệnh nhân có bệnh sử bị suy tim, u lym phô, đa xơ cứng hoặc các rối loạn hủy hoại myelin sử dụng.

Các nguy cơ khác liên quan đến các loại thuốc này bao gồm:

-      Các loại thuốc kháng TNF có liên quan đến nhiễm trùng máu, viêm phổi, bệnh lao, nhiễm khuẩn và các loại vi sinh vật có khả năng gây bệnh khác; ung thư da không thuộc loại melanoma, u lym phô, và các tình trạng ác tính khác; luput; suy tim; các rối loạn về máu (bao gồm chứng thiếu máu không tăng trưởng); bệnh vẩy nến ở lòng bàn tay và lòng bàn chân (palmoplantar psoriasis); bệnh phổi; và hủy hoại gan.
-      Thuốc anakinra có thể gây ra tình trạng giảm đột ngột các bạch huyết cầu (leukopenia) mà có thể làm gia tăng nguy cơ bị nhiễm trùng.
-      Thuốc abatacept nên được sử dụng cẩn thận ở các bệnh nhân bị rối loạn tắc nghẽn phổi mãn tính (chronic obstructive pulmonary disorder - COPD) vì nó có thể làm gia tăng nguy cơ bị các biến chứng về hô hấp.
-      Rituximab có liên quan đến các trường hợp của chứng bệnh não hiếm và gây tử vong được gọi là bệnh hoại não đa vùng nghiêm trọng (progressive multifocal leukoencephalopathy - PML).  Thuốc này có thể làm cho vi khuẩn viêm gan B tái hoạt động, nhiễm khuẩn, nhiễu loạn nhịp tim và các bệnh tim khác.

Các loại thuốc corticosteroid (Steroid)

Các loại thuốc corticosteroid có tác dụng nhanh để kiểm soát tình trạng viêm và đau nhức.  Tuy nhiên, sử dụng chúng dài hạn có thể có những tác dụng gây hại nghiêm trọng.  Tuy nhiên, các loại thuốc này thường được sử dụng dưới các điều kiện sau:

-      Các loại thuốc corticosteroid uống bằng miệng, chẳng hạn như prednisolone prednisone (Deltasone, Orasone), thường được dùng kết hợp với các loại thuốc DMARD, giúp gia tăng hiệu quả của các loại thuốc DMARD.
-      Các loại thuốc corticosteroid uống bằng miệng thỉnh thoảng được sử dụng cho bệnh viêm thấp khớp giai đoạn đầu đối với các bệnh nhân không có hiệu quả khi dùng các loại thuốc kháng viêm không steroid (Nonsteroidal Anti-Inflammatory Drugs - NSAIDs).  Thật vậy, các nghiên cứu cho thấy rằng các loại thuốc corticosteroid liều lượng thấp có thể làm giảm đáng kể tình trạng đau khớp khi nó được sử dụng đầu tiên cho bệnh nhân và được sử dụng trong vòng 2 năm.  (Ngay cả các loại thuốc corticosteroid uống bằng miệng liều lượng thấp cũng có các tác dụng gây hại lên mật độ xương, đường huyết, và trọng lượng cơ thể).
-      Liều lượng cao thuốc corticosteroid được dùng cho tình trạng đột phát của chứng viêm mạch (vasculitis) và các phản ứng thuốc nghiêm trọng.
-      Các loại thuốc corticosteroid cũng có thể được sử dụng trong thời kỳ mang thai để tránh tiếp xúc với các loại thuốc độc hại hơn.
-      Các loại thuốc corticosteroid dùng hàng ngày với liều lượng thấp cũng cần thiết đối với một số bệnh nhân để kiểm soát các triệu chứng của bệnh viêm thấp khớp.
-      Các loại thuốc corticosteroid thỉnh thoảng được tiêm trực tiếp vào các khớp để hạ giảm các cơn đau nhức đột phát khi chỉ có một hoặc vài khớp bị ảnh hưởng.  Các bác sĩ đề xuất không sử dụng quá 3 hoặc 4 lần tiêm thuốc vào một khớp nhất định trong một năm.  Phương pháp tiêm thuốc steroid vào các khớp có thể là một cách điều trị an toàn và hiệu quả cho bệnh viêm thấp khớp trẻ em và giảm bớt nhu cầu sử dụng thuốc uống bằng miệng.
-      Trị liệu liều lượng ngắn hạn corticosteroid (truyền thuốc qua tĩnh mạch) có thể có hiệu quả ngang bằng các loại thuốc DMARD.

Các tác dụng phụ của thuốc corticosteroid uống bằng miệng.  Các tác dụng phụ nghiêm trọng có liên quan đến việc sử dụng dài hạn các loại thuốc steroid uống bằng miệng.  (Liều lượng thấp có thể giảm bớt được nguy cơ này, nhưng không loại bỏ hẳn được các tác dụng phụ này).  Các loại thuốc có thể ngăn ngừa được chứng loãng xương (osteoporosis) bao gồm các thực phẩm chức năng canxi, hooc môn tuyến cận giáp (parathyroid hormones), hoặc nhóm thuốc bisphosphonate (chẳng hạn như alendronate, ibandronate, và risedronate).  Các tác dụng phụ khác bao gồm bệnh đục thủy tinh thể (cataract), bệnh tăng nhãn áp (glaucoma), bệnh tiểu đường, ứ chất lỏng, dễ bị nhiễm trùng, tăng cân, cao huyết áp, mao mạch bị giòn, viêm nang lông (acne), lông tóc mọc nhiều, hoại cơ, kinh nguyệt không đều đặn, dễ cáu gắt, bệnh mất ngủ, và đôi khi bị loạn tâm thần.  Nghiên cứu mới đây cho thấy rằng thuốc prednisone có thể làm gia tăng nguy cơ phát triển bệnh ung thư da không thuộc loại melanoma.

Ngưng Sử Dụng Dài Hạn Các Loại Thuốc Corticosteroid Uống Bằng Miệng.  Sử dụng dài hạn các loại thuốc steroid uống bằng miệng sẽ ức chế sự tiết ra các hooc môn steroid tự nhiên của các tuyến thượng thận.  Sau khi ngưng sử dụng các loại thuốc này, sự ức chế tuyến thượng thận này sẽ kéo dài và có thể làm cho cơ thể cần một thời gian để có được lại khả năng sản sinh các steroid tự nhiên.  Có một vài trường hợp tuyến thượng thận bị mất chức năng hoạt động bình thường một cách nghiêm trọng, mà tình trạng này xảy ra khi thay đổi từ thuốc steroid uống bằng miệng sang thuốc hít vào bằng mũi, mà trong các trường hợp hiếm đã dẫn đến tử vong.

Bệnh nhân không nên ngưng sử dụng thuốc steroid khi chưa tham khảo ý kiến với bác sĩ, và nếu ngưng sử dụng thuốc steroid, thì cần phải được giám sát.  Bệnh nhân nên thảo luận với bác sĩ về các biện pháp ngăn ngừa tình trạng tuyến thượng thận bị mất chức năng hoạt động bình thường trong thời gian ngưng sử dụng thuốc, đặc biệt trong những lúc căng thẳng, mà đó là lúc nguy cơ gia tăng.

Các Loại Thuốc Kháng Viêm Không Steroid (NSAIDs)

Hai phần 3 bệnh nhân cho rằng sự đau nhức chính là lý do để họ đi khám bác sĩ.  Các loại thuốc giảm đau phổ biến nhất cho bệnh viêm thấp khớp là thuốc kháng viêm không steroid.  Các thuốc này chặn các axit béo prostaglandin, mà các chất này làm giãn các mạch máu và gây ra tình trạng viêm cũng như đau nhức.  Có nhiều loại thuốc kháng viêm không steroid:

-      Các loại thuốc kháng viêm không steroid không cần toa bác sĩ bao gồm aspirin, ibuprofen (Motrin IB, Advil, Nuprin, Rufen), naproxen (Aleve), ketoprofen (Actron, Orudis KT).
-      Các loại thuốc kháng viêm không steroid cần toa bác sĩ bao gồm ibuprofen (Motrin), naproxen (Naprosyn, Anaprox), flurbiprofen (Ansaid), diclofenac (Voltaren), tolmetin (Tolectin), ketoprofen (Orudis, Oruvail), dexibuprofen (Seractil).  Vào năm 2004, một loại thuốc kháng viêm không steroid mới tên là meloxicam (Mobic) được chấp thuận sử dụng ở Hoa Kỳ để quản lý và điều trị bệnh viêm thấp khớp.

Các nghiên cứu cho thấy rằng thời gian tốt nhất để sử dụng thuốc kháng viêm không steroid có thể là sau bữa ăn tối và sau khi thức giấc.  Các triệu chứng của bệnh viêm thấp khớp gia tăng dần trong đêm, đạt đến mức nghiêm trọng nhất vào lúc thức giấc.  Dùng thuốc kháng viêm không steroid khi đang ăn có thể giảm bớt được tình trạng khó chịu bao tử, mặc dù rằng nó có thể làm chậm đi tác dụng giảm đau.

Sử dụng dài hạn và đều đặn các thuốc kháng viêm không steroid (ngoại trừ aspirin) có thể làm gia tăng nguy cơ bị nhồi máu cơ tim, đặc biệt là đối với những người bị bệnh tim.  Sử dụng dài hạn các thuốc kháng viêm không steroid còn là nguyên nhân phổ biến thứ nhì gây ra tình trạng lở loét và chảy máu bao tử và đường ruột.  Để giảm bớt các nguy cơ liên quan đến thuốc kháng viêm không steroid, hãy sử dụng liều lượng thấp nhất để giúp giảm đau.

Các tác dụng phụ khác của thuốc kháng viêm không steroid có thể bao gồm:

-      Khó tiêu
-      Buồn ngủ
-      Da bị vết bầm tím
-      Cao huyết áp
-      Ứ chất lỏng
-      Nhức đầu
-      Phát ban
-      Suy giảm chức năng thận

Các Loại Thuốc Ức Chế Men Đồng Phân COX-2 (Coxibs).  Các thuốc Coxib ức chế men gây viêm có tên COX-2.  Nhóm thuốc này ban đầu được xem là có tác dụng tương đương với các loại thuốc kháng viêm không steroid nhưng ít gây ra các khó chịu về đường ruột và bao tử.  Tuy nhiên, theo một số báo cáo về bệnh tim, phát ban ở da, và các tác hại khác, cơ quan FDA đã tái đánh giá các nguy cơ và lợi ích của nhóm thuốc này.  Việc này đã dẫn đến sự loại bỏ thuốc rofecoxib (Vioxx) và valdecoxib (Bextra) ra khỏi thị trường Hoa Kỳ.  Celecoxib (Celebrex) vẫn còn được bán trên thị trường, nhưng bệnh nhân nên hỏi bác sĩ xem loại thuốc này có thích hợp và an toàn cho họ không.  Vào năm 2006, cơ quan FDA đã chấp thuận cho sử dụng thuốc celecoxib để hạ giảm các triệu chứng của bệnh viêm thấp khớp trẻ em đối với các bệnh nhân từ 2 tuổi trở lên.

Các Phương Pháp Điều Trị Đang Được Điều Tra

Các Loại Thuốc Sinh Học.  Trong nhiều năm, phương pháp điều trị bằng thuốc đối với bệnh viêm thấp khớp tập trung can thiệp vào tế bào T.  Nghiên cứu mới hiện đang xem xét vai trò của các tế bào B, mà các tế bào này trở nên hoạt động quá tích cực đối với bệnh tự miễn dịch, và làm thế nào tình trạng gây thiếu hụt tế bào B có thể giúp giảm bớt được tiến trình bệnh.  Các lĩnh vực nghiên cứu tập trung bao gồm các tác nhân đối kháng thụ thể interleukin (interleukin receptor antagonists), các tác nhân này nhắm vào các protein cytokine có liên quan đến quá trình viêm.

Nhiều loại thuốc hiện đang được điều tra là các kháng thể đơn bào (MAbs), đây là các loại thuốc sinh học được thiết kế để nhắm vào các thụ thể chuyên biệt.  Các ứng viên thuốc sinh học có triển vọng trong giai đoạn cuối của cuộc nghiên cứu bao gồm tocilizumab (Actemra), golimumab, denosumab, ofatumumab, certolizumab, và baminercept.

Các loại thuốc statin.  Có nghiên cứu cho rằng các hợp chất bắt nguồn từ các thuốc statin (các loại thuốc hạ cholesterol được đánh giá cao) có thể ức chế được tình trạng viêm gây tổn hại đối với bệnh viêm thấp khớp.

Cấy tế bào gốc.  Các tế bào gốc là các phiên bản ban đầu của các tế bào máu trưởng thành chuyên biệt.  Các nhà nghiên cứu đang đưa ra các báo cáo rằng tiến trình cấy ghép các tế bào gốc hình thành tế bào máu được quyên tặng, mà sẽ phát triển thành các loại tế bào máu khác nhau, đã giúp hạ giảm chứng bệnh viêm thấp khớp trẻ em nghiêm trọng ở một vài trẻ em.  Tiến trình này rất có triển vọng ở các trường hợp được chọn lọc, nhưng nó có thể rất độc hại.  Cần thêm nhiều nghiên cứu để xác định các rủi ro và các lợi ích đối với các bệnh nhân viêm thấp khớp.

Tiến trình rút huyết tương.  Một dụng cụ gọi là ống Prosorba được sử dụng để lấy các kháng thể gây viêm từ máu bệnh nhân.  Các nghiên cứu quy mô nhỏ và ngắn hạn đã cho thấy rằng trị liệu này có thể làm chậm lại hoặc thậm chí có thể làm ngưng sự tiến triển của chứng bệnh ở 1 phần 3 hoặc một nửa số bệnh nhân.  Các tác dụng phụ từ ống Prosorba có thể bao gồm chứng thiếu máu, mệt mỏi, ngứa, sốt, hạ huyết áp, và buồn nôn.  Hầu như tất cả bệnh nhân đều gặp phải cơn đau khớp đột phát vừa phải mà có thể kéo dài vài ngày.  Một số bệnh nhân bị nhiễm trùng từ ống thông được dùng để lấy máu.  Cần có thêm các nghiên cứu mang tính dài hạn.