About

Saturday, February 28, 2015

BỆNH TIM MẠCH VÀNH (CORONARY HEART DISEASE) - Do LQT Biên Dịch


ĐIỀU TRỊ

Thay đổi lối sống là biện pháp phòng chống đầu tiên cho mọi mức độ của bệnh động mạch vành. Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng và tình trạng của từng cá nhân, bệnh nhân có thể cũng cần đến việc dùng thuốc, phẫu thuật, hoặc cả hai.

Có nhiều loại thuốc được sử dụng để điều trị chứng đau thắt ngực và bệnh động mạch vành.

Các Loại Thuốc Chặn Beta

Các loại thuốc chặn beta rất hữu hiệu trong việc ngăn ngừa các cơn đau thắt ngực và giúp làm giảm huyết áp. Chúng làm giảm nhu cầu về oxy của tim bằng cách làm chậm nhịp đập của tim và hạ giảm huyết áp. Các loại thuốc này được nhìn nhận có tác dụng làm giảm tỉ lệ tử vong do bệnh tim và do phẫu thuật tim, bao gồm phẫu thuật thông tim và bắc cầu mạch vành.

Thuốc chặn beta được sử dụng hoặc được khuyến khích sử dụng trong một số trường hợp sau:

-  Hầu hết bệnh nhân vừa bị nhồi máu cơ tim hoặc bị hội chứng mạch vành cấp tính.
-  Đây là các loại thuốc được chọn lựa cho những người cao tuổi mắc chứng đau thắt ngực ổn định và cũng có thể có lợi cho những người bị chứng thiếu máu cục bộ âm thầm. Tuy nhiên, các loại thuốc này ít hữu hiệu cho việc chữa trị chứng đau ngực Prinzmetal’s.
-  Các loại thuốc này được dùng riêng hoặc kết hợp với các loại thuốc khác để quản lý các tình trạng nhiễu loạn về nhịp tim hoặc cao huyết áp. 

Thuốc chặn beta đặc trị.  Thuốc chặn beta bao gồm
propranolol (Inderal), carvedilol (Coreg), bisoprolol (Zebeta), acebutolol (Sectral), atenolol (Tenormin), labetalol (Normodyne, Trandate), metoprolol (Lopressor, Toprol-XL), và esmolol (Brevibloc).  Một dạng thuốc propranolol xịt vào mũi xem ra rất hiệu quả trong việc làm giảm bớt các cơn đau thắt ngực do hoạt động thể dục gây ra.

Tác Dụng Phụ. Các tác dụng phụ của loại thuốc chặn beta bao gồm mệt mỏi, hôn mê, gặp ác mộng, trầm cảm, mất trí nhớ, và chóng mặt. Chúng có thể làm giảm mức cholesterol “tốt” HDL. Các loại thuốc chặn beta được phân loại không chọn lọc và chọn lọc. Các loại thuốc chặn beta không chọn lọc, ví dụ như carvedilol  propranolol, có thể làm thu hẹp phế quản. Các loại thuốc chặn beta này không nên dùng cho bệnh nhân mắc bệnh suyễn, khí thũng, hoặc viêm phế quản mãn tính. 

BỆNH NHÂN KHÔNG NÊN NGƯNG DÙNG CÁC LOẠI THUỐC NÀY MỘT CÁCH ĐỘT NGỘT. Việc ngưng dùng thuốc chặn beta một cách đột ngột có thể gia tăng nhanh chóng nhịp đập của tim và huyết áp. Bác sĩ có thể khuyên bệnh nhân nên giảm bớt dần dần liều lượng trước khi ngưng dùng thuốc hoàn toàn.

Thuốc Ức Chế Men Chuyển Hóa Angiotensin (ACE)

Thuốc ACE là các loại thuốc bảo vệ tim quan trọng, đặc biệt cho những người bị bệnh tiểu đường và cao máu. Chúng giúp giảm bớt sự sản xuất chất angiotensin, một chất hóa học làm cho động mạch bị thu hẹp, và vì thế được dùng để hạ huyết áp một cách phổ biến. Chúng cũng có thể làm giảm bớt nguy cơ bị nhồi máu cơ tim, đột quỵ (tai biến mạch máu não), các biến chứng của bệnh tiểu đường, và tử vong ở các bệnh nhân có nhiều nguy cơ mắc bệnh tim.

Thuốc ức chế ACE được chỉ định cho:

-  Các bệnh nhân bị bệnh động mạch vành và bệnh tiểu đường hoặc các bệnh nhân bị mất chức năng tâm thất trái (khi buồng tim chính không bơm máu theo đúng chức năng)
-  Có chứng cứ cho thấy hiệu quả khi kê toa các loại thuốc này cho đa số các bệnh nhân bị bệnh động mạch vành hoặc bất cứ bệnh tim mạch nào khác, như bệnh mạch ngoại biên.

Thuốc ức chế ACE bao gồm
captopril (Capoten), enalapril (Vasotec), quinapril (Accupril), benazepril (Lotensin), perindopril (Aceon), và lisinopril (Prinivil, Zestril).

Tác Dụng Phụ. Các tác dụng phụ của thuốc ức chế ACE thường không phổ biến nhưng có thể bao gồm một cơn ho gây khó chịu, huyết áp hạ xuống khá thấp, và bị dị ứng. Trong quá khứ, các bác sĩ thường tránh cho bệnh nhân uống aspirin chung với thuốc ức chế ACE vì sự kết hợp này có thể gây ra các vấn đề về thận. Nhưng, một nghiên cứu năm 2005 về các bệnh nhân bị mắc cả hai bệnh động mạch vành và suy tim đã tìm thấy rằng uống aspirin kết hợp với thuốc ức chế ACE là an toàn. Các nhà nghiên cứu cũng lưu ý rằng uống aspirin cùng với thuốc ức chế ACE có thể làm giảm một cách đáng kể nguy cơ tử vong ở các bệnh nhân cao tuổi bị bệnh động mạch vành và suy tim.

Các Loại Thuốc Nitrates

Nitrates được dùng để điều trị chứng đau thắt ngực trong hơn 100 năm nay. Các loại thuốc này tiết ra nitric oxide, do đó làm thư giãn cơ mềm trong các mạch máu. Các loại thuốc này được dùng chủ yếu để kiểm soát các triệu chứng đau thắt ngực. Có nhiều loại nitrate được sản xuất. Loại được dùng phổ biến nhất là nitroglycerin, isosorbide dinitrate, và isosorbide mononitrate. Nitrate có thể được hấp thụ từ đường tiêu hóa (viên nén uống bằng miệng), da (dầu bôi hoặc miếng dán), hoặc dưới lưỡi (viên nén ngậm dưới lưỡi hoặc thuốc phun). 

Artery: Động mạch
Tunica media: bao gồm các tế bào cơ trơn và sợi đàn hồi
Tunica intima: màng lót thành bên trong các mạch máu
Tunica adventitia: sợi tạo keo



 








Các Loại Thuốc Nitrate Có Tác Dụng Nhanh. Chúng được dùng để trị cơn đau tim cấp tính. Nitroglycerin được dùng rộng rãi nhất cho mục đích này. Nó có thể được ngậm dưới lưỡi (dưới lưỡi hay thuốc xịt) hoặc ngậm trên lưỡi và có thể làm giảm cơn đau thắt ngực trong vòng vài phút. Tiến trình dùng thuốc nitroglycerin khi gặp cơn đau như sau:

-  Lúc bắt đầu cơn đau thắt ngực, bệnh nhân ngậm một viên nén dưới lưỡi hoặc một liều thuốc xịt.
-  Nếu cơn đau không giảm bớt trong vòng 5 phút thì bệnh nhân dùng thêm liều thứ hai; liều thứ 3 có thể được sử dụng sau 5 phút nếu triệu chứng vẫn tiếp diễn.
-  Nếu cơn đau tiếp tục sau khi đã dùng 3 liều trong 15 phút, bệnh nhân nên đến phòng cấp cứu ngay lập tức.

Nitroglycerin rất dễ bay hơi, do đó thuốc dễ mất hiệu lực. Bệnh nhân nên lưu ý:

-  Mang theo khoảng dưới 100 viên thuốc, và bảo quản thuốc trong hộp thuốc nguyên thủy của nó.
-  Đầu tiên khi mở hộp thuốc, nên bỏ đi bông gòn trong đó, và vặn chặt nắp lại ngay sau khi dùng.
-  Nên giữ một ít thuốc ở bên cạnh để phòng khi cơn đau tim bộc phát, số còn lại bảo quản ở nơi khô ráo mát mẻ.

Các Loại Thuốc Nitrate có tác dụng vừa và dài hạn. Các viên isosorbide dinitrate ngậm dưới lưỡi có tác dụng phần nào chậm hơn nitroglycerin nhưng rất hiệu quả trong việc ngăn ngừa chứng đau thắt ngực do tập thể dục. Thuốc mỡ, miếng dán, và thuốc viên uống bằng miệng được dùng để ngăn ngừa dài hạn các cơn đau thắt ngực:

-  Các miếng dán trên da được dùng vào buổi sáng ở các khu vực không có lông hoặc không có vết thương ở trên ngực, lưng, bụng, đùi, hoặc bắp tay. Nên rửa tay sau khi bôi thuốc mỡ hoặc đắp miếng dán, và nên thay đổi luân phiên các vùng được đắp miếng dán hoặc bôi thuốc mỡ để tránh bị ngứa da.
-  Thuốc mỡ nitroglycerin được bôi lên một miếng giấy dán, rồi đắp lên ngực, bụng, hoặc đùi, không được chà xát hoặc mát xa. Các phần thuốc mỡ còn dính lại trên da trong lần bôi trước đây nên được làm sạch.

Các dạng có tác dụng dài hạn có thể làm mất hiệu lực của thuốc theo thời gian, vì thế các bác sĩ thường cho ngưng dùng thuốc nitrates một thời gian để tránh tình trạng lờn thuốc. Có một số lo ngại cho rằng các khoảng thời gian ngưng dùng thuốc nitrates có thể làm gia tăng nguy cơ bị đau thắt ngực và các tình trạng trở xấu của tim. Tuy nhiên, trong một cuộc nghiên cứu quy mô người ta đã tìm thấy rằng khi bệnh nhân dùng miếng dán nitroglycerine kết hợp với khoảng thời gian ngưng dùng nitrates đã không tạo ra sự nguy hiểm nào. Việc sử dụng thuốc ức chế ACE trị cao huyết áp có thể giúp ngăn ngừa tình trạng lờn thuốc nitrates.

Tác Dụng Phụ. Nitrates có thể có nhiều tác dụng phụ, một số tác phụ có thể rất nghiêm trọng.

Các tác dụng phụ phổ biến của thuốc nitrate bao gồm nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn và nôn mửa, mắt bị nhòa, tim đập nhanh, chảy mồ hôi, và bị ửng đỏ trên mặt và cổ. Nằm đưa hai chân lên có thể giúp hạ huyết áp và làm giảm bớt tình trạng chóng mặt. Các tác dụng phụ này càng trở xấu hơn khi sử dụng rượu bia, thuốc chặn beta, thuốc chặn kênh canxi, sildenafil (Viagra), và một số thuốc trị trầm cảm. Bác sĩ có thể cho các toa thuốc giúp giảm bớt các tác dụng phụ này. Bệnh nhân nên liên lạc với bác sĩ nếu các tác dụng phụ này vẫn tiếp tục hoặc trở nên nghiêm trọng.

Các tác dụng phụ nghiêm trọng cần được điều trị ngay bao gồm sốt, đau khớp và đau ngực, đau họng, ngứa ở da (đặc biệt ở mặt), bị chảy máu hoặc bị vết thâm tím một cách bất thường, lên cân, và sưng mắt cá chân.

Ngưng Sử Dụng Thuốc. Ngưng sử dụng thuốc nitrates nên được tiến hành từng bước. Việc ngưng sử dụng thuốc đột ngột có thể gây ra cơn đau thắt ngực.

Các loại thuốc chặn kênh canxi (CCBs)

Các loại thuốc chặn kênh canxi làm giảm nhịp đập của tim và làm giãn nở các mạch máu ở tim, do đó làm giảm nhu cầu về oxygen, vì thế làm gia tăng nguồn cung cấp oxygen. Chúng cũng làm giảm huyết áp. Tuy nhiên, các loại thuốc chặn canxi có tính chất hóa học khác nhau, và mặc dù một số loại thuốc tỏ ra hiệu quả, nhưng các loại khác có thể rất nguy hiểm cho một số bệnh nhân bị đau thắt ngực.



Right coronary artery: Động mạch vành phải
Left coronary artery: Động mạch vành trái
Anterior interventricular artery: Động mạch gian tâm thất trước


Các động mạch vành có nhiệm vụ cung cấp máu cho cơ tim. Động mạch vành phải cung cấp máu cho cả hai bên của tim; động mạch vành trái cung cấp máu cho nửa bên trái của tim. 

 

Nifedipine (Adalat, Procardia) và nisoldipine (Sular) có tác dụng dài hạn và các loại thuốc chặn kênh canxi mới, như amlodipine (Norvasc) và nicardipine (Cardene), có thể có hiệu quả cho các bệnh nhân bị đau thắt ngực. Chúng có thể được chỉ định dùng riêng cho bệnh nhân không thích hợp dùng thuốc chặn beta, nhưng có thể có hiệu quả tốt nhất khi dùng kết hợp với một loại thuốc chặn beta. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng các loại thuốc này giúp giảm bớt nhu cầu phẫu thuật đặt ống thông. Các tác dụng phụ của chúng bao gồm tỉ lệ tử vong và nhồi máu cơ tim thì chưa được biết rõ ràng.
-  Các loại thuốc chặn kênh canxi có tác dụng ngắn hạn, bao gồm các dạng có tác dụng ngắn hạn như 
verapamil, diltiazem, nifedipine, và nicardipine, rất hiệu quả cho nhiều bệnh nhân bị chứng đau thắt ngực Prinzmetal. Tuy nhiên, các dạng thuốc chặn kênh canxi (CCBs) có tác dụng ngắn hạn, như nifedipine và nisoldipine, có liên quan đến các tác dụng phụ nghiêm trọng và nguy hiểm, bao gồm gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột tử ở một số bệnh nhân bị đau thắt ngực không ổn định. Chúng cũng làm gia tăng nguy cơ bị các tác dụng phụ nguy hiểm ở các bệnh nhân bị chứng đau thắt ngực ổn định. Do đó, các loại thuốc chặn kênh canxi có tác dụng ngắn hạn không được dùng cho bệnh nhân bị chứng đau thắt ngực ổn định và không ổn định.

Chưa có chứng cứ rõ rằng nào cho rằng các loại thuốc chặn kênh canxi cải thiện tỉ lệ sống sót. Sử dụng thuốc quá liều có thể gây ra tình trạng huyết áp xuống thấp một cách nguy hiểm và tim đập chậm. Các bệnh nhân bị suy tim có nguy cơ tử vong cao hơn khi dùng các loại thuốc này, do đó không nên sử dụng chúng. Bệnh nhân sử dụng thuốc chặn kênh canxi không nên ngưng dùng thuốc một cách đột ngột vì làm như vậy có thể làm tăng huyết áp một cách nguy hiểm. Lưu ý: Bưởi và Cam Seville tăng cường tác dụng cho thuốc chặn kênh canxi, thỉnh thoảng tăng đến mức độc hại. (Các loại cam thông thường xem ra không tạo ra nguy cơ nào).

Các Loại Thuốc Khác

Ranolazine (Ranexa) được chấp thuận vào năm 2006 để điều trị chứng đau thắt ngực mãn tính. Thuốc này được khuyến khích sử dụng cho các bệnh nhân khi dùng các loại thuốc trị đau thắt ngực không có hiệu quả. Ranolazine được sử dụng kết hợp với amlodipine, thuốc chặn beta, hoặc các loại thuốc nitrate. Thuốc này xem ra có tác dụng tốt đối với đàn ông hơn so với phụ nữ.

Các loại thuốc đang được thử nghiệm

Trị Liệu Gen và Sự Tạo Mạch. Các protein tăng trưởng đang được xem xét về khả năng tạo ra mạch máu mới để cung cấp oxy cho tim. Sau một vài thử nghiệm nhỏ đầy hứa hẹn, hai nghiên cứu lớn về dạng công nghệ di truyền về yếu tố tăng trưởng của nội mô mạch (vascular endothelial) (VEGF) và yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi (xơ sụn) [FGF (GenerX)] đã không thành công trong việc tìm ra các lợi ích. Các nghiên cứu về trị liệu mà thực sự áp dụng việc mã hóa gen các loại protein này hiện đang được thực hiện.