About

Saturday, February 28, 2015

BỆNH TIM MẠCH VÀNH (CORONARY HEART DISEASE) - Do LQT Biên Dịch


NGĂN NGỪA

Việc ngăn ngừa bệnh tim được xem là quan trọng trước và sau khi bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh tim. Biện pháp ngăn ngừa đầu tiên là làm giảm bớt nguy cơ mắc bệnh tim ở mọi người. Biện pháp ngăn ngừa thứ hai là làm giảm bớt nguy cơ tiến triển của bệnh tim ở bệnh nhân đã được chẩn đoán mắc bệnh tim. Có rất nhiều biện pháp tương tự hoặc giống như biện pháp ngăn ngừa đầu tiên.

Các biện pháp ngăn ngừa quan trọng bao gồm:

-  Tất cả các bệnh nhân nên ngưng hút thuốc
-  Duy trì cholesterol ở mức hợp lý bằng cách thực hiện chế độ ăn kiêng giúp tim khỏe mạnh, tập thể dục, và uống thuốc
-  Duy trì huyết áp ở mức hợp lý
-  Duy trì lối sống tích cực vận động
-  Sử dụng các loại thuốc hủy tiểu cầu
-  Chăm sóc và quản lý bệnh tiểu đường và bệnh thận khi mắc phải

Ngưng Hút Thuốc

Bác sĩ sẽ hỏi bạn về thói quen hút thuốc của bạn mỗi khi bạn đi khám bệnh. Hút thuốc là một thói quen mãn tính và thường đòi hỏi lập lại trị liệu sử dụng nhiều biện pháp.

Các Rối Loạn Về Cholesterol và Lipid

Tất cả các bệnh nhân nên bắt đầu theo đuổi một chế độ ăn uống giúp tim khỏe mạnh và tập thể dục thường xuyên sau khi đã tham khảo chuyện với bác sĩ. 


Quitting smoking, a healthy diet and exercise may reduce your risk of heart disease: Bỏ thuốc lá, chế độ ăn uống lành mạnh và tập thể dục có thể làm giảm bớt nguy cơ mắc bệnh tim

Plaque in coronary artery: Vữa trong động mạch vành


Chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục thường xuyên, và bỏ hút thuốc có thể ngăn ngừa bệnh tim. Hãy làm theo các đề xuất của bác sĩ cho việc trị liệu và ngăn ngừa bệnh tim.
 

Statin là các loại thuốc được sử dụng chính cho việc hạ giảm hàm lượng cholesterol “xấu” LDL.  Đối với các bệnh nhân KHÔNG mắc bệnh tim, bác sĩ sẽ bắt đầu hoặc xem xét việc điều trị bằng thuốc, gia tăng liều lượng thuốc, hoặc thêm vào loại thuốc mới khi: 

-  Hàm lượng cholesterol “xấu” LDL ở mức 190 mg/dL hoặc cao hơn.
-  Hàm lượng cholesterol “xấu” LDL ở mức 160 mg/dL hoặc cao hơn và bệnh nhân có một yếu tố gây nguy cơ mắc bệnh tim.
-  Hàm lượng cholesterol “xấu” LDL ở mức 130 mg/dL hoặc cao hơn và bệnh nhân bị bệnh tiểu đường cũng như các yếu tố gây nguy cơ mắc bệnh tim khác.
-  Hàm lượng cholesterol “xấu” LDL ở mức 100 mg/dL hoặc cao hơn và bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường. Ngay cả khi không mắc bệnh tiểu đường, việc điều trị bằng thuốc có thể được xem xét khi hàm lượng cholesterol “xấu” LDL ở mức 100 mg/dL.

Đối với các bệnh nhân mắc bệnh tim, bác sĩ sẽ bắt đầu hoặc xem xét việc điều trị bằng thuốc, gia tăng liều lượng thuốc, hoặc thêm vào loại thuốc mới khi:

-  Hàm lượng cholesterol “xấu” ở mức 100 mg/dL hoặc cao hơn.
-  Hàm lượng cholesterol “xấu” cao hơn 70 mg/dL. Theo các chỉ dẫn áp dụng trên toàn quốc, bệnh nhân có mức cholesterol “xấu” giữa 70 – 100 mg/dL thì không cần phải được điều trị nhưng nên được xem xét một cách hợp lý. Điều này có thể đúng đặc biệt đối với các bệnh nhân gần đây bị nhồi máu cơ tim hoặc bị bệnh tim cùng với bệnh tiểu đường, hiện tại đang có thói quen hút thuốc, bị cao huyết áp, hoặc hội chứng rối loạn chuyển hóa (cao triglycerides, hàm lượng cholesterol “tốt” thấp, và béo phì).

Statins là các loại thuốc hạ cholesterol quan trọng nhất. Các nhãn hiệu bao gồm 
lovastatin (Mevacor), pravastatin (Pravachol), simvastatin(Zocor), 
fluvastatin (Lescol), atorvastatin (Lipitor), và rosuvastatin (Crestor). Một sự phân tích quy mô trên 200 cuộc nghiên cứu đã tìm thấy rằng các loại thuốc statins giúp làm giảm nguy cơ bệnh tim khoảng 60% và đột quỵ khoảng 17%.


Normal interior view of artery: Hình chụp bên trong một động mạch ở tình trạng bình thường
Red blood cell: Hồng huyết cầu (tế bào máu đỏ)


Cholesterol là một chất giống sáp và mềm hiện diện ở tất cả các bộ phận của cơ thể bao gồm hệ thống thần kinh, da, cơ, gan, ruột, và tim. Nó được tạo ra bởi cơ thể và từ các sản phẩm gia súc trong bữa ăn. Cholesterol được sản xuất trong gan và rất cần thiết cho các chức năng hoạt động bình thường của cơ thể bao gồm việc sản sinh hooc môn, axit mật, và vitamin D. Hàm lượng cholesterol quá nhiều trong máu góp phần gây ra chứng xơ vữa động mạch và do đó gây ra bệnh tim. Nguy cơ phát triển bệnh tim hoặc xơ vữa động mạch gia tăng khi hàm lượng cholesterol trong máu gia tăng.

Quản Lý Huyết Áp Cao

Giữ cho Huyết Áp ở Mức Thấp. Những người có sức khỏe bình thường có chỉ số huyết áp là 120/80 mm Hg hoặc thấp hơn. Theo các chỉ dẫn mới nhất, chỉ số huyết áp 120/80 được xem là bình thường, chỉ số 140/90 hoặc cao hơn được xem là cao máu, và các chỉ số nằm giữa hai chỉ số trên được gọi là tiền cao máu. Các bệnh nhân bị tiểu đường hoặc bệnh thận mãn tính nên duy trì huyết áp ở mức 130/80 mm Hg hoặc thấp hơn, còn những người khác thì không nên có mức huyết áp cao hơn 140/90 mm Hg.

Tùy thuộc vào mức huyết áp và sự hiện diện của các yếu tố gây bệnh tim hoặc bệnh động mạch vành, bệnh nhân có thể được đề nghị thay đổi lối sống hoặc bắt đầu điều trị bằng thuốc ngay. Một số loại thuốc được dùng để trị bệnh động mạch vành cũng có tác dụng làm giảm huyết áp.

Bệnh Tiểu Đường

Tất cả bệnh nhân bị tiểu đường nên được quản lý bệnh chặt chẽ. Mục tiêu là làm cho mức HbA1c xuống tới khoảng 7%.

Chế Độ Ăn Uống Lành Mạnh Cho Tim

Các hướng dẫn mới đây của Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ đề xuất:

-  Quân bình lượng calo đưa vào cơ thể và hoạt động thể chất để đạt được hoặc duy trì cân nặng khỏe mạnh cho cơ thể. (Kiểm soát cân nặng, bỏ hút thuốc, và tập thể dục thường xuyên, cùng với chế độ ăn kiêng là rất cần thiết. Cố gắng tập thể dục ít nhất 30 phút mỗi ngày, tốt nhất là tập từ 60 đến 90 phút).
-  Tiêu thụ nhiều loại rau quả trong bữa ăn. Các loại rau quả có màu đậm (như rau bina, cà rốt, đào, và dâu tây) đặc biệt được khuyến khích tiêu thụ vì chúng có hàm lượng vi dinh dưỡng cao nhất.
-  Chọn các thực phẩm nguyên hạt (whole-grain), giàu chất xơ. Các loại này bao gồm trái cây, rau, và rau đậu (các loại đậu). Các thực phẩm nguyên hạt tốt bao gồm lúa mì nguyên hạt, bột yến mạch, lúa mạch đen, lúa mạch, gạo nâu, kiều mạch, lúa mạch trung đông, hạt kê, và hạt quinoa.
-  Tiêu thụ cá, đặc biệt cá có tinh dầu, ít nhất một tuần 2 lần (khoảng 8 ounces/tuần hay 227 g/tuần). Cá có tinh dầu như cá hồi, cá thu, và cá sardines rất giàu axit béo omega-3 có tên axit eicosapentaenoic (EPA) và axit docosahexaenoic (DHA). Tiêu thụ các loại axit béo này giúp giảm nguy cơ đột tử và tử vong do bệnh động mạch vành. Phụ nữ có bệnh tim nên dùng thực phẩm chức năng dầu cá có chứa 850 đến 1000 mg axit eicosapentaenoic (EPA) và axit docosahexaenoic (DPA).
HẠN CHẾ tiêu thụ mỡ bão hòa hàng ngày (tìm thấy phần lớn ở các sản phẩm gia súc) tới dưới 7% trong tổng số calo, mỡ không bão hòa (tìm thấy trong mỡ được hydro hóa, các sản phẩm nướng bằng lò công nghiệp, và nhiều loại thức ăn nhanh) tới dưới 1% trong tổng số calo, và cholesterol (tìm thấy trong trứng, sản phẩm sữa, thịt, thịt gia cầm, cá, và các động vật biển có vỏ) tới dưới 300 mg mỗi ngày. Hãy chọn thịt nạt và các loại rau quả (như đậu nành). Hãy chọn các sản phẩm làm từ sữa (dairy product) không có chất béo hoặc có ít chất béo. Hãy nướng vĩ, đút lò, hoặc nướng lò cá, thịt, và thịt gia cầm bỏ da.
-  Dùng ít hoặc không dùng muối để nêm thức ăn. Giảm bớt muối có thể hạ được huyết áp và làm giảm nguy cơ phát bệnh tim và suy tim.
-  Hạn chế các loại nước giải khát và thực phẩm có chứa thêm đường (xi-ro bắp, đường sucrose, glucose, fructose, maltrose, dextrose, nước ép trái cây đậm đặc, và mật ong.)
-  Nếu bạn uống rượu, hãy uống vừa phải. Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ đề xuất uống 2 ly mỗi ngày cho đàn ông và 1 ly mỗi ngày cho phụ nữ.

Giảm Cân

Mọi người nên đặt mục tiêu để đạt được chỉ số phần trăm mỡ và khối lượng cơ thể (BMI index) trong khoảng 18.5 – 24.9. Việc giảm cân được khuyến khích đối với những người béo phì có huyết áp cao, cao cholesterol, hội chứng chuyển hóa, hoặc tiểu đường.



Một số bệnh nhân béo phì mắc bệnh động mạch vành có thể nên xem xét phương pháp giải phẫu giảm cân (giải phẫu bắt cầu bao tử) để giảm bớt cân thừa. Việc giảm cân sau khi giải phẫu có thể giúp cải thiện huyết áp, cholesterol, hàm lượng đường trong máu và các yếu tố khác có liên quan đến bệnh động mạch vành.

Tập Thể Dục và Phục Hồi Chức Năng Tim

Những người có sức khỏe bình thường nên tham gia vào các hoạt động thể dục nhẹ, ít nhất là từ 30 đến 60 phút mỗi ngày trong tuần.

Tập thể dục vừa phải hoặc nhiều (đi tản bộ, hoặc đi bộ nhanh 12 dặm hoặc 19 km một tuần) cũng có thể tạo ra các thay đổi có lợi cho hàm lượng cholesterol và mỡ. Tuy nhiên, tập thể dục căng thẳng được yêu cầu để thay đổi đáng kể mức cholesterol, đáng chú ý là sự gia tăng cholesterol “tốt” HDL. Những người thừa cân mà gặp khó khăn trong việc giảm cân vẫn có thể đạt được những lợi ích đáng kể giúp cho tim khỏe mạnh bằng việc tập thể dục. Tập tạ cũng có liên quan đến việc bảo vệ tim. Các bài tập thể dục rèn luyện hoặc làm gia tăng cơ ngực có thể rất quan trọng cho các bệnh nhân bị đau thắt ngực.


Không đủ máu truyền đến cơ tim từ các động mạch vành bị hẹp có thể gây đau thắt ngực (đau ngực).

Plaque in coronary artery: mảng vữa trong động mạch vành

Đau thắt ngực là một loại đau ngực đặc thù vì không đủ máu lưu thông trong các mạch máu (mạch vành) của cơ tim (mô cơ tim).


 


Một số nghiên cứu cho thấy rằng, để có thể bảo vệ tốt nhất cho tim, thời gian dành cho mỗi lần tập thể dục không quan trọng, nhưng quan trọng là tổng số năng lượng đã tiêu hao. Do đó, cách tốt nhất để tập thể dục có thể là tập nhiều bài tập ngắn nhưng tập nặng, điều này có thể đặc biệt có lợi cho những người cao tuổi.

Hoạt động mang tính thể dục có tính căng thẳng và đột ngột (như xúc tuyết và cắt cỏ) làm cho nhiều người gặp nguy cơ bị đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim. Các hoạt động bao gồm việc nâng vật qua khỏi đầu cũng có nguy cơ. Bệnh nhân bị đau thắt ngực không bao giờ nên tập thể dục ngay sau khi ăn. Những người có nguy cơ bị bệnh tim nên được đánh giá bởi nhân viên y tế chuyên môn để xem có thể tham gia hoạt động thể dục không và nên có một sự hướng dẫn thể dục chi tiết. Và tất cả mọi người, bao gồm các cá nhân khỏe mạnh, nên lắng nghe một cách cẩn thận cơ thể của mình để tìm ra các dấu hiệu bất thường khi tập thể dục.

Chích Ngừa Cúm

Chích ngừa cúm. Bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành được xem là có nhiều nguy cơ bị các biến chứng cúm. Những người mắc bệnh động mạch vành nên chích ngừa cúm hàng năm. Bằng chứng cho thấy chích ngừa cúm giúp bảo vệ biến chứng nguy hiểm của bệnh tim (bao gồm sau khi phẫu thuật tim), đột quỵ, và tử vong từ tất cả các nguyên nhân ở người cao tuổi. Tuy vậy, các nghiên cứu cho thấy rằng chỉ có 2 phần 3 những người có nguy cơ mắc bệnh được tiêm chủng, phần lớn vì lo sợ tiêm chủng không có hiệu quả hoặc bị các tác dụng phụ.

Thuốc Hủy Tiểu Huyết Cầu và Kháng Đông

Các loại thuốc hủy tiểu huyết cầu mà có tác dụng ngăn chặn hoặc phá vỡ các khối máu nghẽn được sử dụng ở từng giai đoạn của bệnh tim. Chúng thường được phân loại là thuốc hủy tiểu cầu hay thuốc kháng đông. Tất cả các liệu pháp chống tắc nghẽn đều kèm theo nguy cơ xuất huyết, mà có thể dẫn đến các tình trạng nguy hiểm, bao gồm đột quỵ

 



Embolism: clot that travels from site where it was formed: khối máu nghẽn: khối máu đông di chuyển từ nơi nó được hình thành

Thrombus: blood clot that forms in a vessel: cục máu nghẽn hình thành trong mạch máu.


Một khối máu đông là một khối máu hình thành trong mạch máu và cư trú ở đó. Một khối máu nghẽn là một khối máu di chuyển từ nơi nó hình thành đến một vị trí khác trong cơ thể. Máu đông và máu nghẽn có thể cư trú trong mạch máu và ngăn cản sự lưu thông máu ở vị trí đó làm cho các mô bị mất đi nguồn cung cấp máu và oxy. Điều này có thể dẫn đến tổn thương, hủy hoại, và thậm chí hoại tử các mô tế bào ở khu vực đó.

Aspirin Thuốc Aspirin được biết đến là một loại thuốc kháng viêm không steroid (NSAID). Nó ngăn chặn tiểu huyết cầu kết dính với nhau để hình thành các khối máu đông (tiểu huyết cầu là nguyên nhân chính gây tắc nghẽn). Một liều lượng thấp thuốc aspirin uống hàng ngày (75 – 162 mg) thường là chọn lựa đầu tiên để ngăn chặn bệnh tim ở những người có nhiều nguy cơ mắc bệnh này. Aspirin có thể ngăn chặn khoảng 25 – 50% nguy cơ bị nhồi máu cơ tim và tử vong ở những người đang mắc bệnh tim và có bệnh sử về nhồi máu cơ tim. Nó cũng giúp làm giảm nguy cơ bị đột quỵ. Theo một báo cáo đánh giá năm 2006, aspirin có tác dụng đối với đàn ông và phụ nữ khá giống nhau.

Aspirin được khuyến khích sử dụng cho việc ngăn ngừa bệnh tim đối với các nhóm người sau:

-  Người thành niên hiện tại không mắc bệnh động mạch vành mà được xem là có nguy cơ mắc bệnh
-  Tất cả bệnh nhân mắc bệnh tim mạch (bệnh động mạch vành, đột quỵ, bệnh động mạch ngoại biên)

Tác dụng phụ từ việc sử dụng thuốc aspirin dài hạn có thể bao gồm loét bao tử và xuất huyết. (Cũng có một nguy cơ tương đối cao bị đột quỵ do xuất huyết, mặc dù không phổ biến lắm. Ngoài ra, nguy cơ này có thể không quan trọng bằng việc bảo vệ chống lại loại đột quỵ phổ biến hơn, loại này do tình trạng nghẽn động mạch gây ra).


Stomach: Bao tử

Peptic ulcers may lead to bleeding, perforation, or other emergencies: Loét bao tử có thể dẫn đến tình trạng xuất huyết, lủng lỗ, hoặc các tình trạng nguy cấp khác.


Loét bao tử có thể dẫn đến các tình trạng nguy kịch. Đau bụng dữ dội cộng với xuất huyết hoặc không có xuất huyết có thể cho thấy lỗ thủng của phần loét trong bao tử hoặc tá tràng. Trường hợp nôn mửa ra một chất giống như bột cà phê, hoặc phân có màu đen như hắc ín, có thể cho thấy bị xuất huyết nghiêm trọng.


Clopidogrel. 
Clopidogrel (Plavix) là một loại thuốc hủy tiểu cầu thuộc nhóm thienopyridine. Đối với đa số bệnh nhân, việc sử dụng Clopidogrel kết hợp với aspirin để ngăn ngừa bệnh tim là không được khuyến khích, vì nó không mang lại lợi ích quan trọng nào, quá tốn kém, và làm gia tăng nguy cơ bị xuất huyết. Nó có thể dùng thay thế cho aspirin đối với các bệnh nhân bị dị ứng với aspirin hoặc cơ thể bài kháng aspirin. Khi uống chung với aspirin, clopidogrel được khuyến khích cho các bệnh nhân mắc phải hội chứng mạch vành cấp tính (đau thắt ngực không ổn định hoặc có các dấu hiệu ban đầu của nhồi máu cơ tim) hoặc các bệnh nhân có gắn stent dẫn thuốc. Theo một báo cáo năm 2007 của Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ, các bệnh nhân có gắn stent dẫn thuốc phải sử dụng cả aspirin  và thienopyridine (là nhóm thuốc hủy tiểu cầu ức chế ADP receptor/P2Y12, và clopidogrel thuộc nhóm thuốc này) trong ít nhất một năm sau khi gắn stent.



Location Markers: Dấu mốc vị trí

Inflated Balloon with Drug Coated Stent: Bong bóng được bơm phồng trong ống Stent có bọc thuốc

Stent Delivery Catheter: Ống thông dẫn truyền

An example of a drug-eluting stent. (Một ví dụ về ống stent dẫn thuốc)


Clopidogrel cũng được khuyến khích cho những bệnh nhân đang thực hiện phẫu thuật đặt ống thông mạch (angioplasty). Đối với các bệnh nhân chuẩn bị làm phẫu thuật bắc cầu mạch vành (coronary bypass surgery), nên ngưng dùng thuốc ít nhất từ 5 đến 7 ngày trước khi tiến hành phẫu thuật vì nguy cơ xuất huyết nghiêm trọng. Các nhà nghiên cứu đang tiến hành kiểm tra xem việc dùng kết hợp clopidogrel và aspirin có hiệu quả hơn là chỉ dùng riêng aspirin để làm giảm những nguy cơ xuất hiện sau khi thực hiện phẫu thuật bắc cầu mạch vành không.

Balloon Angioplasty (Phẫu Thuật Đặt Ống Thông Bong Bóng)

Artery: Động mạch
Plaque: Mảng vữa
Balloon catheter: Ống dẫn gắn bong bóng
Inflated balloon: Bong bóng được bơm phồng lên
Compressed plaque: Mảng vữa bị đè nén vào thành động mạch


 













Warfarin và Thuốc Kháng Đông. Thuốc kháng đông là các loại thuốc ngăn ngừa hoặc làm trì hoãn tiến trình đông máu và hình thành các khối máu đông. Warfarin (Coumadin) là một loại thuốc kháng đông uống bằng miệng. Nó giúp ngăn ngừa các khối máu đông bằng cách ức chế vitamin K. Warfarin được dùng cho các bệnh nhân có gắn van tim nhân tạo và dùng để ngăn ngừa máu đông ở các bệnh nhân mắc chứng rung tâm nhĩ (atrial fibrillation). Trị liệu bằng warfarin có nguy cơ bị xuất huyết, và tiến trình đông máu phải được theo dõi thường xuyên bằng các cuộc xét nghiệm máu. Một phần ba dân số (do di truyền) có nguy cơ xuất huyết khi dùng warfarin. Vào năm 2007, Cơ Quan Quản Lý Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ đã chấp thuận cho sử dụng xét nghiệm về di truyền để giúp các bác sĩ xác định xem bệnh nhân nào có thể đặc biệt nhạy cảm với loại thuốc này.